bài viết mới

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân

ĐỌC KINH BỐN MƯƠI HAI BÀI
Cao Huy Thuần

Trong câu chuyện đạo chiều chủ nhật hôm nay, tôi làm một việc giản dị là đọc quyển Kinh 42 Bài do Hòa Thượng Trí Quang dịch và chú giải (1). Hòa Thượng Thiện Siêu cũng đã dịch kinh nầy từ năm 1959, nhưng ở xa, tôi không có bản dịch của Hòa Thượng Thiện Siêu.
Kinh 42 Bài là dịch từ chữ Hán Tứ Thập Nhị Chương. Kinh nầy có nhiều bản chữ Hán. Bản lưu hành cho đến gần đây, theo sự ước đoán của Hòa Thượng Trí Quang, căn cứ trên văn ngữ và văn phong, chắc ra đời sớm nhất vào khoàng đầu Tống. Hòa Thượng tìm ra được bản xưa hơn, có lẽ là xưa nhất, mà Hòa Thượng ước đoán đã có mặt từ thời Hậu Hán hoặc Tam Quốc. So sánh hai văn bản, Hòa Thượng rút ra nhiều nhận xét lý thú. Tôi học theo Hòa Thượng để triển khai ba vấn đề mà tôi sẽ trình bày:
    1. Nội dung rất nguyên thủy của Kinh 42 Bài;
    2. Vài nét đại thừa trong văn bản xưa;
    3. Những thêm thắt của ngôn ngữ thiền trong bản mới.
ducphat
Tượng Đức Phật Thích Ca tại Nha Trang
I.Nội dung rất 'nguyên thủy':
Kinh 42 Bài, như tôi vừa nói, được Trung Quốc dịch rất sớm, thời Hậu Hán. Có nơi còn ghi rằng 'Kinh 42 Bài là kinh đầu tiên ở Trung Hoa'. Đây là 42 bài kinh ngắn, rất ngắn, rút ra từ các kinh lớn, chủ yếu là để huấn dụ các vị xuất gia. Tuy vậy, giới tại gia đọc kinh vẫn thấy lợi ích, mỗi ngày đọc một bài thì thấy ngày đó thơm. Đó là cảm giác của tôi.
Kinh điển Phật giáo, như ai cũng biết, vô cùng rộng, vô cùng sâu. Trong biển kinh tạng mênh mông đó, làm sao rút ra 42 lời huấn dụ, vừa ngắn, gọn, dễ hiểu, vừa chứa đựng tinh túy của giáo lý? Chuyện khó đầu tiên của việc trích truyển là lựa chọn. Ở đây, sự lựa chọn không phải chỉ khó vì kinh điển mênh mông, mà còn khó vì trường phái trăm hoa đua nở.
Người tuyển chọn đã lấy một quyết định rõ rệt: nhìn cây từ gốc, và gốc đó hiển nhiên là lý thuyết tứ diệu đế. Tứ diệu đế xuyên suốt quyển kinh, một cách nhất quán, từ đầu đến cuối.
Ngay từ bài đầu tiên: 'Phật nói, từ biệt cha mẹ, xuất gia hành đạo, nên gọi là sa môn. Thường giữ 250 giới, làm theo tứ đế, bước tới thanh tịnh, thành A la hán.' Ngay từ câu đầu tiên, và chỉ một câu đó thôi, lý tưởng tu hành của nguyên thủy đã được xác nhận trong bốn từ ngữ: tứ đế, giới, bước tới, A la hán.
Tứ đế, ai cũng biết: khổ, tập, diệt, đạo. Khổ, nguyên nhân của khổ, diệt khổ, con đường đưa đến diệt khổ.
Giới: sự tu dưỡng. Giới thường đi với Định và Tuệ. Trong quyển kinh nầy,tôi không thấy nói tới định và tuệ một cách khẩn thiết, mà chỉ thấy nhấn mạnh dai dẳng đến giới. Có thể vì đây là quyển kinh dành cho các vị xuất gia. Cũng có thể vì ảnh hưởng của tiểu thừa.
Bước tới: tâm chí bước tới. Quyển kinh nhấn mạnh đến hạnh tinh tấn mà tôi sẽ nói nhiều sau đây.
A la hán: ngay từ câu đầu, quyển kinh đã xác nhận rằng lý tưởng của người tu hành là A la hán, nghĩa là lý tưởng tiểu thừa. Phật cũng chỉ là một A la hán. Đây là điểm mà đại thừa bác, là đầu mối của sự phát triển lý thuyết đại thừa.
Từ bài 2 trở đi, hầu như tất cả đều nói tới giới, nghĩa là con đường đưa đến diệt khổ. Chịu khó phân chia tỷ mỷ và gượng ép, tôi thấy các vấn đề sau đây được đề ra: vô ngã: 1 bài, vô thường: 2 bài, thiện ác: 4 bài, sám hối: 1 bài, bố thí: 2 bài, tinh tấn: ít nhất cũng 7 bài.
Đề mục được nói nhiều nhất, như chỉ luồn kim từ bài đầu đến bài cuối, là ái dục. Quyển kinh, vì vậy, rất nhất quán. Đây là một lời khuyến cáo, nhắn nhủ khẩn thiết và ân cần: muốn tu hành được, muốn đắc đạo, phải bỏ ái dục tận gốc.
Tôi lựa chọn một số bài để đọc ra đây, lần lượt theo thứ tự các đề mục vừa trình bày ở trên.
1.Vô ngã: trong bài 18, và chỉ một bài thôi.
'Phật nói, một cách chín chắn và thuầnthục, hãy tự nghĩ nhớ, trong cơ thể, bốn đại đều có tên riêng, không có cái ngã ký sinh ở đó. Ký sinh ở đó đi nữa thì cũng không vĩnh cửu, sự việc chỉ như ảo thuật mà thôi.'
Tứ đại, hiểu một cách thông thường, là đất, nước, gió, lửa, bốn nguyên tố tạo thành cái mà tôi gọi là tôi. Một trong bốn nguyên tố đó bất thần đình công thì cái mà tôi gọi là tôi chẳng thấy còn ở đâu nữa. Như đi coi hát xiệc.
2.Vô thường: được nói trong hai bài 16 và 37. Tôi chỉ đọc bài 16:
'Phật nói, nhìn trời đất hãy nhớ vô thường, nhìn núi sông hãy nhớ vô thường, nhìn vạn hữu hình thái phong phú hãy nhớ vô thường. Giữ tâm trí như vậy thì đắc đạo mau chóng.'
Bài 37, không cần đọc, ai cũng biết. Phật hỏi một vị sa môn: sinh mạng con người tồn tại trong bao lâu. Vị đó nói 'trong vai ngày', tưởng như vậy là thuọc bài, không ngờ bị Phật chê. Vị thứ hai, láu lỉnh hơn, hạ xuống còn 'một bửa ăn'. Phật chê. Vị thứ ba sáng tạo tài tình; Sinh mạng con người không dài hơn một hơi thở. Thở ra, rồi không thở vào nữa: thế là xong một kiếp người! Phật khen: 'Hay thay, ông đáng được gọi là người hành đạo.'
Tôi nghĩ: vấn đề không phải là nói cho hay, cho bóng bẩy, vấn đề là nói cho thật. 'Vài ngày' là không thật. 'Một bửa ăn' là không thật. Trong chúng ta đây, ai cũng lẫm liệt ba, bốn mươi năm trở lên. Một hơi thở là thật, không có gì thật hơn. Nói 'một bửa ăn''vài ngày' là còn thấy khối xương thịt nầy quá to, còn thấy mình quá vĩ đại. Hãy thử đặt con người trong cái vũ trụ vô cùng, trong thời gian vô tận thì nó là cái gì nếu không phải chưa được là hạt bụi? Saint-Exupéry vẽ một hình ảnh độc đáo: ông cho chú bé hoàng tử của ông lạc bước trên một hành tinh, nơi đó chỉ có độc nhất một người ở, và người đó làm mỗi một công việc duy nhất nhất là thắp cây đèn duy nhất ngoài đường. Hành tinh xoay một cái là sáng, xoay một cái là tối, vừa sáng đã tối, cho nên người thắp đèn vừa mới thắp đèn là đã phải tắt đèn, vừa mới tắt đèn là đã phải thắp đèn, thắp, tắt, tắt, thắp liên tục. Sinh mạng con người cũng chỉ thế thôi: vừa thắp đã tắt.
