bài viết trong chuyên mục "thiền"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn thiền. Hiển thị tất cả bài đăng

Thông tin doanh nhân Đặng Lê Nguyên Vũ nhịn ăn 49 ngày kết hợp với Thiền khiến dư luận xôn xao và mọi người bắt đầu nghĩ tới hậu quả Thiền không đúng cách.
Lùm xùm về cuộc hôn nhân trên bờ vực đổ vỡ của vợ chồng "ông vua cà phê" Đặng Lê Nguyên Vũ - Lê Hoàng Diệp Thảo được dư luận quan tâm đặc biệt. Nhất là khi bà Thảo tiết lộ nguyên nhân khiến tình cảm của họ rạn nứt do Đặng Lê Nguyên Vũ thay tính đổi nết sau khóa Thiền 49 ngày khiến ai cũng không khỏi phân vân.

“Trước khi anh Vũ tham gia khoá thiền nhịn ăn 49 ngày và bỗng nhiên thay đổi khi trở về, thì tôi rất hạnh phúc. Nhưng 49 ngày thiền định nhịn ăn của anh ấy, đã phá đi tất cả, đã cướp đi Đặng Lê Nguyên Vũ tuyệt vời của tôi…”, bà Lê Hoàng Diệp Thảo tâm sự với báo giới.
 
Vậy Thiền là gì? Tại sao Thiền có thể cải thiện sức khỏe trong khi ở đây bà Diệp Thảo khẳng định ông Đặng Lê Nguyên Vũ lại thiếu đi sự tinh nhanh sau khi Thiền kết hợp nhịn ăn 49 ngày? Thực ra có nhiều loại Thiền định và mỗi loại có một số quy định riêng mà người học Thiền tuân theo. 
 
Dang Le Nguyen Vu Thien 49 ngay
 

Các loại Thiền định:

 
Thực tế, có nhiều cách phân định các loại thiền nhưng có 5 phương pháp thiền cơ bản được xếp từ thấp lên cao. Từ 5 cách này, thiền sẽ được phân ra làm các loại khác, phù hợp với từng mục đích của người tập.
 

Thiền phàm phu 

 
Phương pháp thiền này tất cả mọi người đều có thể thực hành bởi nó là bậc đầu tiên của thiền. Thiền phàm phu có thể cải thiện sức khỏe tinh thần lẫn thể chất mà không gây ra bất cứ hậu quả nào.
 
Phương pháp này học cách tập trung và kiểm soát tâm, giúp tâm khỏi tán loạn để giữ cho thân, miệng, ý tránh làm những điều xấu.
 

Thiền ngoại đạo

 
Thiền ngoại đạo là phương pháp tu luyện các khả năng siêu nhiên hay để sở hữu sức mạnh ma thuật nào đó vượt qua giới hạn của người thường.
 
Thiền ngoại đạo giúp cho con người tập trung vào một điều gì đó khiến người ta bỏ hết các cám dỗ ngoài đời thực để cảm thấy khoan khoái và dễ chịu hơn.
 

Thiền tiểu thừa

 
Còn được gọi là thiền nguyên thủy, là kiểu thiền dành cho những người theo Phật, giác ngộ cửa Phật. Những người theo phương pháp thiền này tin có thể thoát ra khỏi thế giới thực tại đầy cám dỗ và xấu xa.
 

Thiền đại thừa

 
Là loại thiền Phật giáo đích thực, mục đích để ngộ đạo và nhận ra đạo trong cuộc sống hàng ngày.
 
Thiền đại thừa là hình thức Phật giáo nổi bật ở Bắc Á, bao gồm Trung Quốc, Mông Cổ, Tây Tạng, Hàn Quốc và Nhật Bản.
 

Thiền tối thượng thừa

 
Đây là loại thiền cao nhất trong 5 phương pháp thiền. Một khi con người đã đạt đến trình độ thiền này thì không phải là giác ngộ nữa mà trở thành tuyệt đỉnh trong Phật pháp.

Tham khảo: 4 bước thực hành Thiền đơn giản tự chữa bệnh cho mình ngay tại nhà 
 
Thien khong dung cach
 

Tác hại của Thiền không đúng cách

 
Thiền giúp cải thiện sức khỏe nếu như bạn thực hiện đúng cách. Tuy nhiên, không phải ai cũng đạt được cảnh giới và tận dụng được hết những lợi ích của thiền. Có những người, luyện tập thiền không đúng cách sẽ là con dao hai lưỡi hại sức khỏe. 
 
Thiền đòi hỏi tập trung cao độ nhưng khi thân tĩnh thì tâm càng xao động. Nếu như bạn tự thiền, không có người hướng dẫn và suy nghĩ nhiều dần dần sẽ dẫn đến căng thẳng, đầu đau như búa bổ.
 
Thiền cũng yêu cầu tư thế lưng, cổ thẳng nhưng nếu bạn ngồi không đúng tư thế trong một thời gian dài dễ gây vẹo cột sống.
 
Điều quan trọng nhất trong bộ môn thiền là tập thở. Nếu như thở sai cách cũng ảnh hưởng đến sức khỏe, gây loạn khí, cơ thể mất cân bằng do khí hít vào và thở ra không đều đặn, lâu dần sinh bệnh.

Còn về trường hợp của Đặng Lê Nguyên Vũ, có một số thông tin lưu truyền như nhịn ăn kích thích sự sáng tạo của bộ não, khiến cho cơ thể nhẹ nhõm, mắt tinh, tai thính… là thiếu cơ sở khoa học. Một người bình thường nếu nhịn uống nước quá 5 ngày chắc chắn người đó sẽ tử vong, còn ở đây ông Vũ nhịn ăn nhưng vẫn uống nước mè đen rang thì vẫn có thể duy trì sự sống nhưng hoàn toàn không tốt cho sức khỏe. 
 
Khi một người không nạp năng lượng từ bên ngoài vào để duy trì hoạt động cho cơ thể thì cơ thể tự khắc lấy năng lượng dự trữ ở mỡ và cơ để duy trì sự sống. Hệ tiêu hóa sẽ bị ảnh hưởng do các tuyến tiêu hóa vẫn liên tục tiết men tiêu hóa nhưng lại không được sử dụng dần dần sẽ teo đi. Từ đó sẽ dẫn đến hậu quả là cơ bị teo nhẽo, cơ thể sẽ dần suy kiệt.
 
Nhịn ăn là phương pháp phản khoa học, nếu người nào muốn giảm cân cần kết hợp ăn uống khoa học, với tập luyện thể dục thể thao. Cách nhịn ăn hoàn toàn 49 ngày là rất nguy hiểm.
 
Thông tin khi thiền kết hợp nhịn ăn sẽ “đánh thức sự sáng tạo của bộ não” là hoàn toàn không có cơ sở khoa học. Bởi não là một trong những bộ phận cơ thể cần gluco nhất, các cơ quan khác khi không có năng lượng do thức ăn đưa vào có thể huy động năng lượng từ mỡ, nhưng bộ não khi đốt cháy năng lượng cần gluco mới có thể hoạt động nhịp nhàng được. Vì thế, hãy đặc biệt cẩn thận kẻo phải lãnh hậu quả đáng tiếc từ việc Thiền không đúng cách

