bài viết mới

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân

 

Hé lộ: Vì sao Đức Phật không hiện thân và điều cuối cùng khiến bạn bất ngờ nhất

Thường những người chỉ mới nghe qua và chưa tìm hiểu sâu sắc sẽ tự hỏi: Vì sao Đức Phật không hiện thân? Nhất là khi họ gặp khó khăn, cần có ai đó có sức mạnh thần kỳ để cứu rỗi cuộc đời mình.

Những người theo "trường phái" có thấy mấy tin sẽ thường muốn nhìn thấy một vật, hình ảnh cụ thể bằng mắt thường thì họ mới tin rằng có thật. Vì thế, không lạ gì khi tìm hiểu về lời Phật dạy có không ít người thắc mắc: Vì sao Đức Phật không hiện thân? 

Và đây là một số lý do dưới góc nhìn được giải thích theo quan niệm của Phật giáo để trả lời cho câu hỏi trên các bạn có thể tham khảo:
 

Chỉ khiến Phật tử động tâm


Dù không còn trên cõi Ta bà này nữa nhưng điều mà Đức Phật để lại cho chúng ta đó là kho tàng kiến thức của Ngài và tất cả chúng đều chỉ với cùng mục đích đó là giúp ta có thể tìm ra con đường giải thoát bản thân khỏi bể khố của cuộc đời.

Vậy còn việc Ngài hiện thân thì có ích lợi gì cho mục tiêu giải thoát đó không?

Tất nhiên là không! Vậy nên Phật chẳng làm điều vô ích đó để làm gì hay để chứng minh với bất cứ ai cả. Ngay cả khi thời Ngài còn tại thế, Đức Phật không muốn đệ tử dùng thần thông và hiếm hoi lắm Ngài dùng cũng chỉ để giáo hóa chúng sinh chứ không ngoài mục đích nào khác, còn ai tin hay không thì nằm ở trí tuệ của họ chứ không phải ở việc Ngài phải chứng minh.

Hãy tưởng tượng ví dụ như nếu ta may mắn có thể thấy được Ngài thì sao?

Nhất định ta sẽ vui mừng khôn xiết và chính niềm vui tức thời ấy đã được xem như động tâm, đồng nghĩa với việc tâm an lành, bình an đã không tồn tại như mong muốn của Ngài. 

Dù là Đức Phật, Bồ Tát, Thần linh đều không muốn sự hiện diện của mình gây nhiễu loạn tâm bạn, sợ quấy rầy cuộc sống của bạn.

Chỉ đến khi bạn có bản lĩnh thấy được các Ngài nhưng tâm thấy như không thấy, không hề bị dao động chút nào, không bị ảnh hưởng thì lúc đó sự hiện diện đó mới có ý nghĩa thực sự. Điều này được tạm hiểu như bạn đang học lớp 5 thì chẳng cần nhờ tới sự hỗ trợ của một giáo viên lớp 12 làm gì vì họ có dùng kiến thức cấp 3 giải thích thì bạn cũng chẳng thể hiểu.
Vì thế, việc Đức Phật không hiện thật ra là để tốt cho chúng ta, tránh ta quá vui mừng, rồi tâm động hơn. Trong khi đó, Ngài mong chúng ta đạt được tới mức: Thấy nghịch cảnh không sợ hãi, thuận cảnh không vui mừng, đây mới là điều chân thật nhất.

Sinh tâm kiêu mạn

 
Là một người bình thường chúng ta sẽ có tâm hiếu kỳ khi có một điều lạ lùng nào đó xảy ra với mình mà không xảy ra với người khác. Vì thế, nếu Đức Phật hiện thân với bạn chứ không phải người khác thì chính bạn sẽ tin rằng mình có lợi thế, có đặc ân hơn.

Thậm chí, theo tâm lý của con người, ta có khi còn sanh lòng kiêu mạn, xem thường những người tu hành khác, tự cho rằng công phu của tôi giỏi hơn nên mới có đặc ân đó.

Thực ra, cái tâm tôi thấy được Phật, còn mấy người vẫn chưa thấy, sinh ra sự ngạo mạn sẽ là tâm xấu, tâm ma, chỉ gây thêm phiền não nghiêm trọng mà thôi.

Do đó, với một người nếu loại phiền não này vẫn còn, tập khí của nó vẫn còn nguyên vẹn từ khi sinh khai cho tới khi chết đi thì Phật sẽ không bao giờ hiện thân vì điều đó không hề có lợi cho chính người đó. Phàm điều gì không có lợi cho chúng sinh Ngài sẽ không làm

Nếu cơ may sau này có thấy Phật, hay thấy thế giới cực lạc đi chăng nữa, cũng hãy như các bậc tổ sư vậy, đừng nên coi đó là chuyện gì quá to tát. Dù cho tất cả cảnh giới đều hiện ở trước mắt, nhất định cũng không được chấp vào đó.

Có thể đó là ma lừa gạt

 
hay phan biet tam phat hay tam ma dang hien huu
 
Đức Phật từng cho chúng ta biết rằng: Phật trong tâm, Ma cũng trong tâm ta mà ra vì thế, khi mà bạn thấy Phật xuất hiện trước mắt mình thì cũng chớ vội mừng. Bạn không khởi tâm, không động niệm thì đó mới là thật.

Nhưng thường chúng ta khởi tâm động niệm, mong muốn được gặp Ngài nên liền thu hút tâm ma và chúng sẽ hiện thân dưới hình dáng Đức Phật để quấy nhiễu ngay. Tất nhiên, chúng chỉ là giả, chúng không phải thật.

Ma có thể biến hóa thành Phật đến để gạt, để dụ bạn và điều này càng phổ biến nếu bạn động tâm quá nhiều. Nó chỉ đang phản ánh, bạn thích mấy chuyện thần thông cảm ứng, đây không phải chuyện tốt.

Hãy nhận ra rằng lúc đó, tâm của bạn không định lại, ma sẽ thường xuyên đến nhiễu loạn thêm mà thôi. Hãy nghĩ tới các bậc Tổ Sư Đại Đức tâm khí lại bình ổn như vậy, vì các ngài thấy như không thấy. Đối với họ, có là cảnh ma xuất hiện đi nữa, cũng không sanh sân hận, cũng không mất đi định ý.
 
Vì vậy tốt nhất là dù thấy được Phật thật, hay Phật giả, thế giới cực lạc thật hay thế giới cực lạc giả cũng đừng hỏi người khác. Tự bản thân bạn biết rất rõ, rất minh bạch là đủ.

Phật hiện hữu muôn nơi


Nếu ai còn hỏi: Vì sao Đức Phật không hiện thân cũng có nghĩa là họ chưa hiểu rõ bản chất những thông điệp của Ngài gửi gắm tới chúng sinh mà thôi.

Đức Phật từng cho biết: "... Nhưng thiệt từ Ta thành Phật đến nay trải qua vô lượng vô biên a-tăng-kỳ kiếp, thường ở Ta-bà thị hiện sanh thân trong nhiều quốc độ thuyết pháp giáo hóa vô số chúng sanh thọ mạng sai khác, tùy theo loại hình mà khai phương tiện chỉ bày chân thật thậm thâm vi diệu...”.

Điều này có nghĩa là Đức Phật không chỉ hiện hữu ở cõi Ta bà này để giáo hóa chúng sanh như trước đây, mà Ngài còn hiện hữu trong khắp mười phương, làm lợi ích cho chúng sanh chưa từng ngừng nghỉ.
 
Pháp thân Phật hiện hữu bất tử trong Pháp giới và không cần cần có Đức Phật Thích Ca bằng xương bằng thịt để nói pháp cho người sanh diệt ở cõi này.