3. Thiện ác: ba bài liên tiếp: 3, 5, 6. Bài 3 nói đến mười sự ác, bỏ mười sự ác đó thì được mười sự lành. Ba sự ác do thân mà ra: sát sanh, trộm cướp, dâm dục. Bốn sự ác do miệng: ly gián, mắng chưởi, dối trá, thêu dệt. Ba sự ác do ý: ganh ghét, tức giận, u mê. Mười sự tạo nên nghiệp. Tránh được mười sự đó thì 'chắc chắn đắc đạo'. Phật nói thế. Nhưng Phật tha cho chúng ta năm sự, chỉ buộc người tại gia chúng ta giữ ngũ giớI thôi: không sát sinh, không trộm cướp, không dâm dục, không nói dối, không uống rượu.
Trong chúng ta, chắc chẳng có ai sát sinh. Nhưng các sự kia thì tôi không biết. Ngoài ra, có một thứ trộm cướp đang làm chúa tể hiện nay: tham nhũng. Tham nhũng là trộm cướp, hãy nói thẳng như vậy. Ủại Trí Độ Luận định nghĩa trộm cướp là 'không cho mà lấy' (2). Trong mánh mung tham nhũng, không bao giờ có sự 'cho'. 'Có ba trăm lạng việc này mới xong' là không có cho, chỉ có lấy. Và lấy như vậy, tức là cướp mạng người, tức là sát sinh, Đại Trí Độ Luận nói rõ như vậy. Tôi trích:
'Mạng sống có hai: trong và ngoài. Nếu cướp tài vật, ấy là cướp mạng ngườI, vì sao? Vì mạng sống dựa nơi cơm ăn, áo mặc...mới sống. Nếu cướp, nếu giật, ấy gọi là cướp mạng ngoài, như kệ nói:
Hết thảy chúng sanh
Lãy áo cơm nôi sống
Hoặc cướp hoặc trộm lấy
Ấy gọi là cướp mạng' (3).
Ông (bà) tham nhũng, ấy là ông (bà) đang giết người. Đố ông (bà) chạy thoát cho được. Phật nói trong bài 5: hét lên một tiếng thì y như có tiếng vang dội theo; đi ra mặt trời thì y như bóng mình đi theo với mình. Gieo nhân nào thì gặt quả ấy. Sống ở đời mà chỉ ăn đô la thì chết xuống âm phủ Diêm Vương nó chẳng cho cơm mà nhai đâu, chỉ bắt nhai tiền.
Nhưng đó là Diêm Vương. Phật thì không như vậy: ai cho ác, Phật trả lại lành:
'Có người nghe phong cách của Như Lai là giữ đại nhân từ, ác đến thì trả lành, nên đến mắng Như Lai. Như Lai yên lặng, không trả lời, thương họ làm thế là vì si cuồng. Mắng rồi, Như Lai hỏi, ông đem lễ vật biếu người, người không nhận thì lễ vật ấy đem về đâu? Đem về cho tôi. Văy ông mắng Như Lai, Như Lai không nhận thì ông cũng tự nhận lại, gây họa cho mình.’(bài 5).
Và Phật khuyên hãy cư xử như thế nầy:
‘Phật nói, người ác hại người hiền, thì như ngửa mặt lên trời mà nhổ nước dãi, nước dãi không bẩn trời mà lại bẩn mình; như ngược gió tung bụi, không dơ người mà lại dơ bản thân.’ (bài 6).
4. Bố thí: được nói trong hai bài 7 và 7. Tôi đọc bài 8:
‘Phật nói, thấy người bố thí, hãy giúp một cách vui vẻ, thì cũng được phước báo. Hỏi, phước ấy có giảm bớt đi không? Phật nói như lửa nơi một cây đuốc, hàng ngàn hàng trăm người đem đuốc đến lấy lửa ấy mà nấu ăn, soi sáng, lửa ấy vẫn như cũ. Phước ấy cũng như vậy.’
Bố thí là hạnh số một trong đại thừa, nên tôi không nói nhiều ở đây, chỉ xin nói một cách thấp thấp và rất thực tế. Là như thế nầy: người nào không muốn nhai đô la trước mặt Diêm Vương thì nên suy ngẫm bài kinh nầy. Hãy lấy đô la đó mà làm việc thiện ngay từ bây giờ. Đốm lửa mà người đó thắp lên từ ngọn đuốc trong bài kinh sẽ soi sáng đường đi của họ và không dẫn họ đi đến nơi tăm tối, chỗ mà ai có nợ đều phải trả.
5. Tinh tấn. Bởi vì tu là phải tinh tấn, cho nên bài nào cũng nói đến tinh tấn, rõ nhất là trong các bài 15, 17, 32, 33, 34, 38, 39. Tôi chỉ đọc ở đây hai bài. Một đoạn trong bài 32:
‘Phật nói, hành đạo là như một người chiến đấu với muôn người. Mặc áo giáp, cầm vũ khí, tiến ra chiến trường. Nhưng rồi có kẻ khiếp đảm, tự lui mà chạy; có kẻ nửa đường bỏ về; có kẻ quyết chiến mà chết; có kẻ đại thắng mà về, thiên chuyển lên cao.’
Thế nhưng tinh tấn không có nghĩa là nóng nảy, quá độ, nhảy vọt. Bài 33 dạy như thế nầy, tôi nghĩ áp dụng trong bất cứ lĩnh vực nào cũng đúng:
‘Có vị sa môn đang đêm tụng kinh tiếng nghe rất buồn, có vẽ hối tiếc, lưỡng lự, muốn trở về thế tục. Phật gọi mà hỏi, khi ông ở nhà thì đã làm gì? Thưa thường đánh đàn. Giây đàn dùi thì thế nào? Thưa không kêu. Giây đàn căng thì thế nào? Thưa mất tiếng. Căng dùi vừa phải thì thế nào? Thưa, âm điệu phát ra đủ cả. Phật nói, học đạo cũng phải như vậy, giữ cho tâm trí chừng mực thì đạo phải được.’
Như vậy tu la vui hay buồn? Phật nói: vui lắm; hãy nếm lời Phật nói rồi thấy như nếm đường phèn: bên ngoài cũng ngọt, hai bên cũng ngọt, ở giữa cũng ngọt, đâu cũng ngọt cả. Thích thú như vậy là đắc đạo (bài 39).
6. Bây giờ tôi đến đề tài cuối cùng, ddề tài quan trọng nhất, bàng bạc khắp cả quyển kinh, thử tính sơ sơ: bài 1, 2, 11, 12, 13, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 28, 28, 30, 31, 32, 40, 41. Đó là ái dục; chặt đứt nó được thì thấy niết bàn. Không một chữ nào trong quyển kinh nói đến thập nhị nhân duyên, nhưng ai cũng biết ái dục là khâu quan trọng nhất trong mười hai nhân duyên, từ đó mà đưa đến sinh tử luân hồi, quẩn quẩn quanh quanh trong vòng sống chết.
Tôi chọn đọc vài bài, bài 2 trước tiên, vì bài nầy đưa ra hình ảnh vị sa môn thời nguyên thủy:
‘Phật nói, cạo bỏ râu tóc, làm bậc sa môn, tiếp nhận lấy đạo, thì hãy rời bỏ tài sản thế gian, khất thực vừa đủ. Mỗi ngày đứng bóng ăn một bữa, mỗi đêm duới cây ngủ một lần, thận trọng đừng thêm. Làm cho người u mê, tồi tệ chính là ái dục.’
Ăn ngủ biết vừa đủ: đó là khuất phục ái dục. Khuất phục hoa danh (bài 19); khuất phục tiền của (bào 20); khuất phục sắc đẽp (bài 20, 22, 26); khuất phục sự ràng buộc vợ con (bài 21); khuất phục dâm, nộ, si (bài 23); khuất phục nữ sắc (bài 24); khuất phục tình dục (bài 27, 28, 29, 30), ôi, Phật thừa biết rằng cuộc chiến đấu đó gay go lắm, giống như con trâu cày ruộng, chân ngập trong bùn sâu:
‘Phật nói, sa môn hành đạo là như con trâu mang nặng, đi trong bùn sâu, mệt nhọc đến mấy cũng không dám ngoái nhìn hai bên, mà phải đi cho mau, rời khỏi bùn sâu, mới được nghỉ ngơi. Sa môn coi ái dục còn hơn bùn sâu, nên thẳng tắp một mặt mà hành đạo, mới có thể thoát khỏi mọi sự khổ lụy.’ (bài 41).
Nhưng chân lý là chân lý, và chân lý đó không phải chỉ đúng đói với các vị sa môn mà đúng cho tất cả mọi người, nghĩa là cho cả chúng ta. Giản dị vô cùng:
‘Phật nói, con người do ái dục mà lo buốn, do lo buồn mà sợ hãi. Không ái dục thì không lo buồn, không lo buồn thì không sợ hãi.’ (bài 31).
Phật nói thêm:
‘Con người đói với ái dục thì cũng như cầm đuốc lửa mà đi ngược gió, ngu mà không bỏ đuốc xuốngthì tất bị cháy tay.’ (bài 23).
Đúng là ngu! Biết ngu ấy là bước đầu trên con đường diệt khổ. Rồi càng bước, càng thấy thanh tịnh. Bởi vậy quyển kinh kết thúc bằng một câu nói mà ai thể hiện đều thấy đời sống nhẹ nhàng:
‘Phật nói, Như Lai coi cái ngôi vương hầu như khách trọ, coi cái qúy vàng ngọc như sỏi đá, coi cái đẹp tơ lụa như giẻ rách.’(bài 42).
II. Vài nét Đại Thừa:
Trên đây tôi đọc khá nhiều bài kinh, cốt để các bạn thấy nét chính của cả quyển kinh: tính chất mộc mạc. Không lý thuyết cao xa, không văn chương bóng bẩy, lời bình dị, ý dễ hiểu, quyển kinh gói gém hành trang lên đườngcủa một sa môn vừa hành đạo. Phật tiễn vị đó lên đường và dặn dò: ‘Hành đạo thì như cái cây trong dòng nước, hãy theo dòng nước mà trôi đi, không mắc bờ bên kia, không mắc bờ bên nầy, không bị người với lấy, không bị qủy thần ngăn chận, không bị nước xoáy làm đùng lại, không bị thối rã, thì Như Lai bảo đảm cây ấy vào được biển cả.’ (bài 25).
Như tôi đã nói ở trên, quyển kinh đặc biệt nhấn mạnh giới, điều mà tiểu thừa trân trọng bảo tồn, nhiều khi bảo tồn đến mức bảo thủ. Trong ba phương pháp giới, định, tuệ mà Phật dặn dò, đại thừa lại có khuynh hướng đặc biệt nhấn mạnh đến tuệ, phát triển lên đến chót vót cao xanh khả năng lý thuyết trừu tượng siêu việt của các đại triết gia Phật tử. Tuệ được nói đến trong hai bài kinh, vẫn với lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng ý nghĩa sâu thẳm. Tôi đọc bài kinh 12:
‘Phật nói, lành là gì, là chí hành đạo. Lớn là gì, là chí nguyện phù hợp với đạo. Mạnh nhiều là gì, là nhẫn nhục; nhẫn nhục thì không thù oán, tất được người trọng. Sáng nhất là gì, là dơ bẩn của tâm trí được trừ hết, hành vi của tội ác được diệt sạch, ngay từ bên trong mà sáng không tỳ vết, thì vô thỉ đến giờ, vũ trụ có gì, dầu chưa manh nha, cũng biết, thấy và nghe cả: được tuệ giác biết toàn bộ mới là sáng nhất.’
Gác qua một bên hai chữ nhẫn nhục, vốn là một trong những hạnh bồ tát lớn nhất của đại thừa, tôi chỉ nói đến chữ ‘sáng’, sáng không tì vết, sáng từ bên trong, ý chính của bài kinh. Làm thế nào để tâm trí được sáng? Trừ hết dơ bẩn. Làm thế nào trừ hết dơ bẩn? Diệt sạch hành vi của tội lỗi. Bài kinh đề cao hành vi, bởi vì hành vi tạo ra nghiệp. Mới nghe thì có vẽ giản dị. Nhưng phát triển ý đó ra thì tư tưởng đại thừa vô cùng phong phú. Trước hết, hành vi thì có, nhưng tác giả của hành vi có hay không? Cái ‘tôi’ đã là không có, thì ai tạo ra hành vi, ai chịu nghiệp? Ai tu? Ai chứng? Đừng hỏi thì thôi, hỏi thì đi học tập ngút ngàn trong rừng rậm đại thừa. Muốn tìm lối ra, phải nhai cho được một chữ khó nuốt là chữ tâm. ‘Hết thảy chúng sinh do tâm tư tưởng khác nhau nên tạo nghiệp khác nhau, vì vậy mà có sự luân chuyển trong mọi nẽo đường’ (4). Tâm tưởng tạo ra hành vi, biểu lộ qua thân, miệng, ý. Nhưng tâm là gì, cứng hay mềm, tròn hay méo, nằm ở đâu trong lục phủ ngũ tạng? Mình biết là nó có, bởi vì mình biết tâm an hay bất an. Nhưng nó ở đâu, lấy ra xem chơi, thì chịu. Vậy mà mở quyển kinh đại thừa nào ra ũng thấy nó. Nó ở cùng khắp. Thử đọc:
‘Tâm thì không có hình sắc để có thể nhận thấy. Nó chỉ do các pháp không thật tập hợp lại mà phát khởi ra, hoàn toàn không có chủ thể, không phải bản ngã và sở hữu của bản ngã. Dạu rằng tùy nghiệp mà biểu hiện khác nhau, nhưng thật sự trong đó không có cái chủ thể tạo tác. Do đó các pháp toàn là không thể tư duy mô tả, thực chất giống như huyển ảo. Người có trí tuệ biết như vậy thì hãy tu tập thiện nghiệp.’ (5).
Tác giả của hành vi là ai? Là tâm. Nhưng tâm có hay không? Lại phải hiểu chữ ‘có’. Lại phải hiểu chữ ‘không’. Giữa thiện và ác, giữa hành vi và tác giả, đại thừa dựng lên chữ ‘không’, căn bản của tất cả lý, hạnh, quả, thật tánh của sự vật, mà bát nhã gọi là ‘không tam muội’. Đây là ý niệm tuyệt đối về ‘không’, là ‘không’ tuyệt đối, chứ không phải là ‘không’ đối đãi, không đối với có. Phật nhấn mạnh mối liên lạc giữa không tam muội với chứng ngộ của Phật:
‘Xá Lợi Phất, khi ta chưa được tuệ giác Phật đà, ngồi dưới cây bồ đề đại thọ nghĩ rằng chúng sanh vì không được phương pháp gì mà phải lưu chuyển sinh tử, không được giải thoát? Ta lại nghĩ cxhúng sanh vì không có không tam muội nên lưu chuyển sinh tử mà không cứu cánh giải thoát...Được không tam muội thì được Vô nguyện tam muội, được Vô nguyện tam muội thì thành tựu vô thượng giác’. Thì sáng.
Thấy ‘không’ thì sáng. Sáng thì sạch nghiệp, thì không tạo ra nghiệp mới nữa. Phật giải thích cho Xá Lợi Phất: ‘Không tam muội thì không chấp ngã, nhân, thọ mạng, không chấp chúng sanh, không chấp các hành, nên không tạo nghiệp mới, không tạo nghiệp mới nên không còn hậu nữu, không còn hậu hữu thì không có quả báo khổ vui của thế gian’ (6).