TÂY THIÊN
NGUỒN LỰC TÂM LINH

    Nếu ai đã từng tìm đến Tu viện Trúc lâm,thì hẳn sẽ được biết đến "Tu viện Tây Thiên". Đây là một trong những cơ sở tu học do HT Viện chủ khai sáng ngót đó đã gần 10 năm.
    Mười năm,khoảng thời gian không dài so với bao nguyện lớn "Thay  phật tuyên dương chánh pháp,làm lợi lạc quần sanh",của Hòa Thượng Viện chủ cũng như Thầy Trụ trì Tu viện Trúc lâm. Ấy vậy mà từ nơi đây đã nuôi lớn tâm linh cho biết bao người qua sự dắt dìu tận tụy,tình thương lớn của Quý thầy.
     Cứ mỗi độ hè về.Phật tử ở xa gần khắp chốn đều gác bỏ mọi hệ buộc,tính toan của đời thường,không hẹn nhưng cùng có mặt bên nhau vào mỗi khóa tu kết duyên thường kỳ.Tôi được nghe Thầy Trụ trì kể lại,nhiều năm về trước, nơi đây là một nông trại nuôi bò lấy sửa,vùng đất rất hoang và khô cứng, không thể trồng được rau cải, khó gieo được loại nào ngoài cây rừng, chung quanh thì không có nhà ở,nên rất hoang vu. Ấy vậy mà giờ đây cũng mãnh đất này lại trở thành một vùng đất thiêng, là nơi chốn cho bao người tìm về cội nguồn của chơn thiện mỹ, của yêu thương và hiểu biết.
     Nhìn lại từng giai đoạn đã và đang hình thành Tu viện Tây thiên vẫn chỉ mới bước đầu khởi sắc, mọi công trình, mọi dự hướng vẫn mới hé nụ,đòi hỏi rất nhiều về mặt thời gian và điều kiện vật chất. Tuy nhiên với nguyện lớn mở cửa phương tiện, dìu dắt nhân sinh lìa mê khai ngộ,Hòa thượng và thầy Trụ trì luôn tất cả tâm huyết dốc toàn tâm lực để Tu viện ngày mỗi trang nghiêm hơn,bền vững hơn.
      Những ngày tu học tại Tu viện, tuy ngắn ngũi nhưng tôi có được rất nhiều hoa trái tu tập. Những thời khóa công phu, sám hối, rồi những buổi giảng dạy từ Quý Thầy, những giờ cơm quá đường, Tăng thân với màu y vàng thanh thoát, trang nghiêm lặng lẻ ôm bát đi trong im lặng đến trai đường, năng lượng của Đại chúng thật hùng  và cũng thật nhẹ nhàng trong mỗi bước chân đi, hàng Phật tử nối theo sau như một dòng chảy vô tận...Những lúc như thế tim tôi như thổn thức,cảm  xúc ngập tràn. Tôi chợt nhận ra  "Mình sao hạnh phúc nhiều thế nầy." Hạnh phúc được về lại đoàn thể xuất gia tu tập! Ngược dòng lịch sử đã qua, hình ảnh Đức Phật cùng chúng đệ tử ôm bát khất thực trên vạn nẻo đường như hiện rõ trước mắt tôi.
               Nhất bát thiên gia phạn,
               Cô thân vạn lý du.
 
               Dục cùng sanh tử lộ 
 
               Giáo hóa độ xuân thu.
        Đến nay,dẫu rằng cách Phật đã xa, nhưng vẫn còn đó những đoàn thể tu tập mang đầy chất liệu tu hành.Còn đó những Bậc Tôn túc sáng ngời đạo hạnh và nhân cách sống. Còn đó những bậc Thiện hữu tri thức, những pháp lữ cùng đi trên con đường giải thoát với hoài bảo và ước nguyện làm đẹp cuộc đời.
        Trong khóa lễ thường nhật, mỗi tối sau giờ tịnh độ. đại chúng được thực tập thiền lạy, còn gọi là "Sám pháp địa xúc". Công năng của việc thực tập sám pháp giúp cho chúng ta có cơ hội tiếp nhận năng lượng chở che và yêu thương của đất. Đất vững chãi và hiền hòa, là nơi bình yên,có công năng chứa đựng và chuyển hóa bao nổi khổ niềm đau, tuyệt vọng và sợ hãi nơi mỗi con người. Đất không phân biệt,không kỳ thị, không ghét bỏ .Đất dung nạp và ôm lấy tất cả nhân sinh và vạn loại vô tình.
       Bạch Đức Thế Tôn, Ngài đã sinh ra con trong đời sống tâm linh, cũng như Thầy của con và Tăng thân của con đã sinh ra con trong đời sống nầy và con luôn ý thức con phải là một sự tiếp nối, xứng đáng của Ngài. Đức Thế Tôn không đi tìm hạnh phúc nơi danh vọng, tiền tài, sắc dục, quyền bính và của ngon vật lạ. Hạnh phúc của Thế Tôn là tự do lớn, là tình thương và sự hiểu biết lớn. Nhờ có hiểu biết lớn mà Đức Thế Tôn không bị bế tắc tâm linh và hoàn cảnh, không bị kẹt vào những tư duy sai lầm,không nói,không nghĩ và không làm những gì có thể tạo nên đau khổ cho bản thân và cho kẻ khác. Nhờ có hiểu biết lớn, nên Đức Thế Tôn có tình thương lớn, bao trùm được mọi loài. Tình thương lớn ấy đem đến an ủi,giải thoát và an lạc cho bao nhiêu người. Trí tuệ lớn và tình thương lớn của ĐứcThế Tôn đem đến cho Thế Tôn  sự tự do và hạnh phúc lớn. Con ước ao bước theo Ngài. Nguyên không đi tìm hạnh phúc ở hướng ngũ dục, không nghĩ rằng tiền tài , sắc dục và quyền bính có thể đem lại hạnh phúc chân thật cho con. Con biết chạy theo những đối tượng thèm khác ấy sẽ chuốc lấy nhiều khổ đau và hệ lụy. Con nguyện không chạy theo địa vị, bằng cấp, quyền lực, tiền bạc, và sắc dục. Con nguyện mỗi ngày tu tập để chế tác chất liệu hiểu biết, thương yêu và tự do, những chất liệu có công năng làm nên hạnh phúc cho con và cho Tăng thân con, bây giờ và trong tương lai..."
        Dù khóa tu đã khép lại, nhưng âm vang của Thầy Trụ trì khi trùng tuyên lại văn sám pháp, với giọng trầm lắng và năng lượng niệm, định nơi Thầy đã giao cảm đến đại chúng và không riêng tôi tất cả đều đã phủ phục đảnh lễ Đức Thế Tôn với niềm biết ơn sâu thẳm trong trái tim mình. Cuối khóa học tu có nhiều Phật tử xin ghi danh để thọ năm giới và thập thiện giới. Thầy trụ trì tiến hành lễ truyền giới vô cùng giản đơn, nhưng rất trang nghiêm,Thầy đã giải thích và nói lên những lợi ích thiết thực cúa việc thọ trì và thực tập giới pháp, khiến ai nấy đều hân hoan, cũng từ đây tâm nguyện tu hành và hạt giống bồ đề nơi mỗi người con Phật được nuôi dưỡng và lớn mạnh thêm hơn.
        Nhìn sâu thì đó là cả một công trình kiến tạo tâm linh,đã và luôn mang lại niềm chơn lạc,hạnh phúc cho biết bao người. Để có được cơ hội và duyên thù thắng học tu như thế đó đều từ tâm nguyện quảng đại, đức hy sinh quên mình vì người, không ngại gian lao không từ khó nhọc,dấn thân vì Đạo pháp, phụng sự Đạo pháp của HT Viện chủ, cũng như Thầy Trụ trì Trúc lâm.
         Hạnh đức đó,con người đó, với bao điều giản đơn,dung dị trong đời sống, nụ cười hoan hỉ, trái tim bao dung, đức từ tốn,khiêm hạ..tôi nương theo đó học hoài, học mãi không hết trong suốt cuộc đời mình.
         Thời gian chóng qua, khóa tu cũng đã viên mãn, ngày chia tay sao mà bịn rịn. Dẫu biết rằng "duyên hợp duyên tan", nhưng tình Thầy trò, nghĩa đạo bạn cứ ngút ngàn, khiến ai cũng chạnh lòng trong giờ phút cuối. Rồi thì bao lượt người đến lại đi...như những cơn gió thoảng trưa hè, như những chiếc lá rơi đầy sắc màu của chiều thu, chỉ còn mỗi "Tây thiên" vẫn một mình nơi đó,trong thầm lặng như đợi chờ những đứa con cùng tử một thuở đi rong lại trở về! Và cứ thế như một vòng xoay theo định lý duyên sinh đến đi trong vô tận. Đâu đó âm vang thi kệ :
        Này người giàu sang bạc nhất,
        Tha phương cầu thực đến nay.
        Hãy thôi làm thân cùng tử,
        về đây tiếp nhận gia tài.
        Hãy dâng cho nhau hạnh phúc,
        và an trú phúc giây này.
        Hãy buông thả dòng sầu khổ,
        về nâng sự sống trong tay.
       (Trích Viên ngọc kinh Pháp hoa)
       (Hòa Thượng Làng Mai)