Ý này được kinh Pháp hoa diễn tả bằng hình ảnh ông trưởng giả cởi chuỗi anh lạc, mặc áo thô rách, tay cầm đồ hốt phân, gần gũi chỉ dạy gã cùng tử, để nhằm chỉ cho Phật Pháp thân Tỳ Lô Giá Na hằng hữu miên viễn có khả năng điều động muôn pháp trong vũ trụ.

Từ Pháp thân Phật, Ngài khởi tâm đại bi, xuất hiện ở thế gian mang thân tứ đại ngũ uẩn. Như vậy, dù bất cứ nơi đâu Đức Phật vẫn luôn hiện hữu để che chở, soi đường cho chúng ta, chỉ là không dưới hình hài con người mà thôi.

 

Phật dạy làm người có 20 điều khó, hàm chứa hết thảy khổ nạn của kiếp người, bạn chiếm mấy điều?

 Hiểu được 20 điều khó của kiếp người theo lời Phật dạy là gì sẽ giúp chúng ta dễ dàng thoát khỏi chướng duyên, vượt qua nghịch cảnh và cạm bẫy cuộc đời, từ đó đạt được hạnh phúc chân chính. Nó cũng giúp nung đúc tinh thần chúng ta thêm sức chịu đựng bền bỉ và vững vàng trên con đường Phật đạo.
Phật dạy, trong các loại thân chúng sinh, thân người cao quý hơn cả. Hễ được làm người là một điều vô cùng quý giá và hơn hẳn các loài khác nhờ biết suy nghĩ, nhận định phải trái, tốt xấu, đúng sai.
 
Đặc biệt, Phật dạy rằng mọi khổ nạn của đời người không ngoài 20 cái khó.
20 điều khó của kiếp người theo lời Phật dạy dưới đây được nêu lên không mang một sắc thái nào của bi quan, chán chường mà chỉ nhằm khẳng định một số quy luật tất yếu của cuộc sống rằng: Hễ mang thân phận con người thì phải cảm nhận và vượt qua 20 điều đó.
 
Những cái “Khó” ở đây không có nghĩa là làm không được. Chúng được xem như là yếu tố không thể thiếu để tạo nên sự vĩ đại của người vượt khó, thành công.
 
Hãy cùng xem 20 điều khó của kiếp người cụ thể là những gì, từ đó rút ra kinh nghiệm và cải thiện bản thân tốt hơn.

1. Khó vì: Nghèo khổ bố thí, giàu sang học đạo; bỏ thân mạng vì lẽ phải, hiểu thông kinh Phật

Hãy nói về 4 điều khó khăn đầu tiên trong 20 điều khó của kiếp người theo lời Phật dạy.
 
Đối với cái khó đầu tiên được nêu ra "khó vì nghèo khổ bố thí" tức là sự bố thí của người nghèo khổ. Người nghèo khổ được định nghĩa người thiếu thốn về sở hữu tài sản, vật chất tiền bạc. Về vật chất, họ không đủ cơm ăn áo mặc, nợ nần. Về tinh thần, họ khó mở rộng tấm lòng nhân ái.
 
Còn bố thí là hình thức ban cho cùng khắp rộng rãi với tinh thần cho, tặng, biếu, giúp đỡ, chia sẻ, ban, hiến, tặng và cuối cùng là cúng dường một cách tự nguyện với lòng tôn kính. Nó đòi hỏi người cho phải giàu có dư dả nhiều tiền của.
 
Hình thức bố thí với người bình thường thì ta dùng từ cho, giúp đỡ, hiến, tặng. Với người có địa vị cao trong xã hội thì ta dùng từ kính tặng hay kính biếu. Với cha mẹ ông bà hoặc thầy tổ, thầy cô giáo thì ta dùng từ cúng dường. Cũng là từ bố thí nhưng tùy theo vị trí và chức năng địa vị trong gia đình và xã hội mà ta dùng từ ngữ có khác nhau để tỏ lòng cung kính và tôn trọng.
 
Đằng này, người nghèo khổ dù thiếu thốn nhưng vẫn biết làm việc bố thí thì còn gì đáng khích lệ cho bằng. Nó nói lên ý nghĩa cao cả của lòng từ bi rộng lớn bằng tình người trong cuộc sống, nó nói lên thái độ không oán trách, không than vãn, không đổ thừa hoàn cảnh, thể hiện lòng vị tha với sự bao dung và độ lượng, bằng trái tim yêu thương và hiểu biết.  Nhà Nho thường nói: “Bần cùng vô oán nan” (nghèo khó không oán là khó). Câu nói này chưa hàm súc đầy đủ ý nghĩa của cái gọi là khó như lời dạy của Đức Phật. Nghèo khổ mà biết bố thí, vừa bao hàm thái độ không trách oán, không đổ thừa, vừa nói lên được thái độ bao dung, độ lượng và hy sinh. Thật đúng là: “Nghèo của nhưng không nghèo lòng”.
 
Tiếp theo, "khó vì giàu sang học đạo" tức Đức Phật phê bình thói lười biếng, không chịu tu tập của những người giàu có.
 
Ở thế gian này nhiều người giàu có, sung mãn đầy đủ vật chất lại ít bao giờ nghĩ đến việc tu học, tín tâm Tam bảo và tin sâu nhân quả. Họ sống hưởng thụ các thiên lạc, thiên sắc, không còn tâm niệm tu tập, hướng thượng, nên rất dễ sa đọa.
 
Chính sự giàu có về vật sở hữu đã trói buộc họ trong cái vỏ “ngã ái” và “ngã si”. Họ cho vật chất là mục đích tối hậu của cuộc sống. Suốt ngày đua đòi, bon chen theo tài, sắc, danh, thực, thùy, hay sắc, thinh, hương, vị xúc, những thứ đam mê mà Đức Phật gọi là ngũ dục hạ liệt, chỉ có giá trị nhất thời.
 
Trong kinh Đức Phật dạy, quả báo của những kẻ giàu sang, chạy theo ngũ dục lạc, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ làm voi, ngựa cho nhà vua. Tuy được trang sức lộng lẫy, nhưng lại thiếu trí tuệ - yếu tố cần thiết cho con người và đạo giải thoát. Chính vì thế, giàu sang mà từ bỏ được tất cả để tầm cầu chân lý, học hỏi chánh pháp là một điều không phải ai cũng thực hiện được.
 
Ở cái khó thứ 3, "bỏ thân mạng vì lẽ phải", mạng sống con người là rất đáng quý. Bởi thế cho nên, đã là con người tất nhiên ai cũng tham sống, sợ chết.
 
Lẽ phải, đứng trên quan điểm Phật giáo mà phân tích thì nó bao gồm các chân lý về vũ trụ quan, nhân sinh quan và đường lối hành xử thích hợp để cuộc sống con người được giải thoát khỏi mọi khổ đau. Chết vì lẽ phải là thực hiện và bảo vệ chân lý trên bước đường hoằng hóa độ sinh.
 
Đứng về đời, cái chết vì lẽ phải có thể là sự hy sinh cao cả vì lẽ tồn vong của Tổ quốc, vì quyền lợi của một dân tộc.
 
Quả thực như lời dạy của Đức Phật: “Dám chết vì lẽ phải” là một điều khó làm vì bản tính con người vốn tham sống, sợ chết. Điều này cũng không đáng chê trách, vì mặt khác Đức Phật cũng dạy rằng: “Mạng sống con người là quý”. Cho nên, chúng ta trân trọng nó, bảo vệ nó, nhưng gặp đúng trường hợp đòi hỏi sự hy sinh mạng sống quý báu để phục vụ một lợi ích to tát hơn, một chân lý tuyệt mỹ hơn thì con người cần phải hy sinh cái Ta của mình đi.
 