Sáng làm cho sạch nghiệp. Nhưng sáng đó từ đâu mà đến? Đột nhiên mà đến hay phải qua một quá trình tu chứng? Cả quyển kinh nhấn mạnh giới, thì đương nhiên bài kinh 12 không tách rời tuệ ra khỏi giới, tuệ với giới liên hệ qua lại mật thiết với nhau. Làm sạch thân, miệng, ý thì tâm trí mới sáng, tâm trí sáng thì thân, miệng, ý cũng nhờ đó mà sạch, càng sạch càng sáng, sáng thì sạch nghiệp. Bởi vậy, tu là tu bằng giới và tu bằng tuệ. Kinh Mười Thiện Nghiệp nói rõ: ‘Tu tập bằng giới thì có năng lực phát sinh tất cả lợi ích chân thật trong Phật pháp, đầy đủ chí nguyện vĩ đại’; tu tập bằng tuệ thì ‘hủy diệt được mọi thứ quan điểm sai lầm của sự phân biệt’ (7). Ý niệm phân biệt là ý niệm phải trừ khử, bởi vì đó là gốc của vọng kiến, của bóng tối trong tư tưởng. Phân biệt là phân biệt anh với tôi, chủ thể với đói tượng, cái nhìn với đóa hồng, chân như với sinh diệt, phiền não với niết bàn, vĩnh cữu với hư vô, hữu hạn với vô hạn, cố định với chuyển biến, có với không, nghĩa là tu tưởng nhị nguyên mà Phật giáo dứt khoát bác bỏ. Phân biệt thì không thấy được toàn thể, không thấy được bản chất của sự vật, không thấy được ‘không’, không sáng. Làm sạch thân, miệng, ý là con đường dẫn đến cái sáng. Đó là cái sáng trong vắt, xuyên suốt thời gian, xuyên suốt không gian, cái sáng phi thường mà phải đọc kỷ câu kinh để thấy choáng ngợp: ‘Từ vô thỉ đến giờ, vũ trụ có gì, dầu chưa manh nha, cũng biết, thấy và nghe cả.’ Đó là cái sáng của tuệ giác, cái sáng của Phật. Chắc tôi không bao giờ có được cái sáng đó. Nhưng tôi có thể chắc chắn một điều là tôi đã bắt đầu ‘hiểu’ được cái sáng đó, và nếu tâm tôi càng gần Phật thì cái hiểu sẽ đưa tôi đến cái ‘thấy’ lúc nào không hay. Đại thừa phát triển cao độ sự khác nhau giữa biết và thấy. Sáng, là biết và thấy. Cả hai sự việc phải xảy ra cùng một lần. Bởi vì khi cả hai xảy ra cùng một lần thì chủ thể và đối tượng mới không còn là hai nữa: chúng nhập với nhau làm một, hết phân biệt. Phật nói với ông Ma La Ca: ‘Thấy là thấy, nghe là nghe, hay là hay, biết là biết...’ (8). Nghĩa là gì? Nghĩa là chân lý chỉ có thể thấy một cách trực tiếp. Thấy, là thấy trực tiếp, tự bản thân, bằng kinh nghiệm. Biết, nhiều khi là biết qua trung gian. Thấy, thì không có khoảng cách gì nữa giữa cái thấy và cái được thấy. Thấy như vậy thì mới có cái thấy bừng sáng. Thấy như vậy là tuệ giác. Đó là cái thấy nói trong bài kinh 13 và 14:
‘Phải hết cả dơ bẩn của tâm trí thì biết xuất xứ của nghiệp thức, biết sống chết về đâu, biết thế giới chư Phật ở đâu.’ (bài 13). Phật nói: ‘Học đạo thì như cầm đuốc vào trong nhà tối, tối hết mà sáng còn; học đạo mà thấy thánh đế thì ngu si diệt hết, được sự thấy toàn thể.’ (bài 14). Chỉ vài câu thôi, ba bài kinh 12, 13 và 14 đã động đến những lý thuyết rắc rối nhất trong tư tưởng đại thừa.
Bây giờ tôi đọc vài bài kinh khác có liên quan đến tư tưởng đại thừa. Những đề tài nầy đơn giản hơn.
Trước hết chúng ta hãy tượng tượng đoàn thể tăng già quây quần chung quanh Phật lúc Phật còn tại thế. Phật là vô thượng. Chung quanh Phật là các đệ tử, A la hán, trí thức bậc nhất, thần thông bậc nhất. Nhưng Phật không phải chỉ xây dựng một đoàn thể tăng già. Phật còn hóa độ cho mọi tầng lớp người, nghĩa là Phật còn xây dựng một nền móng cư sĩ. Nếu tăng già ở trong tu viện tượng trưng cho chiều hướng trí thức, ‘qúy tộc’ của đạo Phật, thì quần chúng ở bên ngoài tượng trưng cho chiều hướng ‘dân chủ’, ‘xã hội’. Một bên thì ngồi đơn độc, thám hiểm tâm linh của chính mình, đi sâu vào bên trong để tìm giải thoát. Một bên thì trãi rộng tâm từ ra khắp chúng sinh, sau khi đã có con mắt tuệ, để đüa ai nấy qua bờ bên kia. Ở đây, ai cũng biết lý tưởng bồ tát của đại thừa khác với lý tưởng A la hán của tiểu thừa như thế nào rồi, nên tôi khỏi nói thêm. Chỉ nhắc đến chiều hướng xã hội của đại thừa. Đi vào xã hội, tất nhiên phải npói đến gia đình, phải nói đến chính trị, dù chỉ một chút xíu thôi. Chút xíu đó được nói phớt qua, nhưng tôi nghĩ là quan trọng lắm, trong bài 36. Xin đọc:
‘Phật nói, thoát đường ác mà được làm người là khó, được làm người mà làm đàn ông là khó, làm đàn ông mà đủ giác quan là khó, đủ giác quan mà sinh xứ trung tâm là khó, sinh xứ trung tâm mà được thờ Phật pháp là khó, được thờ Phật pháp mà gặp quân vương đạo đức là khó, gặp quân vương đạo đức mà sống trong gia đình bồ tát là khó, sống trong gia đình bồ tát mà tín ngưỡng tam bảo gặp nhằm đời Phật là khó.’
Gia đình tốt thì đạo Phật thịnh. Quân vương biết đạo đức thì nước sạch sẽ văn hóa. Đạo Phật không tách rời xã hội. Trong hai buổi công phu sáng chiều, các chùa ở Việt Nam vang dội bốn câu hồi hướng như thế nầy:
Lại càng nguyện ước
Quốc gia yên ổn
Chinh chiến tiêu tan
Mưa gió thuận hòa
Dân chúng an lạc
Trong bốn ân của Phật tử, ân đối với quốc gia là một. Phật tử chúng tôi không muốn gì hơn là được mãi mãi mang ơn các vị quân vương biết đạo đức. Bởi vì sao? Bởi vì các vị như vậy là bồ tát của chúng tôi.
Bài kinh thứ 9 nhấn mạnh một đề tài khác, vốn là đặc điểm lớn của đại thừa. Không người Việt Nam nào không cảm được cái đẹp của một ngày đẹp nhất trong năm: ngày Vu Lan. Bởi vì ai cũng có mẹ, và trước khi thành Phật thì phải được mẹ sinh ra. Chưa bài kinh nào đề cao chữ hiếu thiết tha đến thế, Hòa Thượng Trí Quang nói như vậy. Tôi chỉ đọc, khỏi minh họa gì thêm:
‘Phật nói, đãi cơm một trăm ngươi thường không bằng một người tốt. Đãi cơm một ngàn người tốt không bằng một người giữ năm giới. Đãi cơm một vạn người giữ năm giới không bằng một vị Tu đà hàm. Hiến cơm ngàn vạn Tu đà hàm không bằng một vị A na hàm. Hiến cơm một ức A na hàm không bằng một vi A la hán. Hiến cơm mười ức A la hán không bằng một vị Bích chi Phật. Hiến cơm trăm ức bích chi Phật không bằng đem giáo huấn của Tam bảo mà hóa độ song thân một đời. Hóa độ song thân ngàn ức đời không bằng hiến cơm một người học tập theo Phật, nguyện được như Phật để cứu vớt chúng sinh. Hiến cơm người như vậy thì phước sâu dày nhất. Còn phụng thờ trời đãt quỉ thần thì không bằng hiếu thảo cha mẹ; cha mẹ là thần linh bậc nhất.’