                                                                   

Tu viện trúc lâm.
Đầu thu 9.2011
Thích nữ Như Nhật

THIỀN  ĐỊNH : DƯỠNG CHẤT CHUYỂN  HÓA  TÂM 
( MIND - ALTERING  SUSTENANCE ) Nguyên tác : Marc Kaufman Việt dịch    :  Trần Như Mai
---o0o---
 

                                                  
Các khoa học gia đã tìm thấy Thiền tập đều đặn có thể thay đổi cơ cấu hoạt động và hệ thống kinh mạch bên trong não bộ.
 Cuộc nghiên cứu về não bộ đang bắt đầu đưa ra những bằng chứng cụ thể về những gì mà các hành giả Thiền Phật giáo đã xác nhận qua nhiều thế kỷ nay: kỷ luật tinh thần và Thiền tập có thể thay đổi cơ cấu hoạt động của não bộ và cho phép con người đạt được nhiều mức độ tỉnh giác khác nhau.
 Theo truyền thống thì những trạng thái chuyển biến ấy đã được hiểu theo ngôn ngữ siêu việt như là một cái gì vượt ra ngoài thế giới đo lường vật lý và sự đánh giá khách quan. Nhưng, trong vài năm qua, các nhà nghiên cứu tại Viện Đại học Wisconsin, cùng làm việc với các vị sư Phật giáo Tây Tạng, đã có thể truyền đạt những kinh nghiệm tinh thần ấy thành ngôn ngữ khoa học về các làn sóng điện từ gamma tầng số cao và sự phối hợp đồng thời của não bộ. Và họ đã chỉ rõ thuỳ não trái phía trước đỉnh đầu, vùng ngay sau trán bên trái, là nơi mà hoạt động não bộ liên kết với Thiền định có cường độ cao đặc biệt.
 Giáo sư Davidson nói: “Điều mà chúng tôi tìm thấy là các hành giả Thiền định thâm niên đã chứng tỏ hoạt động não bộ của họ đã đạt đến một tầm mức mà chúng tôi chưa hề thấy trước đây”. Ông là một nhà thần kinh học tại một phòng thí nghiệm mới  trị giá 10 triệu đô-la của Viện Đại học, có tên là Phòng Thí Nghiệm W.M.Keck Chuyên Khoa Chụp Hình Chức Năng và Biểu Hiện của Não Bộ.
 Ông nói :” Sự luyện tập tinh thần của các hành giả đã mang lại hiệu quả trên não bộ của họ cũng giống như sự tập luyện đánh “gôn” hay quần vợt sẽ nâng cao khả năng giao đấu của các cầu thủ. Điều này chứng tỏ rằng não bộ có thể được luyện tập và thay đổi về mặt sinh học theo những phương cách mà ít người có thể tưởng tượng ra”.
 Các khoa học gia thường tin tưởng ngược lại - họ tin rằng sự liên hệ giữa các tế bào não đã được xác lập ngay từ thời thơ ấu và không thay đổi lúc trưởng thành. Nhưng nhận định đó đã chứng tỏ không còn đúng nữa trong thập kỷ vừa qua nhờ những tiến bộ trong kỹ thuật chụp hình não bộ và các kỹ thuật khác. Các khoa học gia giờ đây đã đón nhận khái niệm về sự phát triển liên tục của não bộ và “tính nhu nhuyến của thần kinh não bộ ”.
 Giáo sư Davidson nói rằng những kết quả mới nhất về nghiên cứu Thiền định được xuất bản vào tháng 11, trong tập “Những Bài Thuyết Trình Của Viện Hàn Lâm Khoa Học Quốc Gia ”, đã đưa khái niệm về  “tính nhu nhuyến của thần kinh não bộ” tiến thêm một bước nữa bằng cách chứng tỏ rằng việc huấn luyện tâm thức qua Thiền tập
(và có thể những kiểu huấn luyện khác nữa) có thể tự nó thay đổi cơ cấu hoạt động và hệ thống kinh mạch bên trong não bộ.
Những khám phá mới này có lẽ là kết quả của một sự hợp tác lâu dài giữa Giáo sư Davidson và Đức Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng, một hành giả Phật giáo nổi tiếng nhất thế giới hiện nay. Đầu tiên, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã mời Giáo sư Davidson đến viếng thăm trú xứ của Ngài ở Dharamsala ở Ấn Độ vào năm 1992 sau khi Ngài biết được những công trình nghiên cứu mới mẻ của Giáo sư Davidson trong khoa thần kinh học về các tình cảm. Người Tây Tạng có truyền thống lâu đời về Thiền định chuyên sâu, và ngay từ đầu, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tỏ ra quan tâm đến việc cho phép Giáo sư Davidson dùng phương pháp khoa học đểkhám phá tâm thức của các vị sư đệ tử của Ngài đang lúc hành Thiền. Ba năm trước, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã đến thăm phòng thí nghiệm của Giáo sư Davidson trong hai ngày.
 Cuối cùng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã gởi tám trong số những vị đệ tử đạt đạo nhất của Ngài đến phòng Thí nghiệm của Giáo sư Davidson để họ được nối với máy điện não đồ và máy chụp hình não bộ. Các vị hành giả Thiền Phật giáo trong cuộc thí nghiệm này đã được huấn luyện theo truyền thống Thiền định Nyingmapa và Kagyupa vào khoảng 10,000 đến 50,000 giờ, trong thời gian từ 10 đến 40 năm. Một nhóm khác gồm 10 sinh viên thiện nguyện chưa hề có kinh nghiệm Thiền tập được chọn để so sánh kết quả cuộc thí nghiệm sau một tuần được huấn luyện hành Thiền.
 Các vị sư và các thiện nguyện viên đều được gắn một mạng lưới gồm 256 điện cực và được yêu cầu hành Thiền trong những khoảng thời gian ngắn. Suy nghĩ và những hoạt động tinh thần khác được biết là sẽ làm cho dòng điện phát sinh ra những đột biến nhẹ nhưng có thể do lường được, khi những nhóm lớn các tế bào thần kinh truyền tải tín hiệu với nhau. Đó là những tín hiệu mà các điện cực sẽ nhận được. 
Giáo sư Davidson đặc biệt quan tâm đến việc đo lường các làn sóng điện từ gamma, đó là những xung điện não bộ quan trọng nhất và có tầng số cao nhất. 
Cả hai nhóm được yêu cầu hành Thiền đặc biệt hướng tâm về lòng từ bi vô điều kiện. Giáo lý đạo Phật mô tả trạng thái đó, và điều này cũng là trọng tâm giáo huấn của Đức Đạt Lai Lạt Ma, như là “ thái độ không ngăn ngại sẵn sàng có mặt để cứu độ chúng sinh”.Các nhà nghiên cứu chọn đối tượng chú tâm này vì nó không đòi hỏi tập trung tư tưởng vào những đối tượng, ký ức hay hình ảnh đặc biệt nào, thay vào đó hành giả tu dưỡng một trạng thái hiện sinh được chuyển hóa, đó là lòng từ bi.
 Giáo sư Davidson nói kết quả cuộc nghiên cứu rõ ràng chứng tỏ Thiền tập đã kích hoạt tâm thức thuần thục của các vị sư  theo những phương cách khác hẳn với  các thiện nguyện viên. Điểm quan trọng nhất là các điện cực đã ghi nhận được sự kích  hoạt rất tích cực của làn sóng điện từ gamma chuyển động rất nhanh và mạnh mẽ khác thường trong não bộ các vị sư, và tìm thấy các chuyển động của những làn sóng ấy qua não bộ được tổ chức và phối hợp tốt hơn nhiều so với các thiện nguyện viên.
Những thiện nguyện viên chứng tỏ có một sự gia tăng nhỏ trong hoạt động của làn sóng điện từ gamma lúc hành Thiền, nhưng một số vị sư lại có hoạt động của làn sóng điện từ gamma mạnh mẽ hơn bất cứ một người mạnh khỏe bình thường nào đã được ghi nhận từ trước đến nay.
 Giáo sư Davidson nói :” Những vị sư hành Thiền thâm niên nhất đã có những làn sóng điện từ gamma đạt mức hoạt động cao nhất”.
  “Sự đáp ứng theo liều lượng” này là điều mà các nhà nghiên cứu tìm kiếm để đánh giá nguyên nhân và kết quả - theo đó một liều lượng thuốc hay mức hoạt động cao hơn sẽ tạo được ảnh hưởng lớn hơn liều lượng ở mức độ thấp.
 Trong các cuộc nghiên cứu trước đây, những hoạt động tinh thần như là sự tập trung vào một mục tiêu, ký ức, học tập hay ý thức thường liên kết với kiểu phối hợp hoạt động thần kinh não bộ được nâng cao như đã tìm thấy ở các vị sư. Những làn sóng điện từ gamma mạnh mẽ  được tìm thấy ở các vị sư cũng liên hệ đến sự đan kết lại những kinh mạch khác hẳn nhau cũng như liên hệ đến hoạt động tinh thần tích cực hơn và sự tỉnh giác cao hơn.
 Công trình nghiên cứu của Giáo sư Davidson cũng phù hợp với kết quả các công trình nghiên cứu của ông trước đây khi ông chỉ rõ thùy não trái phía trước đỉnh đầu là một khu vực của não bộ liên kết với trạng thái vui vẻ và các tư tưởng tình cảm tích cực. Sử dụng máy chụp hình cọng hưởng từ tính để chụp hình não bộ các vị sư đang hành Thiền, Giáo sư Davidson đã tìm thấy hoạt động não bộ của các vị sư - được đo lường bằng máy điện não đồ - đặc biệt rất cao ở vùng này.
 Từ công trình nghiên cứu này, Giáo sư Davidson kết luận rằng Thiền tập không những thay đổi cơ cấu hoạt động của não bộ trong đoản kỳ, mà rất có thể sản sinh những đổi thay vĩnh viễn. Ông nói, sự khám phá này dựa trên sự kiện là các vị sư đã có hoạt động của làn sóng điện từ gamma cao hơn rất nhiều so với nhóm thiện nguyện viên, ngay cả khi họ chưa bắt đầu hành Thiền theo hướng dẫn của các nhà nghiên cứu.
  Sources : The Age  - January 9, 2005.Bài này xuất hiện lần đầu trên báo.
The Washington Post - Jan 3, 2005.