Cho nên, chúng ta phải hiểu rằng khi Đức Phật liệt sự hy sinh vì lẽ phải là một điều khó làm, điều đó không có nghĩa Đức Phật không muốn chúng ta làm hay suy nghĩ rằng chúng ta không bao giờ có khả năng làm được. Mà có nghĩa rằng nếu chúng ta thực hiện được điều khó đó, là chúng ta đã vượt thoát lên trên lòng vị kỷ để hướng tới một tình thương bao la cao quý hơn, chan hòa cho cả một cộng đồng.Đến cái khó thứ 4 của kiếp người, khó vì "hiểu thông kinh Phật". Kinh Phật ở đây chỉ chung cho Tam tạng thánh điển, nó thuộc về những lời dạy vàng ngọc của Phật, bao gồm Kinh, Luật, Luận và ngay cả những lời thuyết pháp của các pháp sư và các vị cư sĩ.
 
“Hiểu được kinh Phật” còn bao hàm ý nghĩa: có thiện duyên nắm được phương tiện để nghe, để hiểu ý Phật, từ đó có chuyển biến tốt trên bước đường ngộ nhập tri kiến Phật.
 
Cho nên hiểu hết kinh Phật là một điều rất khó, vì Phật tùy theo căn cơ của mọi người mà chỉ dạy nên có rất nhiều loại kinh chẳng tương đồng với nhau.

20 điều khó của kiếp người
 

2. Khó vì: Sinh thời và gặp được Phật, nhẫn được sắc dục; thấy đẹp không ham cầu, bị nhục không oán

 
Điều khó tiếp theo của đời người hay cái khó thứ 5, chính là việc "sinh cùng thời và được gặp Đức Phật". Ngài là con người của sự giác ngộ, tỉnh thức đến tột độ. Ngài là con người nhân bản và hơn thế, vượt trên nhân bản. Ngài là vĩ nhân trên các vĩ nhân. Ngài là vô thượng sư, vô sư, đạo sư, là siêu tuyệt, cho nên, sinh thời Phật được gặp Phật là một phước duyên to lớn mà ít ai có được phước duyên này.
 
Sự thị hiện của các Đức Phật đã hiếm, mà hữu duyên được gặp Phật lại càng hiếm hơn, vì nếu không đủ phước đức nhân duyên thì tuy sinh cùng thời mà đến chết vẫn chẳng thấy được Phật.
 
Đối với cái khó thứ 6, "nhẫn được sắc dục", nó chính là một thử thách không hề nhỏ với con người. Nhẫn ở đây không chỉ giới hạn ở sự chịu đựng những lời nhục mạ như nguyên ngữ Hán. Nhẫn còn có ý nghĩa sâu rộng hơn là không đam mê, không nhiễm đắm sắc và dục.
 
Vốn dĩ sức công phá của sắc dục có thể làm băng hoại nhân cách của con người, làm sa đọa con người. Ở đây, nhẫn được sắc dục là chế ngự, thu thúc được lục căn, không để cho lục căn thao túng, mà ngược lại, ta chỉ huy nó theo cái tâm thiện của ta. Khống chế được sắc dục, con đường hướng thiện, phạm hạnh sẽ rộng mở và giải khai.
 
Vì vậy, nhẫn sắc dục cũng chính là một trong các yếu tố quyết định sự giải thoát mọi chấp mắc trên đời. Nó vô hiệu hóa căn trần để thể nhập sự an tĩnh tuyệt đối. Do đó, nhẫn được sắc dục là một việc làm hy hữu chẳng hề dễ dàng.
 
Tuy nhiên, Phật Bồ tát làm được thì chúng ta cũng sẽ làm được, ta có quyết chí, can đảm buông bỏ những thói quen xấu hay không mà thôi và cố gắng làm những điều thiện lành tốt đẹp.
 
Cái khó thứ 7 "thấy đẹp mà không ham cầu", đây quả thực là việc rất khó. Cái đẹp ở đây nếu theo quan niệm thông thường là chỉ những điều hợp nhãn, gây nhiều ấn tượng tốt cho người nhìn, người đọc.
 
Còn căn cứ theo quan điểm triết học Phật giáo, đẹp là những giá trị mặc ước, tùy thuộc vào quan điểm của con người, của phong tục tập quán.
 
Có những cái ở đây cho là đẹp nhưng ở một nơi khác thì lại phê chuẩn cho nó một giá trị mặc ước khác. Nhưng nhìn chung, cái đẹp có giá trị nhất định theo giá trị mặc ước của nó, tức là cái quyến rũ, hấp dẫn con người theo cái nhìn chủ quan của con người.
 
Bản thân của cái đẹp hiện hữu không tội lỗi gì cả, là do con người nhận định quyết đoán. Nhưng nếu chúng ta nhìn nó với cái nhìn đam mê yêu thích bởi lòng tham lam thì cái đẹp đó, trở thành sợi dây ràng buộc sự giải thoát của chúng ta.
 
Người thấy đẹp mà không ham cầu là người thấy rõ sự nguy hiểm của cái đẹp, và cái đẹp đó cũng vô thường tạm bợ, nên họ không mong cầu cái tốt đẹp đó chỉ tùy duyên mà thôi.Chúng ta nhìn vạn sự vạn vật với một cái nhìn tuệ giác, biết nó là không thực thể, sự có mặt của nó chỉ là nhân duyên tụ tán, chính vì bản chất của nó là vô thường, vô ngã. Cái đẹp của nó chỉ tạm thời, không dài lâu, nó không có một giá trị cố định. Nhưng mấy ai có được trí tuệ để vượt thắng những cám dỗ thông thường. Thế nên gọi là thấy đẹp, thấy tốt không ham cầu là khó.
 
Còn với điều khó thứ 8, sở dĩ nói "bị nhục không oán" là rất khó bởi đứng trước cảnh bị người khác nhục mạ, người ta thường sân hận, giận dữ, đôi lúc phản kháng, ẩu đả để giải tỏa cơn tức giận của mình.
 
Ở đây, nhục là những hành vi lăng mạ người khác. Nó phát xuất từ tâm lý ganh ghét hoặc từ sự sôi sục của lòng sân hận.
 
Nhục, nếu thể hiện bằng lời, là những lời ác ngữ, nguyền rủa, chửi thề độc địa làm cho người bị lăng mạ đau xót như cắt đứt gan ruột mình. Nếu thể hiện bằng hành động, đó là việc gây thương tích cho đối tượng. Nếu thể hiện bằng ý, là sự ngấm ngầm hãm hại người đó một cách trắng trợn và công khai bất chấp mọi hậu quả của nó. Cả ba đều đem lại cho người khác tâm lý lo âu, sợ sệt và khổ đau bởi trạng thái tức tối, giận hờn và thù địch.
 
Mấy ai có thể nín nhịn khi phải chịu sự lăng mạ sỉ nhục? Bị vu oan huỷ nhục về một việc làm xấu nào đó, ta cảm thấy bị chạm tự ái vì sĩ diện với mọi người, ta tức tối, ta hờn giận và cảm thấy đau khổ vô cùng.
 
Vậy nên đây mới là một cái khó của kiếp người. Chỉ có những ai thấu hiểu được sự đối đầu, đối kháng đó chỉ là giải pháp nhất thời, không chặn đứng được sự xung đột, khắc chế, mới có thể nhẫn nhịn sự nhục mạ.
 
Nếu lấy hận thù diệt hận thù, thì hận thù càng thêm chồng chất. Chỉ lấy tình thương mới chuyển hóa được hận thù.

20 cái khó của kiếp
 

3. Khó vì: Có thế lực không cậy uy, vô tâm với cảnh; học rộng nghiên cứu sâu, trừ diệt cống cao ngã mạn

 
Điều khó thứ 9 là "Có thế lực nhưng không cậy uy". Đây không phải là việc khó, mà là rất khó. Thông thường, những người có quyền cao chức trọng hay cậy thế ỷ quyền, ức hiếp kẻ dưới bắt phải cống nạp hoặc chèn ép bằng nhiều hình thức.
 