Đề tài cuối cùng có liên quan đến ảnh hưởng đại thừa là đề tài mà tôi đã nói quá nhiều ở phần đầu, nghĩa là đề tài chung của việc tu tập, không phân biệt tiểu thừa hay đại thừa. Tu tập thì gặp nhiều ma. Mà con ma ác hại nhất không ai khác hơn là con ma phăm, con ma đàn bà. Ma ơi, ta với ngươi như cỏ với lửa, lửa đến thì phải lẹ lẹ tránh xa! (bài 28). Đàn bà là thử thách lớn nhất của người tu hành. Phật nói: ái dục không gì hơn sắc đẽp. Sắc đẽp tạo ra ái dục thì không gì lớn bằng. Lớn đến nổi Phật phải nói đến mức nầy: ‘Nhờ chỉ có một cái như vậy, giả sử có cái thứ hai thì thiên hạ không còn ai hành đạo được nữa’ (bài 22).
Muốn đánh bạt nữ sắc, phương pháp của người tu hành là quán. Nhan sắc kia thực chất chỉ là một túi da chứa đầy đồ dơ bẩn (bài 24). Nhưng đàn bà cứ lượn qua lượn lại trong khi người hành đạo phải đi vào xã hội thì sao! Hãy như thế nầy để gần bùn mà thơm:
‘Phật bảo các vị sa môn, thận trọng, đụng nhìn phụ nữ. Phải nhìn thì thận trọng đừng nói chuyện. Phải nói chuyện thì sắc lịnh cho tâm trí đi theo nẻo chánh, rằng ta là sa môn, ở trong cuộc đời dơ bẩn nầy ta phải như đóa sen không dính bùn lầy. Già thì coi như mẹ, lớn thì coi như chị, trẻ thì coi như em, nhỏ thì coi như con. Cẩn trọng mà giữ uy nghi, ý thức càng phải đúng thánh đế’ (bài 27).
III. Ngôn ngữ Thiền trong bản kinh sau:
Bản kinh được lưu hành cho đến gần đây là bản mà Hòa Thượng Trí Quang cho là ra đời vào khoảng nhà Tóng, nghĩa là giai đoạn hoàng kim của thiền ở Trung Quốc. So sánh bản kinh nầy với bản kinh khi nãy, điểm rõ rệt nhất là ngôn ngữ thiền được thêm thắt vào quyển kinh. Hòa Thượng Trí Quang chê là hoa gấm thiền làm hỏng cái duyên mộc mạc của bản kinh. Giống như cô gái quê của Nguyễn Bính, đi tỉnh về hôm qua, chẳng thấy thêm gì, chỉ thấy ‘hương đồng gió nội bay đi ít nhiều’. Chỉ đọc là đủ thấy. Bài 1: ‘Phật nói, từ biệt cha mẹ, thoát ly gia đình, thể nhận tự tâm, thấu suốt bản thể, hội nhập vô vi, nên gọi là sa môn. Thường giữ 250 giới, động và tĩnh đýu thanh tịnh...’
Bài 2 chải chuốt hơn nữa: ‘Phật nói, đã xuất gia làm sa môn thì dứt bỏ ái dục, thể nhận nguồn gốc của tâm, thấu suốt lý sâu của Phật, hội nhập vô vi, trong không thủ đắc, ngoài không mong cầu, tâm trí không ràng buộc vào đạo, cũng không kết thắc vào nghiệp, không tư tưởng, không thi vị, phi tu hành, phi chứng đắc, không trãi qua mọi cấp độ mà vẫn tôn cao, như thế gọi là đạo.’
Bài nầy đüa ý niệm ‘không’ vào hành trang của người đi tu, nhưng nếu quyển kinh có mục đích rất nhất quán là nhắc nhủ giới cho người mới lên đường thì những câu ‘tâm trí không ràng buộc vào đạo, phi tu hành, phi chứng đắc v.v...’ có vẽ như đặt không đúng chỗ.
Cũng y hệt như câu nầy trong bài 11, nghe có vẽ thông thái, nhưng chẳng có ý nghĩa gì:
‘Hiến cơm trăm ức Bích chi Phật không bằng một đùc Phật thuộc thì gian. Hiến cơm ngàn ức đùc Phật thuộc thì gian không bằng một bậc không nhớ không ở không tu không chứng.’
Lại cũng y như bài 18, ý tứ không có gì thêm:
‘Phật nói, đạo của Như Lai nhớ là không nhớ mà nhớ, làm là không làm mà làm, nói là không nói mà nói, tu là không tu mà tu. Thể hội thì gần lắm, mê mờ thì xa vời! Ngôn ngữ chấm dứt ở đây. Ở đây khái niệm không thể hạn cuộc. Sai trong tơ tóc thì mất trong phút chốc.’
Còn một ít chi tiết như thế nữa, nhưng tôi không có thì giờ nói thêm. Xin kết luận như thế nầy:
1. Phân biệt tiểu thừa, đại thừa như tôi vừa làm trên đây là để nói cho có chuyện nói, trong một chiều chủ nhật. Đại thừa là sự phát triển phong phú cần thiệt của một giáo lý đày sức sống, nhưng phát triển mà không rời gốc. Bởi vậy, đi về lại gốc thì chẳng còn tiểu thừa đại thừa gì nữa. Chứ giới nói trong kinh nầy không có con số: 100, 250, 300...Cho nên không có gì để chia cách. Đây là những chuyện hiển nhiên mà sa môn nào cũng phải nằm lòng.
2. Giới không phải là giáo điều. Giữ giới không phải vì sợ phạm giáo điều. Giữ giới vì hai lẽ: vì thấy và vì vui. Thấy rằng không giữ giới thì chỉ đi lui. Mà đã đi tu thì chỉ có thể bước tới. Đã thấy như vậy, thì chẳng có Phật nào bắt buộc cả, chỉ có mình căn dặn mình. Bởi vậy, giới không rời khỏi tuệ. Thấy, rồi vui. Giữ giới mà khổ sở quá thì thà rằng đừng giữ giới. Giữ giới mà vui, cái vui ngược với cái vui thường tình của thiên hạ, như bình bát của Phật trôi ngược giòng nước, thì sự giữ giới đó mới bền vững. Khi đó thì giữ giới mà không như giữ giới. Khi đó thì đi đùng gì cũng thiền.
3. Nhưng, xin bái lạy quý vị ‘thiền sư’ và ‘thiền sinh’ tân tiến hiện nay: nếu quý vị chưa tới mức đó thì thà rằng quý vị cứ bắt chước Lục Vân Tiên khoát tay lia lịa:
Khoan khoan ngồi đó chớ ra
Nàng là phận gái ta là phận trai
Giữa Lục Vân Tiên và vị sa môn của Kinh 42 Bài, khác nhau là ở chỗ đó. Tôi có thể tưởng tượng Kiều Nguyệt Nga vén rèm bước ra, mĩm cười thỏ thẻ với Lục Vân Tiên: ‘chàng ơi, chàng biết không, Kinh Hạnh Phúc đâu có dạy bịt mắt bắt dê, mà dạy như thế nầy:
Tiếp xúc với thế gian
Giữ lòng cho ngay thẳng
Muốn nói câu kinh đó là tiểu thừa, đại thừa hay thiền gì cũng được.
Cao Huy Thuần
Chú Thích: 1. Kinh 42 Bài, Hòa Thượng Trí Quang khảo, dịch, chú, 1955. 2. Luận Đại Trí Độ, Hòa Thượng Thiện Siêu dịch,1977, Tăp I, trang 521. 3. Luận Đại Trí Độ, trang 522. 4. Kinh Mười Thiện Nghiệp, Hòa Thượng Trí Quang dịch, 1977, trang 87. 5. Kinh Mười Thiện Nghiệp, trang 93. 6. Hai Thời Công Phu, Hòa Thượng Trí Quang dịch, 1994, chú thích ở trang 422 và 423. 7. Kinh Mười Thiện Nghiệp, trang 153. 8. Hai Thời Công Phu, trang 426.