THI KỆ THIỀN
hay PHONG THÁI của NGƯỜI ĐẠT ĐẠO
 Thích Nguyên Siêu

Khi nói đến tông chỉ của Thiền, chúng ta thấy Thiền đã lập cước trên tiến trình tu chứng:
Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền
Trực chỉ nhơn tâm
Kiến tánh thành Phật 
Được dịch:
Chẳng thành lập văn tự
Truyền dạy ngoài giáo lý
Chỉ thẳng vào tâm người
Để thấy tánh thành Phật 
Và cũng do vậy mà Chư vị Tổ đức đã dạy rằng:
"Vận thủy ban sài, tức là gánh nước, bửa củi là Thiền, giữ tâm tĩnh lặng là Thiền."
Vì không lập văn tự, không chủ trương hình tướng bên ngoài, chỉ phá trừ sự câu chấp cố hữu mà con người, chúng sinh đã cưu mang trải qua bao nhiêu cuộc sống, từ đời này qua kiếp nọ, đã không thấy được tự tánh thường hằng vô sinh, tồn tục tận cùng nơi tâm thức. Nơi đây, chúng ta nghe Lục Tổ Huệ Năng, sau khi được Ngũ Tổ HoằngNhẫn giải Kinh Kim Cang đến câu: "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm." thì Lục Tổ được đại ngộ và thưa với Ngũ Tổ rằng:
Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh
Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt
Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ
Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động
Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp 
Vì tự tánh của pháp giới chúng sinh từ xưa đến nay vốn dĩ thanh tịnh, như nhiên, chẳng đến chẳng đi, chẳng còn chẳng mất, nhưng sao ta lại thấy thiên hình vạn trạng, có được, có thua, đắc thất thành bại dưới mọi hình tướng, chúng ta thấy có vậy là do vọng niệm dấy khởi, do tâm sanh diệt mà thành. Giống như người bị hoa mắt, nhìn vào hư không thấy có hoa đốm giữa trời, nhưng thật sự bầu trời không có hoa đốm.
Vạn pháp đều viên dung, đều tự vận hành theo "chính nó" mà danh từ nhà Phật gọi là "như thị" vì "như thị" cho nên:
Chư pháp tùng bổn lai
Thường tự tịch diệt tướng
Xuân đáo bách hoa khai
Hoàng oanh đề liễu thượng 
Được dịch:
Các pháp từ xưa nay
Tướng thường tự vắng lặng
Xuân về trăm hoa nở
Hoàng oanh hót đầu cành 
Bản lai diện mục của các pháp là như vậy, cho nên người tham cứu Thiền học hay thực nghiệm Thiền cần giữ tâm thanh thản, an bình - mà chúng ta thường nghe: "Tâm an tức thị Thiền". Hay: "Đương bình tâm địa, tắc thế giới địa, nhất thiết giai bình." - Tâm của mình được an bình thì cảnh giới bên ngoài tất cả đều được an bình, có nghĩa là tâm bình thì thế giới bình.
Vì tâm hồn thanh thảnh, tấm lòng bình yên sống bằng những giây phút hiện tại, tĩnh giác để nhìn sự vật diễn tiến một cách khách quan, mà không khen, chẳng chê, không bình phẩm, không khởi tâm thẩm định, mà phải tự cảm nhận giá trị nhiệm mầu và vĩnh cửu của cái bây giờ và ở đây. Cái đó như là:
Đản tri kim nhật nguyệt
Thùy thức cựu xuân thu 
Được dịch:
Sống ngày nay biết ngày nay
Còn xuân thu trước ai hay làm gì 
Có nghĩa là sống với phút giây hiện tại là thời điểm linh thiêng, là giờ phút hội ngộ của chính mình, vì lẽ những điều quá khứ là những cái đã qua, mà những kỳ vọng trong tương lai là điều chưa tới, là cái sống thực, sống còn, sống vĩnh cửu của một tâm hồn trong sáng, không đau thương, than vãn một thời vàng son đã qua, hay nuôi một hoài bão huy hoàng trong tương lai sẽ tới, do vậy mà tâm hồn của chư vị Thiền sư: 
Túy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh
Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân 
Được dịch:
Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh ngoại
Trăng trong mây bạc hiện toàn chân 
Khi đất tâm được trưởng dưỡng bằng hương vị bạch tịnh của giáo pháp, thì nơi đây ngàn hoa đua nở, điểm xuyết hương giác ngộ trên cành trúc xanh, nơi áng mây trôi mà đâu đâu cũng là chân như, thường tịch.
Trong lẽ sinh diệt, có cái bất sinh diệt, trong sự vận chuyển thường tình, có cái miên viễn, thường trụ. Đó là, giá trị tương dung, tương nhiếp của các pháp hữu tình và chơn đế:
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai 
Được dịch:
Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân về trăm hoa tươi
Việc đời qua trước mặt
Tuổi đời chóng tàn phai
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai 
Vẫn còn một nụ mai vàng đong đưa trên cành mai khẳng khiu, hứng gió xuân, dẫu rằng xuân có đến hay xuân ra đi thì đó chỉ là pháp tương đối của thời gian, qua bốn tiến trình: thành, trụ, hoại, không. Nhưng, qua bốn giai đoạn thành, trụ, hoại, không đó vẫn có cái thường hằng vĩnh cửu đó là: "nụ mai tâm Phật" chẳng nở, chẳng rụng, chẳng tàn, chẳng phai, luôn luôn hiện hữu trên cành mai vô thường, của dòng đời sanh diệt. Để được thấy rõ hơn, sống động hơn, nhiệm mầu hơn, qua 4 câu kệ của Thiền Sư Ngộ Ấn: 
Diệu tánh hư vô bất khả phân
Hư vô tâm ngộ đắc hà nan
Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận
Liên phất lô trung thấp vị càn  
"Hoa sen mọc trong lò lửa vẫn xinh tươi là một hình ảnh bất tư nghì của Kinh Pháp Hoa. Ngay nơi thân đang bị ngọn lửa vô thường thiêu đốt, vẫn có tri kiến Phật an nhiên tự tại, bất sanh bất diệt. Trên ngọn núi năm uẩn, bị lửa vô thường thiêu đốt, hòn ngọc tri kiến Phật sắc vẫn óng ánh, tươi nhuần." 
Đây là giá trị đặc thù siêu việt được triển khai tuyệt đối để đưa con người từ địa vị phàm phu chuyển thành Thánh quả, mà một khi thể đạt Thánh quả thì cũng có nghĩa là trở về cội nguồn, quê hương thường tại.