Cho nên, có thế lực mà không ỷ quyền cậy thế, không thị uy, tức tự chính mình đã kiến tạo cho mình nếp sống chánh mạng, chánh nghiệp, không gieo rắc ác nghiệp. Và người như vậy là người hữu ích cho xã hội, là người biết hướng thiện, hướng thượng. Được vậy, quả thật là đáng quý.
 
Tiếp đến là điều khó thứ 10 "vô tâm với cảnh", tức là không còn dính mắc, đắm nhiễm tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn ngon, ngủ nhiều hoặc hình sắc, sự vật cho đến tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý tác duyên.
 
Người thấy tiền bạc không tham đắm, dính mắc quả thật là điều khó vì tiền bạc là phương tiện để nuôi sống bản thân và gia đình. Người đối với mọi hình sắc, vừa thấy liền khởi niệm say mê, rồi tác ý ưa thích nghĩ tưởng hình sắc, thế là lòng tham chìm đắm trong cảm thọ thấy đẹp xấu và dính mắc vào đó. Nếu tâm dính mắc càng lớn mạnh thì tâm bồ đề bị lu mờ, do đó tạo nên phiền não làm tâm không an định.
 
Như vậy, vô tâm là yếu tố tất yếu, là cửa ngõ quan trọng để trở về với bản tâm thanh tịnh. Do đó, muốn giải thoát mọi khổ nạn trên đời, theo lời dạy này, chúng ta phải thường xuyên sống vô tâm, vô phân biệt.
 
"Học rộng, nghiên cứu sâu" là một việc khó thứ 11. Học rộng, nghiên cứu nhiều là tìm hiểu, lãnh hội, mổ xẻ vấn đề đến nơi đến chốn. Nó thuộc về vấn huệ (trí tuệ có được do tìm hiểu, tham vấn) hay văn huệ và tư huệ.
 
Mục đích cuối cùng của sự học rộng nghiên cứu nhiều là nhằm phục vụ cho mọi công việc đạt hiệu quả cao hơn. Nếu học được lí thuyết dù cao siêu đến đâu chăng nữa mà không đem ra vận dụng vào thực tế thì việc học ấy chỉ tốn thời gian, công sức, tiền bạc vô ích mà thôi vì chẳng giúp gì cho ai.
 
Chính nhờ sự học rộng nghiên cứu nhiều, người ta nhận chân đâu là chân lý, đâu là phi chân lý. Đâu là chính, đâu là tà. Đâu là con đường nên đi, đâu không nên đi.
 
Học rộng nghiên cứu nhiều nghiễm nhiên trở thành kim chỉ nam hành động trong cuộc sống. Nó còn là tấm bản đồ, là hành trang cần thiết cho mọi lĩnh vực trong cuộc sống. Do đó, chúng ta cần phải trau dồi kiến thức, nâng cao tính nhân văn và trí tuệ của mình để đem lại những thành công tốt đẹp như mong muốn.
 
Cái khó tiếp theo của kiếp người chính là "trừ diệt tâm cống cao ngã mạn". Người cống cao ngã mạn là người coi trọng bản ngã của mình lên trên hết. Nó là biểu hiện của tâm hiếu thắng, kiêu ngạo, cống cao, thiếu nhã nhặn, thiếu khiêm tốn và không chịu nhún nhường bất cứ một ai. Người ngã mạn thường song hành với các tâm lý cố chấp, bảo thủ và độc đoán. 
 
Vì ngã mạn là chấp nhất, là cống cao, nên người lìa ngã mạn sẽ thoát ly mọi ràng buộc, hệ lụy. Đúng như lời Phật dạy: 

comment leftNày các Tỳ kheo, ai đoạn trừ tâm ngã mạn, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho không còn hiện hữu lại, người ấy là bậc thánh đã hạ cây cờ xuống, đã đặt gánh nặng xuống, không còn bất cứ một hệ lụy nào.
Lời Phật dạy
comment right
 
Do đó, dứt trừ tâm ngã mạn không chỉ là việc khó làm mà còn là việc rất đáng trân trọng.

Điều khó của kiếp người theo lời Phật dạy
 

4. Khó vì: Không khinh người chưa học, thực hành tâm bình đẳng; chẳng nói thị phi, gặp thiện tri thức

 
Ở cái khó thứ 13 trong 20 điều khó của kiếp người theo lời Phật dạy, "không khinh người chưa học", đây là sự tổng hòa của điều khó thứ 11 và 12 bên trên.
 
Điều 11, Đức Phật dạy học rộng nghiên cứu nhiều là khó. Điều 12, Đức Phật dạy, cần phải đoạn trừ tâm ngã mạn. Phối hợp hai điều này chúng ta thấy nếu học rộng nghiên cứu nhiều mà có tâm ngã mạn thì sự học rộng nghiên cứu nhiều ấy chỉ bằng vô ích, vì người ấy chỉ là một học giả cao ngạo, chỉ thích chỉ trích, bình phẩm người khác mà không xây dựng đóng góp gì nhiều cho việc giáo dục.
 
Ở điều thứ 13 này, Đức Phật dạy không khinh người chưa học hàm ý nói rằng kẻ tài cao thường có nhược điểm “mục hạ vô nhân” nghĩa là dưới con mắt của mình không có ai hơn và khinh khi người ít học.
 
Một điểm nữa là gián tiếp khuyên chúng ta càng học cao càng khiêm cung thì giá trị của ta càng lớn. Học lời Phật dạy “không khinh người chưa học”, ta thấy lòng từ bi thật rộng lớn bằng tình người trong cuộc sống của Phật được thể hiện rõ nét trong mọi trường hợp.
 
Và lời dạy này cũng có ý nghĩa với hạnh vô ngã vị tha, đề cao Phật tính bình đẳng của Bồ tát Thường Bất Khinh trong kinh Pháp Hoa: Dù có bị chửi mắng, đánh đập nhưng Ngài cũng không tỏ ra thái độ giận hờn, oán trách một ai. Mà còn nói: “Tôi không dám khinh quý ngài, vì quý ngài đều sẽ thành Phật”.
 
Ở điều khó thứ 14, sở dĩ Phật dạy khó vì "thực hành tâm bình đẳng" là bởi chỉ với Phật giáo, người ta mới tìm được chân giá trị của chủ trương bình đẳng.
 
Giá trị bình đẳng cao nhất trong Phật giáo là Phật tánh, ai cũng có khả năng trở thành con người tuệ giác viên mãn, thù thắng, và nói chung là cả muôn loài, ngoại trừ giống vô tình, vô thức.
 
Theo Phật giáo, mọi con người phải có giá trị ngang nhau khi người ta hoàn thiện đạo đức. Chỉ có đạo đức mới phân định chính xác giá trị nhân phẩm con người. Giai cấp, địa vị, sự sang trọng, quyền uy, thế lực… tất cả những thứ này Đức Phật đều phủ nhận để đề cao bình đẳng.
 
Do đó, thực hành bình đẳng là một điều vô cùng khó, nhất là đối với những người có quyền lực địa vị cao trong xã hội, những gia đình nặng về gia giáo, phong kiến và nặng nhất là sự chấp ngã của con người.
 
Phật dạy điều khó thứ 15 "chẳng nói lời thị phi" khó là bởi trong năm giới của người tại gia, giới vọng ngữ là giới có nội dung cấm người Phật tử nói lời thị phi. Thị phi, đôi lúc ở một vài trường hợp cũng chính là lời nói đòn xóc hai đầu, đến người này ta nói xấu người kia, đến người kia ta nói xấu người nọ. Tác hại của nó là làm cho hai bên hiểu lầm nhau mà gây ra ân oán hận thù và làm yếu đi sức mạnh của một cá nhân hay một tập thể nào đó.
 