CÁC BẢN DỊCH KINH 42 CHƯƠNG:
KINH BỐN MƯƠI HAI BÀI - Thích Trí Quang
KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG - Thích Tâm Châu
KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG - Thích Thanh Cát
KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG - Thích Tuyên Hóa
KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG - Thích Phước Tịnh
KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG - Thích Viên Giác

 

5 nguyên tắc của Đức Phật giúp nhận ra làm ăn chân chính cũng giàu có sung túc như ai

Vì ta kém hiểu biết, không biết tới những nguyên tắc của Đức Phật trong kinh doanh nên chỉ có niềm tin cố hữu, sai lầm trong nhiều năm qua rằng chỉ có lọc lừa, gian dối mới có kể làm giàu được.

Đâu là con trâu, cái cày của Đức Phật?


Có một lần đức Phật đang đi khất thực, một bác nông dân chặn đường lại hỏi:

- Này ông thày. Tôi là một nông dân, mỗi ngày phải lam lũ bán mặt cho đất bán lưng cho trời để có được hạt lúa để ăn. Ông ngày nào cũng đi hết xóm này, nhà nọ. Lo mà về đi cấy cày mà ăn.

Đức Phật mỉm cười:

- Thưa ông tôi đang là nông phu, tôi đang đi cày cấy đây.

Người nông dân hỏi. Ông là nông phu thế thì con trâu của ông đâu? Cái cày đâu? Phân bón của ông đâu?
 
Đức Phật nói:

- Tâm tôi là mảnh đất, trí tuệ của tôi là cái cày. Sự nỗ lực không mệt mỏi của tôi là con trâu và lòng từ bi là hạt giống. Mỗi ngày ông đi cày đi cấy, gặt lúa ông có được là để nuôi thân và nuôi gia đình.

Còn hạt giống tôi cày cấy đêm ngày là để xoa giải tình thương đến tất cả mọi loài, mọi chúng sinh, giúp mọi người được thương yêu nhau, dẹp bỏ những tham lam sân hận và ghen ghét. Gột rửa những uế tâm, những mê lầm có trong tâm thức để đem lại cuộc sống bình an thịnh vượng cho xã hội đầy phiền não này.

Khi nghe đức Phật nói như thế thì bác nông dân sững lại và xin làm đệ tử.
 

Nguyên tắc 1: Giữ tâm trong sáng

 
Lắng nghe lời Phật dạy về công việc bạn sẽ hiểu rằng giữ tâm trong sáng là yếu tố hàng đầu và cực kỳ quan trọng.

Việc làm ăn kinh doanh có vô số phương thức khác nhau và ai cũng có cách riêng để làm giàu ví dụ như có người chọn cách lọc lừa để giàu nhanh nhưng lại không vững bền. Ngược lại, ai chọn phương thức làm giàu chân chính bằng tâm trong sáng thì mọi việc đến chậm nhưng kết quả lại lâu dài, thậm chí trường tồn.

Không phải cứ lừa lọc mới có thể làm giàu, chỉ là bạn sẽ chọn kinh doanh chân chính hay không mà thôi. Con người ta thường dễ bị cám dỗ bởi cái lợi trước mắt mà quên đi cái lợi lâu dài. Họ thường tin rằng: Thà một chút huy hoàng rồi chợt tắt còn hơn le lói tới trăm năm.

Sẽ có phần phân vân rằng nếu nói tinh thần đạo Phật là giữ tâm trong sáng thì điều gì cũng phải nói ra hết thì làm sao kiếm lời đây. Thực ra cái gì cũng nói là ngốc nghếch, ở đây chỉ cần mục đích làm ăn không phải vì muốn hại người, có thể an tâm kê gối ngủ mỗi tối, miễn là lương tâm và cách thể hiện lời nói sao cho có hiệu quả lương thiện chứ không phải cứ nói thật mà lại có thâm ý hại người.

Bạn có thể nghe câu chuyện sau để hiểu thêm: 

Một nhà sư đang ngồi thiền trong rừng thấy một con nai chạy ngang qua, sau đó có mấy người thợ săn đến hỏi nhà sư có thấy con nai chạy ngang qua đây không. Nhà sư đứng dậy và nói: “Đứng đây ta không thấy con nai nào cả”.

Lời nói có vẻ như dối nhưng lại thật vì khi ngồi thì thấy chứ khi đứng đâu có thấy!

Nói dối hay nói thật không quan trọng bằng việc lời nói hành động đó có xuất phát từ tâm sáng, thiện lương hay không.
 

Triết lý kinh doanh với tâm trong sáng của Phạm Nhật Vượng 

Nguyên tắc 2: Tự lợi và lợi tha

 
Tư duy thương trường là chiến trường ngày nay được xem là lỗi thời, thay vào đó thì phải là: Tự lợi là làm lợi cho bản thân mình. Lợi tha là làm lợi cho tất cả mọi loài và mọi người.

Đó chính là lý do nhiều người kinh doanh cùng ngành với nhau còn cùng hỗ trợ nhau cùng phát triển, đó mới là phương pháp bền vững tốt đẹp.

Thế nhưng tâm lý cạnh tranh, muốn hạ đối thủ bằng những trò hèn hạ ngày nay vẫn không thiếu. Thế nhưng đối thủ lớn nhỏ, nhiều như cỏ dại mọc ngoài kia, hết kẻ này tới kẻ khác thì liệu ta có thể đủ sức diệt được hết không?

Nếu biết cách biết kẻ thù thành bạn, biết hợp tác cùng có lợi thì đôi bên cùng tiến bộ sẽ còn tốt hơn là phí hoài công sức đi tìm cách diệt kẻ khác còn bản thân mình cứ thế mà lùi lại phía sau và tự huyễn hoặc rằng mình là nhất vì không có ai hơn.

Kinh doanh theo giáo lý nhà Phật là lấy hạnh phúc con người và hòa hợp với thiên nhiên làm mục tiêu chủ đạo.

Nguyên tắc 3: Phương tiện cứu cánh

 
Bạn cứ mải miết kiếm tiền nhưng đã bao giờ tự hỏi: Mục đích cuối cùng của việc làm ăn, kinh doanh là gì?

Ta cũng chỉ đang kiếm tiền về để mua vật chất đem lại an vui, hạnh phúc cho mình và người thân, giúp đỡ nhiều người hơn phải không nào? 