Thiền Sư Thường Chiếu, đời nhà Trần đã nói lên ý nghĩa ba cõi là nhà:
Đạo vốn không nhan sắc
Mà ngày càng gấm hoa
Trong ba ngàn cõi ấy
Đâu chẳng phải là nhà? 
Đó chính là phong thái của người đạt đạo, cảm nhận và ý thức được rằng: khắp pháp giới chúng sinh đâu cũng là nhà của mình, là nơi mình trú ngụ, để trang trải lòng Từ Bi cứu độ chúng sinh. Là giá trị nhuần nhuyễn trong nếp sống đạo. Nơi đây, chúng ta thấy thái độ ung dung trong biển đời sanh tử như bọt hải âu, như cơn gió thoảng, thật là thanh thản, không bâng khuâng, không lo sợ, mà luôn sống bằng giá trị như thật. 
Khi tâm sinh chừ, sanh tử sinh
Khi tâm diệt chừ, sanh tử diệt
Sanh tử xưa nay tính vốn không
Thân huyễn hóa này cũng sẽ diệt...
Sanh là vọng sanh, tử vọng tử
Tứ đại vốn không, không chỗ tựa
Đến nhà còn hỏi đường làm chi
Thấy trăng thời khỏi cần tay chỉ
Sợ hãi tử sinh là người mê
Đạt ngộ ung dung là kẻ trí 
Quê hương chính là sự thể đạt đạo lý, mà hành tung của Chư vị Thiền sư là chống tích trượng vào đời cứu khổ độ mê, để một ngày nào đó con người không còn làm khách phong trần nữa, như Tổ Trúc Lâm đã nói:
Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách
Nhật vãn gia hương vạn lý trình 
Được dịch:
Lênh đênh làm khách phong trần mãi
Ngày hết, quê xa, vạn dặm trường 
Mãi làm người lữ thứ rong ruổi trong đời tử sinh, để rồi đường về quê hương trước mặt còn xa tít mù khơi, khi mà trời đã về chiều, hoàng hôn buông phủ.
Qua đó ta hình dung tấm thân tiều tụy, lang thang của người cùng tử trong Kinh Pháp Hoa. Người cùng tử có viên ngọc trong chéo áo nhưng không biết, cứ mãi rong ruổi tìm cầu vì miếng ăn, cái mặc, chịu cực, chịu khổ, cho đến một ngày kia gặp lại người bạn cũ, chỉ rõ viên ngọc trong chéo áo, khi ấy người cùng tử mới chấm dứt kiếp đời khổ lụy.
Sự tu tập và chứng ngộ đã sẵn có trong mỗi con người ở cuộc đời này, bởi vì Phật pháp bất ly thế gian pháp, tức là Phật pháp không thể xa rời thế gian mà có. Phật pháp cũng tùy thuận theo pháp thế gian để uốn nắn, un đúc và trưởng thành một hành giả trên lộ trình giác ngộ, giải thoát. Từ cõi đời nhiều đau thương, tan vỡ, như thân huyễn nhà mộng mà Chư Phật, các vị Bồ Tát đã hiện thân giáo hóa. Như giữa đầm bùn lầy kia, hoa sen thơm ngát, giữa sự sanh tử trầm luân là đạo tràng của bậc giác ngộ. Thiền sư Minh Lương, Triều vua Lê Dụ Tông đã nói:
Ngọc xinh ẩn trong đá
Hoa sen dấy tự bùn
Nên biết tìm giác ngộ
Nơi sinh tử trầm luân 
Vẫn là thái độ trầm lặng, sâu thẳm tận cùng vô để của tri thức, người hành giả làm sao hiển lộ Phật tánh? Không lý luận ngôn ngữ văn chương, mà tâm thanh tịnh, nhận chân được tri kiến Như Lai, đó là thiết yếu. Qua câu chuyện của người có kinh nghiệm thực tập Thiền định, chúng ta thấy:
"Mưa không ngớt, Thiền đường lạnh và ẩm ướt một cách khó chịu... mặc áo quần dài phủ mắt cá chân, áo dài tay bằng len, hai chiếc áo ấm, áo choàng len, hai đôi bít tất len, nhưng không hết run... Tiếng gầm thét của người Godo còn làm phân tâm hơn là cây kích trượng vung múa, đau nhức ở chân và lưng... Tư tưởng phóng chạy điên cuồng... Thay đổi thế ngồi từ Agura sang Seiza đến Hanka, điều chỉnh 3 cái đệm mông theo mọi cách, có thể nghĩ ra nhưng vẫn không tránh khỏi đau..."
"Vào độc tham lần đầu tiên, Lão Sư Đại Vân vẽ một vòng tròn với một chấm ở giữa: "Cái chấm này là ông và cái vòng tròn này là vũ trụ, thật ra ông bao trùm cả vũ trụ nhưng vì ông tự thấy mình như cái chấm này, một mảnh nhỏ bé biệt lập, nên ông không kinh nghiệm vũ trụ như không thể tách rời với mình... ông phải phá vỡ sự tự nhốt mình, phải quên triết học và mọi thứ khác, phải đặt tâm ở đan điền và chỉ hít thở KHÔNG ... Tâm của vũ trụ là cái hốc bụng của ông!..."
"KHÔNG là thanh kiếm khiến ông có thể cắt đứt mọi tư niệm tận trong vùng cội nguồn tư tưởng và tình cảm... Nhưng KHÔNG không phải chỉ là phương tiện để đạt ngộ mà nó chính là giác ngộ. Tự chứng ngộ không phải là việc tiến từng bước mà là kết quả của một cái nhẩy vọt, trừ phi tâm ông thanh tịnh thì ông không thể thực hiện được cái nhẩy vọt này.
"Thầy muốn nói gì qua chữ thanh tịnh?"
"Trống rỗng, không một tư niệm nào hết..."
"Nhưng tại sao cần phải chiến đấu để giác ngộ, nếu chúng ta vốn có sẵn Phật tánh đã giác ngộ?"
"Ông có thể chỉ cho tôi xem cái tánh đã giác ngộ của ông không?"
"À không, tôi không thể chỉ ra được nhưng trong Kinh bảo chúng ta vốn có tánh ấy phải không?"
"Kinh không phải là kinh nghiệm của ông, đó là kinh nghiệm của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Nếu ông nhận ra Phật Tâm của mình, thì ông chính là Phật." 
Giá trị tối thắng của người thực tập Thiền định là tạo điều kiện để trí tuệ phát khởi, từ đó chơn tâm được hiển lộ, mà qua tinh thần giáo pháp Tam Vô Lậu Học: Tức là Giới, Định, Huệ. Người hành giả từ Giới sanh Định, và từ Định để phát sanh Trí Huệ. Mà mãnh lực của Trí Huệ là xô ngã mọi thành trì tham sân chấp ngã để từ đó hành giả thõng tay vào chợ, mà hòa quang đồng trần, như bao nhiêu phong thái của người Đạt Đạo, thản nhiên tự tại trước sự tử sinh, hay bao nhiêu biến cố thăng trầm của cuộc đời như Vạn Hạnh Thiền Sư đời Lý đã nói:
Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