Và khi đứng trước những hiện tượng thị phi hay chính mình phải quấy với người khác làm cho tình nghĩa của bạn bè người thân bị rạn nứt sứt mẻ do hiểu lầm nhau. Đối với Phật giáo, thị phi được cấm chỉ ở giới vọng ngữ và giới ly gián.
 
Người Phật tử chân chính không bao giờ sử dụng ngôn ngữ mang tính bất thiện, không gieo rắc đau khổ đến với một ai, mà chỉ nên mang lại sự thiện ích và toàn mỹ cho mọi người.
 
Như vậy, trên cơ bản, không thị phi là hoàn thiện nhân cách người Phật tử, nhân cách con người chính họ. Nó là nền tảng hoàn thiện ngữ nghiệp, tạo ra từ ái ngữ, nhu nhuyễn ngữ, ngôn ngữ hài hòa, lịch thiệp. Vì thế, không nói lời thị phi là một điều khó và cũng là một điều đáng quý trọng.
 
"Gặp thiện tri thức" là gặp được những người bạn lành, giúp ta nâng cao tri thức, tiếp cận giáo pháp, chân lý của Đức Phật. Ngoài ra, thiện tri thức còn được hiểu là những pháp môn, giáo lý, kinh điển Pháp bảo của Đức Phật thăng hoa nếp sống đạo đức cho ta.
 
Người thiện tri thức còn có nghĩa là vị thầy dẫn dắt ta trên con đường giác ngộ, giải thoát. Gặp được minh sư chân chính thì mục đích của ta mới dễ thành tựu. Nếu người dẫn dắt ta là tà đạo thì chắc chắn ta sẽ đi theo con đường tối tăm nguy hiểm.
 
Nhưng ở đời, thầy lành bạn tốt dễ gì gặp, và khi gặp làm sao phân biệt được? Làm sao chúng ta có thể biết người đó là thiện hữu tri thức?
 
Cách duy nhất là thân cận tiếp xúc lâu ngày với người đó, sống với người đó trong những hoàn cảnh khó khăn, nghe người đó nói năng luận bàn, ta mới có thể thấy được đức hạnh, trí tuệ và sự chứng đắc của người ấy. Vì vậy, chúng ta phải sáng suốt chọn thầy lành bạn tốt thì quá trình tu tập của ta mới có thể thành tựu viên mãn trong tương lai.

20 điều khó của kiếp người theo lời Phật dạy
 

5. Khó vì: Học đạo kiến tính, tùy duyên hóa độ; nhìn cảnh không động tâm, hiểu điều thuận tiện

 
Cái khó thứ 17 của kiếp người là khó vì "học đạo kiến tính". Ở đây bao gồm hai phạm trù: học đạo và kiến tính.
 
Kiến tính nghĩa là nhìn thấy được Phật tính hay nhìn thấy bản tính thật của chính mình. Về mặt từ nghĩa, “kiến tính” và “ngộ” có cùng một ý nghĩa và chúng thường được dùng lẫn lộn với nhau. Tuy nhiên khi nói về sự giác ngộ của Phật và chư tổ, người ta thường dùng chữ “ngộ” hơn là “kiến tính” vì ngộ ám chỉ một kinh nghiệm sâu hơn.
 
Học đạo là khó vì phải đi ngược lại dòng đời, người đời tham thì ta không tham, người đời dính mắc luyến ái vào gia đình vợ con còn ta thì phải vượt lên trên đời sống gia đình ràng buộc đó.
 
Còn theo giáo lý nhà Phật, học đạo có nghĩa là xem nghe lời Phật tổ dạy, và dùng trí tuệ Bát Nhã để thể nhập tự tính bằng cách tu tâm.
 
Nếu là người không có ý chí thì bỏ mặc nhưng vì thiết tha học đạo, cho nên cuối cùng nhận ra đạo lý chân thật không ngoài nơi thân này. Chính vì vậy học đạo, kiến tính là khó.
 
"Tùy duyên hóa độ" tức cái khó thứ 18 là một trong những công tác hàng đầu của tu sĩ Phật giáo. Phật tử có nhiệm vụ đem lời dạy của Phật và sự tu học của mình để truyền đạt cho mọi người cùng tham khảo học hiểu và tu học theo.
 
Nhưng có đủ trí tuệ và khả năng để tùy duyên hóa độ chúng sinh là rất khó bởi chúng ta thường hay áp đặt lên quan điểm và trình độ của kẻ khác, bằng sự hiểu biết của mình, mà quên đi mục đích chính là giúp người qua biển khổ sông mê, chứ không phải phổ biến quan niệm hay truyền đạt lối tu của mình.
 
Ngay cả đến đức Phật, khi thuyết pháp, Ngài cũng vận dụng phương tiện thiện xảo để tùy duyên tùy căn cơ mọi người mà tìm cách độ họ. Các vị thiền sư, đạo sư, cao tăng sau này cũng nhờ tùy duyên hóa độ mà làm rạng rỡ truyền thống tốt đẹp của Phật giáo. Do đó, tùy duyên hóa độ là cần thiết, là khó thực hiện, là nền tảng của sự hoằng pháp, giáo dục. Cho nên tùy duyên hóa độ là khó.
 
"Nhìn cảnh không động tâm", nội dung của điều khó thứ 19 này cũng tương tự với nội dung ở điều khó thứ 10 "vô tâm với cảnh". Nhưng vô tâm ở trên được đề cập với mức độ cao hơn, sâu hơn, khó thực hiện hơn. Vô tâm là bước thứ hai. Không động tâm là bước đầu để đạt đến vô tâm.
 
Không thể làm được việc “không động tâm” trước cảnh trần, trước những biến loạn tinh thần thì không thể đạt được trạng thái cao nhất của vô tâm là giải thoát. Người tu đạo muốn giải thoát phải từng bước tu tâm, không cho tâm dao động.
 
Mọi sự tiếp xúc ta phải tập làm chủ trực tiếp từ sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Giữ quan niệm tùy duyên nhưng bất biến, việc đến thì làm, việc đi không lưu luyến.
 
Hiểu theo nghĩa khác, không động tâm là đối cảnh trong trạng thái Định, an tĩnh. Không dính mắc, không động tâm sẽ dẫn đến vô tâm, là tự tại, giải thoát và thường biết rõ ràng. Thế nên, thấy cảnh không động tâm là khó, là điều trân quý.
 
Cái khó cuối cùng trong 20 điều khó của kiếp người theo lời Phật dạy, "hiểu điều thuận tiện".
 
Quan niệm về cái khó cuối cùng này cũng ít nhiều liên quan đến nội dung điều thứ 18 "tùy duyên hóa độ" chúng sinh. Điểm giống nhau giữa hai điều là cả hai cùng đề cập đến tính thuận tiện và phù hợp trong vấn đề giáo hóa độ sinh hướng dẫn cho mọi người là quan trọng cấp thiết hàng đầu.
 
Điểm khác nhau ở hai điều là, điều 20 này là điều kiện, là môi giới, là chất xúc tác để tạo nên điều 18. Có phương pháp thuận tiện thì chúng ta mới có thể tùy duyên hóa độ.
 
Thuận tiện và tùy duyên hóa độ là hai phần liên kết của một vấn đề hoằng pháp hay giáo dục.
 
Công tác hoằng pháp hay giáo dục vô cùng hệ trọng trong hiện tại và mai sau. Nó có thể dẫn đến ảnh hưởng tốt hoặc xấu cho rất nhiều thế hệ. Truyền đạt một quan điểm lệch lạc, mê tín, cuồng tín, tà kiến, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa giáo dục, đạo đức tâm linh, sẽ đem lại bất hạnh cho nhiều người.
 
Và khi ta truyền đạt đúng với chính pháp, đúng với chân lý cuộc đời thì lợi ích của nó thật lớn lao, nghĩa là đem lại an lạc hạnh phúc cho nhiều người.
 