Vì thế, đừng xem tiền là mục tiêu mà quên đi hạnh phúc mới là đích đến cuối cùng. Ngoài việc kiếm tiền thì cũng cần biết tận hưởng được những hạnh phúc bên người thân yêu.

Có những người mải đuổi theo dự án này tới dự án kia nên không được gần vợ con, chẳng mấy khi có được sự thảnh thơi, để sống an lạc với bản thân mình với những người mình yêu thương. 

Bạn hãy nhớ rằng: "Có tiền ta có thể mua được nhà nhưng không mua được tổ ấm.

Có thể mua được đồng hồ nhưng không mua được thời gian.

Có thể mua được gường nhưng không mua được giấc ngủ.

Có thể mua được thuốc men nhưng không mua được sức khỏe.

Có thể mua được địa vị nhưng không mua được sự trọng nể."

Vì thế, chỉ nên xem mục đích kinh doanh, kiếm tiền là phương tiện thôi, đừng để chúng cướp đi cả hạnh phúc vốn có của bạn đấy nhé.
 

Nguyên tắc 4: Tính vô thường

 
giao dich lam an luon co rui ro
 
Hiểu lời Phật dạy về vô thường cũng là lúc bạn biết rằng điều chắc chắn duy nhất đó là: Không có gì chắc chắn cả.

Sự thật là cuộc sống này thay đổi khó lường và ta chẳng thể nào nắm bắt, dự đoán được mọi tình hình có thể diễn ra. Hôm nay ta có đó nhưng ngày mai mất tất cả vẫn là điều có thể xảy ra. Do đó, thay vì cố gắng giành giật mọi thứ về mình bằng mọi giá mà nên biết thuận tự nhiên.

Nếu có làm ăn thuận lợi thì cũng phải biết chuẩn bị cho những ngày khó khăn có thể tới. Nếu có làm ăn thất bại thì tin rằng ngày mai sẽ khác, đừng vì đau khổ, tuyệt vọng quá đến nỗi tìm đến cái chết thì hết sức đáng tiếc.

Hiểu được nguyên tắc của Đức Phật trong kinh doanh này bạn sẽ cảm thấy vững tin hơn trong bất cứ cơ hội đầu tư nào để biết rằng, dù ta hi vọng kết quả triển vọng nhất có việc đầu tư của mình nhưng không quên biện pháp phòng ngừa rủi ro khi điều tồi tệ nhất có thể xảy ra.

Như thế, ta sẽ chẳng bao giờ chủ quan hay tự mãn và tuyệt đối tránh được tâm lý: Được ăn cả, ngã về không, vì chỉ cần 1% rủi ro có thể xảy ra thì ta cũng có thể mất tất cả.
 

Nguyên tắc 5: Tính nhân quả 

 
Luật nhân quả là quy luật tồn tại khách quan trong cuộc sống và nó cũng không thể xa rời trong các nguyên tắc của Đức Phật trong kinh doanh.

Thực ra, trong việc kinh doanh chúng ta càng phải ghi nhớ, khắc cốt ghi tâm điều này vì thực tế chỉ cần một việc làm tốt hay xấu khi làm ăn không chân chính thì chúng sẽ tạo ra vô số hệ quả khó lường cho hiện tại và cả về sau này mà không ai có thể tính toán hết được.

Theo Luật nhân quả, của cải, hạnh phúc, thịnh vượng và sự thành công trong kinh doanh là tất cả những kết quả trực tiếp hay gián tiếp hay kết quả của những nguyên nhận hay hành động cụ thể. Điều này chỉ đơn giản có nghĩa là nếu bạn muốn biết về những thành quả hay kết quả mà bạn sẽ nhận được thì chỉ cần nhìn về cách bạn tư duy, hành động ở hiện tại.
 
Việc ai đó thành công trong kinh doanh không phải là một sự tình cờ. Mọi thứ xảy ra đều có nguyên nhân, tốt hoặc xấu, tích cực hoặc tiêu cực từ từng việc nhỏ mà bạn làm. Vì thế, muốn có được thành công thì hãy bắt đầu soi chiếu, kiểm soát tốt tư duy cho tới hành động của mình để xem chúng có đảm bảo cho thành công của bạn không nhé?

 

Lời Phật dạy về khiêm tốn: Đức hạnh khiêm nhường mới là đỉnh cao của sự tu dưỡng

Lời Phật dạy về khiêm tốn giúp ta hiểu ra rằng chỉ khi nào con người biết khiêm tốn thì mới dễ thành công và nhận được phúc báo. Làm người phải biết khiêm tốn, lấy khiêm nhường làm thước đo để hành xử. Đó mới chính là đỉnh cao của sự tu dưỡng bản thân.

Câu chuyện thứ 1: Ve sầu và chim nhạn


Loi Phat day ve khiem ton - chim nhan
 
Thời xa xưa khi ve sầu còn chưa biết bay, một ngày nọ, nhìn thấy một con chim nhạn tự do bay lượn trên bầu trời rộng lớn, ve sầu vô cùng ngưỡng mộ.
 
Ve sầu mời chim nhạn về dạy mình cách bay. Chim nhạn đồng ý.
 
Nhưng học bay nào phải chuyện dễ dàng. Ve sầu sợ khổ lại nóng lòng muốn biết bay thật nhanh, hết chạy Đông lại chạy Tây, nhấp nhổm không nghiêm túc.
 
Chim nhạn vẫn bình tĩnh giảng giải kĩ càng cho ve sầu về cách bay, ve sầu nghe câu được câu không, chỉ luôn miệng đáp "Biết rồi! Biết rồi!"
 
Sau đó, chim nhạn để ve sầu bay thử, quả thực ve sầu đã cất cánh bay được. Ve sầu nghĩ bụng, hóa ra bay cũng chẳng khó như ta nghĩ!
 
Mùa thu đến, chim nhạn phải bay về phương Nam. Ve sầu rất muốn giương cánh bay cao đi theo chim nhạn, thế nhưng dù nó có cố vẫy cánh đến đâu cũng không thể bay cao như chim nhạn được.
 
Lúc đó, ve sầu nhìn chim nhạn liệng cánh bay lượn ở trên bầu trời bao la mới thấy hối hận bản thân quá tự mãn. Dù nó có cố gắng luyện tập đến đâu cũng đã muộn rồi. 
 

Bài học rút ra:


Trong cuộc sống, có không ít người giống như ve sầu kia. Mới học được một giọt nước đã nghĩ mình biết cả đại dương.
 
Tự mãn khiến cho ánh mắt chúng ta trở nên thiển cận, bằng lòng với hiện tại; lười biếng khiến chúng ta giậm chân tại chỗ, vuột mất những cơ hội quý giá.

Xem thêm: Ngạo mạn và "cái kết đắng" của kẻ ngạo mạn
 

Câu chuyện thứ 2: Lão thiền sư và Phật tử

 
Loi Phat day ve khiem ton - thien su
 
Một Phật tử có trình độ học vấn thâm sâu, nghe nói trong ngôi chùa nọ có một vị lão thiền sư đức cao vọng trọng liền muốn tới viếng thăm.
 
Tới nơi, chỉ có học trò của lão thiền sư ra tiếp người đó. Thái độ của người này trở nên ngạo mạn, nghĩ trong đầu: "Mình là Phật tử có trình độ thâm sâu, liệu ông ta xếp thứ mấy?"
Sau đó, lão thiền sư ra tiếp đón người này vô cùng cung kính, còn tự tay pha trà mời khách.
 
Nhưng khi đang rót trà, rõ ràng ly đã đầy mà lão thiền sư vẫn không ngừng tay rót. Người kia thấy vậy mới hỏi: "Đại sư, tại sao ly đã đầy mà ông vẫn không ngừng rót?"
 
Đại sư trả lời: "Đúng vậy, nếu đã đầy rồi, còn rót làm gì nữa chứ?"
 