Được dịch:
Thân như bóng chớp chiều tà
Cỏ xuân man mác thu qua rụng rời
Thịnh suy, suy thịnh việc đời
Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành

Hãy để tâm thanh thản như dòng nước thiên nhiên. Hãy để tâm bềnh bồng như mây trời vô định. Hãy để tâm thư thả như từng giọt nắng hồng và hãy để tâm thong dong như chưa từng bị trói buộc bởi bất cứ lý do mê ngộ, thánh phàm, chân như, hay vọng niệm. Tâm của người đạt đạo, phong thái phiêu diêu như Thiền Sư Thanh Nguyên Duy Tín đã nói:
"Sải tôi, ba mươi năm trước, khi chưa học Thiền, thấy núi là núi, thấy nước là nước. Sau nhân theo bậc thiện tri thức, chỉ cho chỗ vào, thấy núi chẳng phải núi, thấy nước chẳng phải là nước. Rồi nay thể nhập chốn yên vui tịch tĩnh y nhiên, thấy núi chỉ là núi, thấy nước chỉ là nước."
Tâm của người đạt đạo: Vô ngữ! Vô ngôn! Tiếu kha kha!

 

San Diego, ngày 14 tháng 08 năm 2004
Thích Nguyên Siêu

THẤY MỌI VẬT NHƯ NÓ LÀ
Zoketsu Norman Fischer
Mỹ Thanh dịch Việt


Zazenkai, Khoá Tu ngày 22 tháng 11, năm 1997,
Thiền viện Karuna, Vancouver, B.C.
Thật là vui vẻ khi cuối tuần nầy đa số chúng ta đã buông bỏ mọi âu lo, thành tựu và vấn đề, để có thời gian ngồi thiền ở nơi đây. Tôi vừa bước ra ngoài đi dạo một lát và gặp một cơn mưa phùn. Và rồi tôi nghĩ, việc thực tập thiền của chúng ta cũng giống như mưa vậy, vì mưa liên tục nuôi dưỡng, cũng như thấm nhuần vào cuộc sống của chúng ta. Mưa làm ẩm ướt hạt giống đã lâu bị chôn vùi trong lòng mỗi chúng ta, và khi hạt giống nẩy mầm nó sẽ đâm chồi kết lộc. Cho dù thiền tập đôi lúc gặp trở ngại và mưa đôi lúc có thể thay thế bằng bão giông. Tuy vậy, mưa và thiền tập đều cần thiết. Mưa rơi vì bản chất tự nhiên của nó, mưa không cần đấu tranh hoặc tự đặt câu hỏi, mưa không nghi ngờ hoặc than vãn, nó chỉ đơn giản rơi, từ đầu đến cuối. Và thiền tập của chúng ta cũng giống như vậy.
Khi chúng ta ngồi thiền một thời gian lâu, chúng ta nhận thấy rất nhiều, rất nhiều thứ trong vòng tròn nhỏ của chính niệm. Chúng ta nhận thấy hơi thở đến và đi, chúng ta thấy các ý tưởng xuất hiện rồi biến mất, chúng ta nhận diện các cảm giác, nhận diện những cảm xúc của thân, nhận diện sự hoạt động của cái thấy, cái nghe, sự xúc chạm, và vị giác. Như Dogen đã nói, « Chúng ta nhận thấy rất nhiều thứ, thấy tất cả những gì mà mắt chúng ta có thể nhìn thấy được. » Nhưng mọi thứ mà chúng ta có thể thấy và cảm nhận với các giác quan ; trong Phật giáo, tâm thức được coi là một giác quan, mọi thứ mà chúng ta cảm nhận được nhờ các giác quan không phải là tất cả những gì mà chúng ta đang trải nghiệm qua. Đây là sự thách thức đối với con người, và các vấn đề của con người bắt nguồn từ nơi đây, bởi vì con người được sanh ra với chút tự kiêu. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta nhận thấy và hiểu biết về chính bản thân mình, và chúng ta nhìn thấy cũng như hiểu rõ thế giới của chúng ta. Và rồi chúng ta tự cho rằng chúng ta đã nhìn thấy và hiểu đúng về thế giới nầy, chúng ta có thể đánh giá nó, và chúng ta nhận thấy sự khiếm khuyết của thế giới và ngay cả chính bản thân chúng ta nữa. Và như vậy, chúng ta nghĩ rằng chúng ta cần phải thay đổi thế giới, hoặc thay đổi chính bản thân, và chúng ta trở nên đau khổ vì sự khiếm khuyết, rối loạn, cùng với những ham muốn, tham đắm .
Nhưng tất cả chỉ dựa vào sự đánh giá rất giới hạn trong đời sống con người. Chúng ta tin tưởng vào ước định nầy, vì nó đã nằm sâu trong tâm tư chúng ta, nhưng thật ra không phải như vậy, tôi có thể nói, sự thật không hẳn như vậy. Thế giới mà chúng ta thấy bằng mắt rất chân và rất thật, chỉ có điều chúng ta không nhìn thấy thế giới với tất cả mọi mặt của nó ; chúng ta không có khả năng thấy rõ kích thước toàn diện của nó. Các giác quan của chúng ta không thế vượt xa để mà thấu hiểu. Tuy nhiên, khi chúng ta quyết tâm ngồi thiền, quyết tâm trở về với giây phút hiện tại, dẹp bỏ mọi việc, mang toàn tâm tư trở về giây phút hiện tại, không gián đoạn, không xa cách, chúng ta có thể nhận thức được cái cảm giác chân thật của sự bao la chứa đựng trong vòng tròn nhỏ chính niệm. Khi chúng ta nhận thấy các ý nghĩ của chúng ta không hẳn chỉ là những ý nghĩ, những cảm giác của chúng ta không hẳn chỉ là những cảm giác, cái thấy và nghe không hẳn chỉ là cái thấy và cái nghe hạn chế… Tất cả mọi thứ đều ở ngay nơi đây, từng giây từng phút. Trong một thế giới có những thế giới được tạo thành và bị huỷ diệt với từng hơi thở ra vào.
Khi chúng ta thấy rõ sự kiện nầy, chúng ta sẽ không còn bị vướng bận bởi các vấn đề cá nhân. Tất nhiên chúng ta vẫn còn những vấn đề, và chúng ta vẫn phải giải quyết các vấn đề nầy. Chúng ta vẫn phải chọn lựa, vẫn phải ứng phó về các lựa chọn của chúng ta, và phải chịu đựng những hậu quả, nhưng chúng ta sẽ có khả năng thấy tất cả mọi việc một cách đầy đủ hơn, và chúng ta biết đánh giá sự việc một cách sâu sắc hơn, và như vậy năng lực và sự an lạc của chúng ta cũng sẽ gia tăng.
Tôi biết rằng trong đa số chúng ta, cuối tuần ngồi thiền ở đây để tiếp nhận Mười Sáu Giới Bồ Tát, chúng ta học và suy ngẫm về các điều nầy. Các giới luật như thế nầy : một vật thật nhỏ, thật đơn giản sẽ mở ra một chân trời bao la. Giới luật mới nghe tưởng như là luật lệ hoặc sự ngăn cấm, nhưng thật ra giới luật cũng giống như thực tập thiền, xuyên qua các giới luật nầy, chúng ta sẽ thấu hiểu về cuộc sống vô cùng của chúng ta.