Chính vì vậy, những người làm công tác tuyên truyền văn hóa, giáo dục, phải ý thức rằng việc làm của ta phải có lợi ích cho nhiều người. Cho nên tìm ra phương pháp thuận tiện vốn chẳng dễ dàng.

 

Hướng dẫn cách lạy trong thờ cúng chuẩn mực mà ai cũng nên biết để không phạm bất kính

Chắp tay đứng trước ban thờ hay đi lễ, đi chùa, đi đám tang… người ta đều cần thực hiện hành động vái lạy để thể hiện lòng tôn kính. Nhưng liệu có phải ai cũng biết cách lạy trong thờ cúng đúng theo quy tắc hay không?

1. Tập tục lạy trong văn hóa thờ cúng của người Việt


Cach lay trong tho cung
Cách lạy trong thờ cúng của người Việt như thế nào mới đúng?

Lạy vốn là hành động để bày tỏ lòng tôn kính, biết ơn chân thành với tất cả tâm hôn và thể xác đối với các đấng thần linh, các bậc tiên hiền có công khai phá giang sơ, bảo vệ sơn hà xã tắc, tổ tiên dòng họ và cả người quá cố.
 
Tập tục quỳ lạy bắt nguồn từ đâu, từ khi nào, chẳng ai có thể trả lời rõ ràng. Chỉ biết rằng sau theo trước, không có lễ giáo chính thống, cũng không có mấy sách vở đề cập đến, mà chủ yếu chỉ là truyền miệng, đời sau học tập theo đời trước.
 
Cứ thế lâu dần đa số người ta chỉ làm cho có lệ, ít người còn hiểu được chính xác ý nghĩa và cách quỳ lạy trong thờ cúng như thế nào mới đúng.
 
Dân tộc Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hóa Trung Hoa, nên việc lễ lạy từ hình thức đến nội dung, từ lễ tổ tiên ông bà đến lễ lạy trời đất, Thần Phật, Thánh ở đình, chùa, lăng, miếu cũng bị ảnh hưởng ít nhiều.
Điểm khác biệt ở chỗ, trong văn hóa thờ cúng của người việt, số lần và cách lạy trong thờ cúng tùy từng trường hợp lại mang ý nghĩa khác nhau. Đây là phong tục tập quán riêng của Việt Nam ta mà Trung Quốc không hề có.

Có thể bạn chưa biết: Hướng dẫn trình tự lễ - Nguyên tắc cơ bản khi đi lễ nhất định phải biết
 

2. Phân biệt lạy và vái

 
Lạy và vái thường đi liền với nhau, đôi khi có thể thay thế cho nhau nhưng thực chất mỗi hành động lại có ý nghĩa riêng biệt.

Cach lay trong tho cung 1
 

- Tập tục lạy:

 
Quỳ lạy là hành động nhằm tỏ lòng tôn kính với người trên hoặc người quá cố vào bậc trên của mình. 
 
Có hai thế lạy là: thế lạy của đàn ông và thế lạy của phụ nữ.
 

+ Đối với đàn ông: 


Thế lạy của đàn ông là ở tư thế đứng thẳng theo thế nghiêm, chắp 2 tay trước ngực và dơ cao lên ngang trán.

Sau đó, cúi mình xuống, đưa 2 bàn tay đang chắp xuống gần tới mặt chiếu hay mặt đất thì xòe 2 bàn tay ra đặt nằm úp xuống, đồng thời quỳ gối bên trái rồi sang gối bên phải xuống đất, đầu cúi rạp xuống gần 2 bàn tay theo thế phủ - phục sát đất.Tiếp theo, dần đứng người dậy bằng cách đưa 2 bàn tay chắp lại để trên đầu gối trái lúc bấy giờ đã co lên và đưa về phía trước, ngang với đầu gối chân phải đang quỳ để lấy đà đứng lên.

Cach lay trong tho cung 5
 
 
Chân phải đang quỳ cũng theo đà đứng lên cùng chân trái, hai chân đứng ở thế nghiêm như ban đầu. Tiếp tục tiến hành lạy như vậy cho tới khi đủ số lạy.
 
Lưu ý: Khi quỳ, có thể quỳ bằng chân phải hay chân trái trước cũng được, tùy theo chân thuận mà tiến hành. Nhưng cần nhớ là khi quỳ chân nào xuống trước thì lúc chuẩn bị đứng dậy phải đưa chân đó về trước nửa bước và tì 2 bàn tay đã chắp lại lên đầu gối chân đó để lấy thế đứng lên.
 
Thế lạy theo kiểu này rất khoa học và vững vàng. Sở dĩ phải quỳ chân trái xuống trước thì vường chân phải vững hơn nên được dùng để giữ thế thăng bằng cho khỏi ngã.

Khi chuẩn bị đứng lên cũng vậy, co chân trái là để chân phải có thể làm điểm tựa để tư thế lạy được vững hơn.
 

+ Đối với phụ nữ:

 
Thế lạy của phụ nữ có một chút khác biệt với thế lạy của đàn ông ở chỗ, cách ngồi trệt xuống đất để 2 cẳng chân vắt chéo về bên trái, bàn chân phải ngửa lên để ở dưới đùi chân trái.
 
Nếu mặc áo dài thì kéo tà áo trước trải ngay ngắn trước mặt và kéo vạt áo sau về phía sau để che mông cho đẹp mắt.
 
Sau đó, chắp 2 bàn tay lại để trước ngực rồi đưa cao dần lên ngang tầm trán, giữ tay ở thế chắp đó mà cúi đầu xuống. Khi đầu gần chạm đất thì tách hai bàn tay đang chắp đó đặt nằm úp xuống đất và để đầu lên 2 bàn tay.

Giữ ở tư thế đó một hai giây rồi dùng 2 bàn tay đẩy để lấy thế ngồi thẳng dậy, đồng thời chắp hai bàn tay lại đưa lên ngang trán như ban đầu.
 
Cứ thế làm tiếp cho đến khi lạy đủ số lần lạy. Lạy xong thì đứng lên vái ba vái rồi lui ra là hoàn tất xong thế lạy.
 
Bên cạnh đó, cũng có một số nơi phụ nữ áp dụng thế lạy theo cách quỳ hai đầu gối xuống chiếc, để mông lên 2 gót chân, 2 tay chắp lại đưa cao lên đầu rồi giữ 2 tay ở thế chắp đó mà cúi người xuống. 

Cach lay trong tho cung 4Khi đầu gần chạm mặt đất hay mặt chiếu thì xòe 2 bàn tay ra úp xuống chiếu, để đầu lên 2 bàn tay. Cứ tiếp tục lạy cho đến khi đủ số lạy. Nhưng thế lạy này có thể làm đau ngón chân và đầu gối, đồng thời không đẹp mắt bằng thế lạy bên trên. 
 
Như vậy, thế lạy của đàn ông có vẻ hùng dũng, mạnh mẽ, tượng trưng cho dương. Thế lạy của các bà, các cô có sự uyển chuyển, thướt tha, tượng trưng cho âm.
 
Tuy nhiên, thế lạy của đàn ông gây bất tiện nếu mặc âu phục cho nên hiện nay chỉ có những người cao tuổi vẫn áp dụng thế lạy trên của đàn ông, nhất là trong các dịp lễ Tổ.

Còn phần đông người ta có thói quen chỉ đứng vái mà thôi, song nếu có lòng thành, tập dượt nhiều rồi cũng thành.
 

- Tập tục vái:

 
Khác với lạy, vái thường được áp dụng ở thế đứng, nhất là trong các dịp lễ ở ngoài trời. Trong trường hợp này, vái thay cho lạy.