Bài học rút ra:


Ý của vị thiền sư là, nếu người kia đã có trình độ cao siêu, sao còn phải đến chỗ ông thỉnh giáo làm gì?
 
Trong cuộc sống, nếu như muốn học được nhiều thứ hay ho hơn ngoài thế giới, ta trước hết phải tự biến mình thành "một cái ly rỗng" thì mới có thể chứa đựng được những kiến thức mới.
 
Đừng kiêu ngạo, tự mãn cho rằng mình đã biết hết vì kiến thức bao la như biển cả, chẳng ai có thể học hết được mọi thứ trên đời này.
 

Lời Phật dạy về khiêm tốn là gì?

 
Loi Phat day ve khiem ton - phuc bao
 
Hai câu chuyện trên đây chính là tinh túy trong lời Phật dạy về khiêm tốn.
 
Khiêm tốn là đức hạnh tu dưỡng cao siêu mà ai cũng phải học suốt đời. Khiêm tốn trong việc học, việc tu thân dưỡng tính, việc giao tiếp giữa người với người.

Đừng bỏ lỡ: 4 điều tu dưỡng đạo đức luôn được các bậc quân tử đề cao, học được ắt sẽ thành người xuất chúng
 
Càng học cao học rộng thì càng phải khiêm tốn. Còn nếu học nhiều mà đối xử tự cao, khinh khi với cha mẹ, anh em, thầy cô, người thân... thì bản thân sẽ trở thành liều thuốc độc gây hại, đánh mất vầng hào quang trong mắt người xung quanh và tự chuốc lấy đau khổ.
 
Con người dù giàu hay nghèo, nhưng học được cách lắng nghe, khiêm tốn trong từng lời nói cử chỉ thì chắc chắn sẽ được người khác kính nể, yêu quý. Đó chính là phúc báo.
 
Còn nói quá nhiều, lại nói những lời vô ích, tự cao tự đắc, đơm đặt bịa chuyện thì chỉ khiến người khác chán ghét, coi thường. Đó chính là nghiệp báo.
 
Phật dạy, nền tảng của lương thiện là khiêm tốn, khởi nguồn của tà ác chính là ngạo mạn. Lúa càng chín càng rũ đầu cúi thấp, nói lời khiêm tốn chính là một cảnh giới của sự tu dưỡng.
 
Người xưa có câu: Người đại tài có bản lĩnh thì không bao giờ nổi nóng, người trung tài có bản lĩnh đôi lúc sẽ nổi nóng; còn kẻ bất tài thì không có bản lĩnh và luôn nóng nảy.
 

Khiêm tốn là đỉnh cao của sự tu dưỡng bản thân

 
Loi Phat day ve khiem ton
 
Cũng giống như nơi đất trũng thì nước sẽ tràn về nơi đó, người biết khiêm tốn sẽ có thể học được nhiều điều hay, tu dưỡng đức hạnh thanh cao, vẹn toàn bản thân, làm gương cho người khác học tập. Hơn nữa, người khiêm tốn luôn được mọi người xung quanh yên mến, quý trọng. 
 
Sự khiêm tốn chẳng phải ngày một, ngày hai mà có. Phải tu tâm dưỡng tính từ khi còn nhỏ, trong bất kể hoàn cảnh nào, giống như tích từng giọt nước nhỏ lâu ngày nhất định sẽ đầy chiếc lu to.
 
Người ngạo mạn, tự kiêu, dù công danh sự nghiệp có vẻ vang đến đâu cũng chỉ được trong chốc lát. Bởi những người như vậy không đủ phúc đức nên không thể nuôi dưỡng được lâu dài.
 
Ngày ngày cầu công danh, giàu sang phúc quý nhưng không khiêm tốn thì khó mà đạt được thành tựu như mong ước.
 
Một vị lão hòa thượng có nói rằng: Tu là từ mẫn vật, khiêm tốn tự y, thiên ti tọa xứ, thuyết luật pháp ngữ, kiến quá mặc nhiên.
 
Nghĩa là, người tu hành phải có lòng yêu thương vạn vật, phải biết khiêm tốn, nhún nhường, hiểu được bổn phận của bản thân, luận bàn mọi việc theo lời Phật dạy, tự sám hối về lỗi lầm của bản thân, chớ nên tìm lỗi của người khác.

Bạn có biết: Tìm lỗi lầm của người khác là mang RÁC RƯỞI của họ về cất trong nhà
 
Khiêm tốn còn giúp ta nhận ra những thiếu sót của bản thân để sửa đổi; vì không kiêu căng ngạo mạn nên luôn sẵn sàng lắng nghe ý kiến đóng góp của người khác để hoàn thiện bản thân.
 
Sự khiêm tốn sẽ giúp người ta đứng vững trên đỉnh cao danh vọng và được nhiều người ủng hộ, giúp đỡ, kính trọng.
 
Trái lại, những kẻ tự mãn cho mình là tài giỏi mà khinh bỉ người xung quanh sẽ ít thành công và đạt được danh vọng như ý muốn. Những người như vậy thường thất bại vì sự ganh ghét, đố kỵ của người khác.
 

Làm thế nào để rèn luyện được đức tính khiêm tốn?

 
 
Loi Phat day ve khiem ton - ren luyen
 

- Học cách im lặng:

 
Phật dạy muốn khiêm tốn, trước hết ta phải học cách im lặng. Bởi chỉ khi im lặng thì trí tuệ mới sinh ra sự minh mẫn, và im lặng mới có sự sâu lắng càng cao.
 
Có những trường hợp bắt buộc phải nói, nhưng nói đủ, nói đúng, nói hợp hoàn cảnh.
 
Ông bà xưa có câu: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Cái gì cũng cần phải học và im lặng cũng vậy.
 
Chúng ta phải học cách khi nào nên nói, khi nào nên im lặng. Im lặng là sức mạnh, không ganh đua với kẻ tiểu nhân, không tranh luận với người không cùng trình độ và không cãi cự với người tự kiêu luôn cho mình là đúng.
 
Làm được những điều đó là ta đã nhẫn nhịn khi cần thiết, ấy chính là khiêm tốn.
 

- Học cách lắng nghe và biết ơn:

 
Hãy mở tâm trí và lắng nghe những ý kiến của người khác. Nếu bạn đúng, đừng sợ lời nói của người khác ảnh hưởng đến cảm xúc hay suy nghĩ của bạn.
 
Lắng nghe còn giúp ta nhận ra được những điều ta chưa biết, chưa hiểu để không đưa ra quyết định sai lầm.
 
Không chỉ lắng nghe, ta còn phải biết ơn những gì mình đang có. Biết ơn để nhận ra những thiếu sót của mình chứ không phải đi soi mói, bới lỗi lầm của người khác. 
 

- Phải có lòng bao dung:

 
Nếu không có lòng bao dung, sẽ chẳng thể có được sự khiêm tốn. Bao dung để dung nạp mọi thứ, bao dung để thứ tha và bao dung để tâm nhẹ lòng an.
 
Khổng Tử nói: “Người bao dung, thiện lương sẽ có được cảm tình của mọi người”.
 
Lão Tử nói: “Sông và biển mênh mông sâu thẳm là do chúng ở vị trí thấp để nhận nước từ những khe suối nhỏ bé từ khắp nơi”.
 
Vì thế, điều quan trọng khi rèn luyện khiêm tốn là phải học cách bao dung với cuộc đời. Khoan dung độ lượng với người chính là tạo phúc báo cho mình.
 
Vậy là, Lời Phật dạy về khiêm tốn giúp ta hiểu ra rằng chỉ khi nào con người biết khiêm tốn thì mới dễ thành công và nhận được phúc báo. 
 
Làm người phải biết khiêm tốn, lấy khiêm nhường làm thước đo để hành xử. Đó mới chính là đỉnh cao của sự tu dưỡng bản thân.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.