Ba giới đầu tiên của Mười Sáu Giới Bố Tát là Tam Bảo, như chúng ta đã tụng kinh tối qua, và chúng ta sẽ tụng mỗi buổi chiều sau khi xả thiền, đó là Quy y Phật, Pháp, và Tăng. Tam Bảo là giới luật căn bản trong Mười Sáu Giới, và tất cả những giới khác đều nằm trong ba giới đầu nầy. Khi chúng ta nói quy y Phật – Pháp – Tăng, nghĩa là, chúng ta quay về nương tựa nơi Phật – Pháp – Tăng, chúng ta quay về với căn bản ban đầu, chấp nhận rằng Phật, Pháp, và Tăng không khác gì với thân và tâm của chúng ta. Lần nữa, chúng ta cảm kích bản chất, và thực chất của thân và tâm, rồi đến các vấn đề của chúng ta, những lo âu, cho dù nó vẫn hiện diện trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta không nghĩ về nó, và không xem nó quan trọng như trước đây nữa.
Vừa rồi ở Tassajara, thiền viện của chúng ta, chúng ta thực hành một bài tập đã từng được hướng dẫn bởi thầy Uchiyama Roshi tại Nhật bản, thực tập nầy gọi là « khoá thiền yên tịnh » . Nghĩa là khoá thiền không có pháp thoại, không có độc tham, không có tụng kinh, không có gì hết. Mọi người ngồi đối diện với bức tường, không có sự giúp đỡ nào khác. Tôi có nói chuyện với một thiền sinh ở Tassajara về việc nầy, và cô ta nói sau khi đã thực tập một thời gian, mỗi khoá thiền đều có một bài pháp thoại, cô ta để ý và thấy rằng mỗi lần sắp sửa đến giờ pháp thoại là cô ta chờ đợi pháp thoại, rồi chờ đợi giờ giải lao, giờ nghỉ ngơi sau khi ngồi thiền. Và tôi chợt nhận ra rằng, trách nhiệm của tôi là nói pháp thoại, như cho giải lao và giúp đỡ các thiền sinh một chút, và mong rằng bài pháp thoại đóng góp phần nào về khía cạnh giáo dục.
Giờ đây, tôi xin ngưng pháp thoại một lát để các vị giải lao và gửi đến các vị bài phê bình về một quyển sách có tính cách giáo dục. Có lẽ các vị đã biết rồi. Quyển sách ấy có tên là « Kết cấu của Thực Tại : Khoa học về các vũ trụ song song và Những Liên Quan mật thiết của chúng », của tác giả David Deutsch. Các vị có biết quyển sách nầy không ? Nghe tựa sách không cũng đã thấy quá hấp dẫn rồi. Đây chỉ là một bài phê bình nhỏ, sau khoá thiền, nếu các vị cần đọc một quyển sách, hãy đọc quyển sách nầy.
Bài phê bình sách bắt đầu với một thí nghiệm thông thường về vật lý học mà mọi người đều biết, ở đây tác giả muốn nói đến « Thí nghiệm Chia Hai xa xưa cũ rích ». Tất cả các vị dĩ nhiên đã biết về Thí nghiệm Chia Hai nầy đúng không nào ? Cá nhân tôi thì chưa nghe qua bao giờ, nhưng tác giả nhấn mạnh rằng mọi người đều biết về điều nầy.
Cũng may là nhà phê bình đã giải thích về Thí Nghiệm Chia Hai : « Nếu các vị nhắm bắn một tia phân tử (photon) vào phim hình, kế đó dùng một tấm cạc-tông đã bấm hai lỗ, chắn ngang đường đi của các phân tử. Kế đó, anh bít một trong hai lỗ, và các phân tử sẽ tự động đi xuyên qua lỗ hổng còn lại, và để lại một đốm trên phim hình. » Tới đây cũng dễ hiểu, phải không nào ? Cũng có lý lắm – các phân tử đi xuyên qua đó và để lại một đốm. « Việc gì sẽ xảy ra khi anh không bít lỗ trống thứ hai ? » A, anh nghĩ rằng các phân tử sẽ di chuyển xuyên qua hai lỗ hổng và anh có thể nhận thấy hai đốm, bên cạnh nhau, tương ứng với hai lỗ hổng trên tấm cạc-tông. Thật ra, anh không thấy hai đốm đâu. « Mở cả hai lỗ hổng làm cho các phân tử đi theo một mô hình đối lập rắc rối, và một dạng hình xen nhau giữa các dải băng tối và sáng, mô tả sự hiện diện và vắng mặt của các phân tử. » Điều nầy thật là lạ lùng. Tại sao lại như vậy ? Ông ta nói rằng, « Mở cả hai lỗ hổng sẽ ngăn chận một phân tử đi theo tiến trình ban đầu của nó. »
Nhà vật lý John Bell đã nói về tình trạng rắc rối nầy, nhưng bây giờ đã trở nên thông thường một cách kỳ quặc ( trừ chúng ta), nghĩa là « chỉ cần có khả năng đi xuyên qua lỗ hổng kia, sẽ làm ảnh hưởng đến sự chuyển động và ngăn chận các hướng đi của phân tử đó. » Điều nầy được giải thích một cách dễ hiểu bằng học thuyết lượng tử , ít nhất là về mặt toán học. Thuyết lượng tử có thể giải thích điều nầy, cho dù khi anh cố gắng chuyển dịch nó vào ngôn từ và kinh nghiệm hằng ngày, nó thách thức sự lý luận (logic), và chắc chắn rằng nó thách thức cả ngôn ngữ nhân loại. Việc nầy làm cho nhà vật lý Neils Bohr nói, « Chúng ta cần phải hiểu rõ rằng, khi nói đến các nguyên tử, ngôn ngữ chỉ có thể được sử dụng như thi ca. »
Tuy nhiên, trong quyển sách « Kết cấu của Thực Tại », David Deutsch đã cố gắng để giải thích bằng ngôn ngữ với các từ thông thường, hiện tượng nầy và hiện tượng khác. David Deutsch cãi lẽ trong sách như sau, « Nếu chúng ta đánh giá bề ngoài của thuyết lượng tử, chúng ta sẽ đi đến kết luận là vũ trụ của chúng ta chỉ là một trong những khối vũ trụ song song, mà các nhà vật lý gọi là « Multiverse. » (nhiều vũ trụ). Deutsch tin rằng một vài phần của các phân tử trong Thí Nghiệm Chia Hai bị cản trở và xáo trộn bởi « những bóng vô hình cuả phân tử ở một vũ trụ khác. » Điều nầy không phải là khoa học giả tưởng, nếu anh nghĩ đến toán học và lượng tử cơ học, điều nầy được hình thành dựa vào các thí nghiệm và toán học.
Sự giải thích về ĐaThế Giới là một cách giải thích về lượng tử cơ học, đã được nhà vật lý Hugh Everett trình bày lần đầu mấy mươi năm trước đây. Thí dụ, anh muốn đo chiều hướng của một hạt hạ phân tử. Theo thuyết lượng tử, một phân tử không bị xáo trộn giống như nó đang trong trạng thái bị giam cầm. Đây là lúc trước khi anh đo lường nó. Ở tất cả mọi chiều hướng mà phân tử có thể hiện hữu, trước khi anh đo lường, các phân tử ấy nằm trong trạng thái bị giam cầm.