Cach lay trong tho cung 3
 
Vái là hành động chắp 2 bàn tay để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, hơi cúi đầu và khom lưng xuống sau đó ngẩng lên, đưa 2 bàn tay lên xuống theo nhịp lúc cúi đầu khi ngẩng đầu lên.
 
Tập tục vái được thực hiện sau khi người ta đã khấn trong các dịp lễ Tết hay đi lễ chùa. Sau khi bày hoa quả, đồ lễ và thắp nhang, người làm lễ sẽ bắt đầu đọc những lời khấn rầm rầm trong miệng liên quan đến các chi tiết về ngày tháng năm, nơi chốn, mục đích buổi cúng lễ, cúng ai, tên những người trong gia đình và cuối cùng là những lời cầu xin và hứa hẹn.
 
Tùy theo từng trường hợp, người Việt Nam ta thường vái 2, 3 hay 4, 5 vái.

Đừng bỏ lỡ: Đi lễ chùa nên cầu gì, vái mấy lần mới không bị coi là bất kính
 

3. Cách lạy trong thờ cúng sao cho chuẩn?

 
Tùy vào mục đích, đối tượng được hướng tới, dân tộc ta lại có những cách lạy trong thờ cúng khác nhau như sau:

Cach lay trong tho cung 2
 

- Lạy Phật:

 
Khi đi lễ Phật, ta lạy 3 lạy. Ba lạy này tượng trưng cho Phật – Pháp – Tăng. Đọc ngay: Ý nghĩa vái 3 lạy trong đời sống tâm linh người Việt
 
+ Phật ở đây là giác, tức giác ngộ, sáng suốt, thông hiểu mọi lý lẽ.
 
+ Pháp là chính, tức điều chính đáng, đứng đắn, trái với tà ngụy.
 
+ Tăng là tịnh, tức trong sạch, thanh tịnh, không nhơ bẩn.
 
Cách lạy trong thờ cúng này là nguyên tắc chung phải theo. Tuy nhiên, tùy từng ngôi chùa mà người ta có thể có quy định và kiểu cách lạy khác nhau. 
 
Nhưng phần chung hoặc nếu ta chưa rõ phong tục tập quán ở địa điểm đó thì cứ nên áp dụng theo luật chung tức lạy 3 lạy.

Xem thêm: Hướng dẫn tư thế bái Phật đúng chuẩn

Cach lay trong tho cung 6
 

- Lạy cha mẹ, lạy trong đám tang, lạy vai dưới của người quá cố:

 
2 lạy được áp dụng trong trường hợp lạy người sống như khi cô dâu chú rể lạy cha mẹ.
 
Khi đi phúng điếu (lúc người chết chưa hạ huyệt), ta lạy 2 lạy với người vai dưới như em, con, cháu và những người vào hàng con em… của người quá cố.
 
Sau khi đã lạy, người ta cũng tiến hành vái 3 vái. Ý nghĩa của 3 vái này là lời chào kính cẩn, chứ không mang ý nghĩa nào khác.
 
Nhưng trong trường hợp người quá cố vẫn được để quan tài tại nhà quàn, người đến phúng điếu, nếu là người vai trên của người quá cố như các bậc cao niên hay vào hàng cha chú, anh chị, chú bác, cô dì… thì chỉ đứng để vái 2 vái mà thôi.
 
Khi quan tài đã được hạ huyệt, tức là sau khi chôn rồi, người ta vái người quá cố 4 vái.
 
Theo nguyên lý âm dương, khi chưa chôn, người quá cố vẫn được coi là còn sống nên ta chỉ lạy 2 lạy. Hai lạy này tượng trưng cho âm tương nhị khí hòa hợp trên dương thế, tức là sự sống. Còn sau khi người quá cố được chôn rồi thì phải lạy 4 lạy.
 

- Lạy người quá cố, lạy Thần Thánh, lạy khi đi thăm mộ:

 
Người ta dùng 4 lạy để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ và các Thánh Thần trong chùa miếu.
 
4 lạy tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, tứ phương (Đông thuộc dương, Tây thuộc âm, Nam thuộc dương và Bắc thuộc âm), tứ tượng (Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm).
 
Nói chung, 4 lạy này bao gồm cả cõi âm lẫn cõi dương mà hồn ở trên trời và phách hay vía ở dưới đất nương vào đó làm chỗ trú ngụ. Đọc thêm: Tạ mộ cuối năm vào ngày nào? Làm lễ như nào cho đúng?
 
Nếu không thể áp dụng thế lạy, người ta thay thế 4 lạy bằng 4 vái để cúng người quá cố như ông bà, cha mẹ và Thánh Thần.
 
Cach lay trong tho cung 7
 

- Lạy tổ tiên, lạy những bậc tiên hiền có công:

 
Ngày xưa, người ta lạy vua 5 lạy. Năm lạy này tượng trưng cho ngũ hành (Kim, Mộc, Thủy, Hỏa và Thổ. Trong đó, vua tượng trưng cho trung cung tức hành Thổ (màu vàng) ở giữa.
 
Cũng có ý kiến cho rằng, 5 lạy tượng trưng cho tứ phương (Đông, Tây, Nam, Bắc) và ở giữa (trung ương, trọng tâm) tức nơi nhà nha ngự.
 
Ngày nay, trong dịp giỗ Tổ Hùng Vương, những người trong ban tế lễ thường lạy 5 lạy để tỏ lòng biết ơn, tôn kính tới vua Tổ Hùng Vương đã có công khai sáng giống nòi Việt Nam.
 
Ngoài ra, 5 vái cũng được dùng để cúng Tổ khi không thể áp dụng thế lạy như trong trường hợp quá đông người và không có đủ thời gian để mỗi người lạy đủ 5 lạy.
 
Phong tục sinh ra là do thói quen từ lâu đời và đã được mọi người chấp nhận noi theo từ đời này qua đời khác, nhiều khi không giải thích rõ được lý do tại sao lại làm thế mà con cháu đời sau chỉ biết làm theo cho đúng.
 
Trong đó, tập tục thờ cúng là cách người Việt Nam ta biểu thị lòng nhớ ơn tổ tiên cũng như lòng thương và hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ. Đây là một truyền thống văn hóa tốt đẹp của người Việt mà chúng ta cần phải duy trì. 
 
Và điều quan trọng là cần nắm được cách lạy trong thờ cúng sao cho chuẩn xác để không phạm phải bất kính với các bậc bề trên.

 

Thói quen đơn giản nhưng lại có sức mạnh chuyển biến vận mệnh, thay đổi cuộc đời

Thói quen thay đổi cuộc đời theo lời Phật dạy, đơn giản thế thôi nhưng lại là "vũ khí" cực mạnh giúp ta tự cải biến vận mệnh của chính mình.

Đơn giản hóa mọi chuyện

Cuộc sống này là buồn đau hay là hạnh phúc, là may mắn hay là xui xẻo phần nhiều là do cách nhìn nhận của mỗi người. Sự “ám ảnh” của cái gọi là sướng khổ sẽ khiến con người ta cứ luôn phải vùng vẫy trong sự bế tắc do chính mình tạo ra. Vậy nên, hãy cứ đơn giản hóa mọi vấn đề xảy đến trong cuộc sống này để tâm thanh thản mà hưởng bình yên. 
 
Câu chuyện về Đức Phật sau đây sẽ giúp ta hiểu hơn tại sao việc làm này lại là một trong những thói quen thay đổi cuộc đời cốt yếu nhất. 
Giống như một người bình thường, Đức Phật được mọi người yêu mến và cũng bị không ít người ghét bỏ. Người người bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn với Ngài, thế nhưng cũng có người đã chẳng thể hiểu được những lời dạy của Ngài mà không tiếc lời xúc phạm. 
 
Con người ta khi nghe những lời xấu xí về mình là có thể ngay lập tức xù lông, người cáu giận, người buồn chán thất vọng. Song với Đức Phật, Ngài vẫn luôn giữ được sự bình thản đáng kinh ngạc.
Một lần, môn đồ của Ngài chứng kiến chuyện đó đã cảm thấy vô cùng khó hiểu, bèn hỏi Đức Phật tại sao lại có thể dễ dàng cho qua chuyện này. 
 
Khi ấy, Đức Phật trả lời bằng 1 câu hỏi: "Có một lần, ta đang đi vào rừng thì bỗng có một cành cây khô ở phía trên rơi xuống vai ta. Vậy ta có nên đánh cái cành cây đó vì nó làm ta bị thương không?".
"Tất nhiên là không rồi ạ, vì cành cây đó là vật vô tri vô giác, nó không hề cố ý rơi xuống vai Ngài nên Ngài không cần đánh lại nó", môn đồ thật thà trả lời.
 
"Vậy thì người đàn ông vừa sỉ nhục ta cũng giống như vậy. Chỉ là ta đã có mặt đúng lúc anh ta tức giận, và anh ta cũng không cố tình làm ta tức giận, nếu ta không ở đó thì anh ta cũng sẽ tức giận với người khác thôi. Vậy tại sao ta lại phải tức giận?”, Đức Phật điềm tĩnh trả lời. 
 
Thế mới thấy, sự việc xấu hay tốt đều do cách người ta nhìn nhận vấn đề mà ra. Nếu cứ giữ mãi những định kiến trong lòng thì chẳng thể nào có thể vui vẻ mà tận hưởng cuộc sống cả. Vậy nên, chỉ cần buông bỏ hết những thứ không cần thiết, không chấp niệm với bất cứ điều gì, chỉ là nghĩ thoáng hơn, đơn giản hóa tất cả thì cuộc sống của bạn cũng sẽ giản đơn mà nhẹ nhàng hơn rất nhiều rồi. 
Muốn được bình yên thì hãy cứ học theo thói quen này, tâm thanh thản mà an lạc trong cuộc đời.

Học cách cho đi

 
hoc cach cho di de duoc hanh phuc
 
Có môn đồ từng hỏi Đức Phật rằng, liệu cho người khác hạnh phúc thì có làm cho bản thân thiệt thòi đi không. 
 
Đức Phật hỏi lại: "Giống như việc một người cầm một ngọn nến đang cháy, những người khác đến xin lửa có làm cho ngọn nến bị tắt hay không?". 
 
Tất nhiên là ngọn nến ấy chẳng thể bị tắt chỉ bởi vì san sẻ cho người khác chút lửa của mình. Chỉ cần hiểu được những việc đơn giản mình làm có thể giúp ích cho người khác, cho xã hội là bạn đã có thể biến cuộc sống của mình trở nên tươi đẹp hơn rồi. 
 
Chẳng ai có thể sống cô độc một mình trên thế giới này, xung quanh ta là người thân, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, cả những người mà chúng ta chẳng hề quen biết. Bạn có tự tin rằng mình có thể sống tốt mà không cần nhờ đến sự giúp đỡ dù là nhỏ nhất của bất cứ ai, trong bất cứ việc gì hay không? Chỉ cần lúc này bạn đưa tay ra với mọi người thì chắc chắn sẽ có lúc bạn có thể được nắm lại những bàn tay ấy để đi qua những khó khăn mà mình gặp phải. Vậy nên mới nói, giúp đỡ người khác cũng chính là giúp chính mình.
 
Sự cho đi mà chúng ta dành cho mọi người, dù chỉ nhỏ thôi nhưng nó lại mang ý nghĩa thật cao đẹp. Cuộc sống tràn ngập tình yêu thương và lòng nhân ái thật đẹp đẽ biết bao. 

Khiêm tốn là tu dưỡng

 
khiem ton la tu duong
Ở đời muốn được người khác tôn trọng và nể phục thì bản thân mỗi người đều phải học cách sống khiêm tốn. Tu dưỡng được đức tính này vận mệnh chúng ta cũng sẽ biến chuyển theo chiều hướng ngày càng tốt lên. 
 
Dù là trong công việc, trong việc học hay trong đời sống thường ngày, việc giữ được lòng khiêm tốn trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng là tu dưỡng tâm tính, là tạo phúc về sau. 
 
Thế giới vận động mỗi ngày, những kiến thức cũng vì thế mà luôn sinh động và thay đổi liên tục, con người chúng ta nếu muốn thông tỏ sáng suốt thì chẳng thể làm gì khác ngoài việc không ngừng học hỏi. 
 
Cá nhân mỗi người đều cần thực hành thói quen thay đổi cuộc đời này, bởi khiêm tốn là để lắng nghe, khiêm tốn là để học hỏi, khiêm tốn là để thấy những thiếu sót của mình, khiêm tốn là để phát triển, khiêm tốn là để hoàn thiện bản thân. 
 
Đúng như lời Phật dạy, nền tảng của lương thiện là khiêm tốn, khởi nguồn của tà ác chính là ngạo mạn. Lúa càng chín càng rũ đầu cúi thấp, nói lời khiêm tốn chính là một cảnh giới của sự tu dưỡng.

Chấp nhận sự thay đổi

 
Cuộc sống vốn không có gì là hoàn hảo cả, bản thân con người biết chấp nhận sự thay đổi, buông bỏ chấp niệm thì tự thân tâm mới mong được thanh thản, chẳng lo sầu. 
 
Mỗi người chúng ta dù già hay trẻ, giàu hay nghèo, sướng hay khổ đều phải trải qua quy luật của tạo hóa về sinh – lão – bệnh – tử, chẳng ai có thể tránh được. Vì vậy, chỉ có vui vẻ chấp nhận thực tại thì mới có thể sống trọn vẹn và ý nghĩa từng phút, từng giây, từng hơi thở của cuộc đời. 
 
Thói quen thay đổi cuộc đời này nghe có vẻ đơn giản nhưng thực chất lại là một trong những việc khó khăn nhất. Chỉ khi con người ta dùng cái khiêm tốn của mình để học và biết cách chấp nhận thì bản thân mới có thể giải thoát khỏi những nghi hoặc thị phi, những phiền não đau khổ trong cuộc đời này.
 
Thay đổi cần dũng khí mà muôn chấp nhận thì ta còn cần đến dũng khí nhiều hơn. Dù có khổ cực đến đâu, chỉ khi tâm hồn bạn rộng mở, yêu thương được trao đi, chấp niệm trong lòng được xóa bỏ mà sống, mà đối đãi với mọi người thì khi ấy chính là bạn đang tận hưởng cuộc sống, khổ đau hay hạnh phúc cũng chẳng màng. 

Thiền chính niệm

 
hanh thien chinh niem thay doi cuoc doi
 
Phật dạy rằng, “Khi xúc chạm việc đời/ Tâm không động, không sầu/ Không uế nhiễm, an ổn/ Là điềm lành tối thượng.”
 
Nếu thân tâm muốn đạt đến trong sáng, thanh tịnh, không vọng động, không tham sân si, khỏe mạnh, không bệnh tật, không thuận ứng nghịch ứng, an nhiên tự tại thì chúng ta phải hành thiền, thiền chính niệm. 
 
Những thói quen cũ sẽ dần được xóa bỏ khi chúng ta hành Thiền một cách nghiêm túc. Hành Thiền giúp ta đối diện với mọi hỷ nộ ái ố của cuộc sống một cách an nhiên nhất. Tâm có tĩnh mới nhìn thấy, quan sát thấy được bản chất của mọi vấn đề, mới có tìm ra được hướng đi đúng đắn nhất. 
 
Nhờ Thiền mà cái tâm chúng ta mới từng bước thoát khỏi khổ ưu, lạc hỷ, tâm được giải thoát, chính là tâm không động, không sầu, không uế nhiễm, an ổn đúng như lời răn dạy của Phật. 

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.