Chỉ khi phân tử được đo lường, nó mới nằm ở một vị trí nhất định. Không có lý do gì một phân tử chọn vị trí nầy mà không chọn một vị trí khác, sự chọn lựa thật là bừa bãi. Ông Everett đã đề nghị cách khác, theo toán học đều có vẻ hợp lý, nhưng so với cách suy nghĩ về trạng thái thì nó đối lập với trực giác. Nghĩa là khi phân tử được đo lường, thế giới bị chia ra thành nhiều thế giới khác nhau. Trong mỗi một thế giới nầy điện tử (electron) nằm ở một vị trí khác. Chúng ta chỉ là bị kẹt trong một thế giới của vô số Thế Giới đa dạng nầy.
Dù sao đi nữa, tôi cũng nghĩ là các vị nên biết về việc nầy, nếu như các vị về nhà tối nay, và có người hỏi, « Anh có cảm thấy phí phạm thời gian không ? » , anh có thể trả lời, « Không, không đâu, tôi vừa học chút xíu về lượng tử cơ học. »
Trong Phật giáo, sự thực tập về cái thấy chân thật của kết cấu thực tại, xa hẳn cái thấy hữu hạn của chính nó, chúng ta gọi là Thực Tập về cái Thấy Rỗng Không của Tất cả Bản Chất Hiện Tượng. Đôi lúc chúng ta gọi sự thực tập nầy là Như Thế đó, hoặc Như Vậy đó. Hoặc giả chúng ta chỉ nói theo lối nói bình thường hàng ngày, chúng ta nhìn thấy mọi vật như nó là, không phải nhìn thấy nó với sự hình thành cụ thể có giới hạn.
Trong Phật giáo có một nhân vật thần thoại, là Bồ Tát Manjusri, hiện thân của sự thực tập, nhìn mọi vật như nó là. Bồ Tát Manjusri là một hành giả phi thường. Tôi không biết anh có bao giờ nhìn những bức tranh hay hình tượng của Bồ Tát Manjusri ? Chúng tôi có một tượng Bồ Tát Manjusri, có lẽ lớn như người thật, ở đền thờ Green Gulch. Tượng Bồ Tát Manjusri ở Green Gulch, và tất cả những bức vẽ về Bồ Tát Manjusri, tất cả đều mô tả Bồ Tát Manjusri trong tư thế ngồi. Hãy nghĩ rằng Bồ Tát Manjusri đang ngồi nơi chỗ của anh : Bồ Tát Manjusri đang ngồi thiền nguyên cuối tuần, để thấy mọi vật như nó là. Để đánh giá đúng nhưng không bị giới hạn bởi vòng tròn chính niệm.
Tất cả những hình tượng vẽ Bồ Tát Manjusri rất đẹp, rất xinh. Bồ Tát Manjusri luôn đẹp và phúc hậu. Bởi vì tầm nhìn của chúng ta bị giới hạn, nên chúng ta xấu xí. Một khi chúng ta tiến xa hơn, một khi chúng ta chiêm ngưỡng các hình ảnh đẹp đó dưới ánh sáng muôn màu của thế giới chân thật, chúng ta cũng sẽ trở nên đẹp đẽ. Một việc nữa là Bồ Tát Manjusri luôn luôn ăn mặc rất sang trọng. Quần áo của Bồ Tát luôn được trang hoàng thật đẹp. Tôi không biết ở Canada, các vị có mốt nầy không, nhưng chỗ chúng tôi sinh sống, có một mốt về xâu chuỗi rất thịnh hành. Ở đây các vị có tiệm bán chuỗi không ? Nhà tôi là một người xâu chuỗi rất giỏi. Cô ta có nhiều hộp đựng các hạt nhỏ để xâu lại thành chuỗi. Các vị có thể tỉ mỉ làm ra những xâu chuỗi rất đẹp, các xâu được bện, đan vào nhau một cách phức tạp. Cô ấy làm ra những chuỗi rất đẹp, nhất là những xâu chuỗi phức tạp, nhưng không có chuỗi nào đẹp mắt bằng các chuỗi đeo của Bồ Tát Manjusri. Những chuỗi đeo trên ngực Bồ Tát với những hạt thật là đẹp. Bồ Tát Manjusri với tóc dài, mặc áo choàng có trang hoàng và đính kim tuyến. Bồ Tát Manjusri luôn có tóc dài, được bới lên đỉnh đầu với trang sức cài tóc thật lạ. Bồ Tát Manjusri làm tôi nhớ đến một bài thơ nổi tiếng của Anne Waldman, tựa là « Trang điểm cho Hư Không », bởi vì Bồ Tát Manjusri là hư không, và chúng ta cũng là hư không, thật là một điều ngoạn mục, lý thú với ý nghĩ chúng ta trang hoàng hư không.
Thật sự chúng ta là hư không. Chúng ta nhìn vào tự thân và chúng ta nhận thấy đối tượng chính là bản thân. Thật vậy, giữa mỗi một phân tử và mỗi một nguyên tử trong thân thể của chúng ta, theo khoa học, có rất nhiều khoảng trống trong thân, rất nhiều khoảng hư không. Cả nguyên sự hiện hữu của thân thể chúng ta cũng là dựa vào sự bao la của hư không.
Bữa nọ, tôi đang đọc báo Khoa Học, và tôi không hiểu DNA hoạt động ra sao, nhưng báo nói về DNA và sự cấu tạo của nó, nói về thể nhiễm sắc hoặc cái gì đó. Về những thành phần đan chéo vào nhau để tạo thành một mảnh DNA. Bài báo cho biết người ta có thể lấy mẫu DNA trong thân thể một em bé, và thay vì để các thành phần ấy kết chặt trong mỗi tế bào, họ trải các xâu DNA ra, nếu DNA của em bé có thể trải ra kiểu nầy, thì nó sẽ trải dài từ Mặt Trời đến hành tinh Pluto (hành tinh xa Mặt Trời nhất) gấp mười bảy lần. Tôi không biết rõ là bao nhiêu dặm (miles), nhưng thật là lạ lùng khi nghĩ đến điều nầy.
Trong thiền đường của chúng ta tượng Bồ Tát Manjusri tay cầm một cây gậy giống như thế nầy : Bồ Tát không quơ hay vung gậy, Ngài cầm gậy một cách khéo léo để nó không bị rơi xuống đất. Dường như Ngài chẳng hề nghĩ gậy ấy là của Ngài. Đặc trưng hơn cả là các hình tượng của ngài Manjusri, một tay đang vung kiếm khỏi đầu. Đây là thanh kiếm nổi tiếng thường được nhắc đến trong trường Thiền, thanh kiếm có thể lấy đi sinh mạng cũng như cứu lấy sinh mạng. Thanh kiếm lấy mạng hoặc cứu mạng, bởi vì thanh kiếm chặt xuyên qua cái nhìn giới hạn của chúng ta, giữa ta và người, sống và chết, tốt và xấu. Như tôi đã nói qua, Ngài Manjusri ở thiền đường Green Gulch của chúng ta thì cầm một thiền trượng với một đoá hoa nhỏ ở đầu gậy.
Một sự việc khác về Bồ Tát Manjusri, Bồ Tát là hiện thân của sự thực tập « thấy mọi việc như nó là » , xa rời hẳn những khái niệm giới hạn, Ngài thường được diễn tả là một người trẻ trung. Tuổi 16 là tuổi điển hình của Bồ Tát Manjusri. Ngài được diễn tả như là một người trẻ tuổi, vì trí tuệ của Ngài. Trí tuệ thấy được tất cả mọi vật như nó là, đấy là trí tuệ không phải do đạt được. Đấy không phải là trí tuệ đạt được sau khi kinh nghịêm qua. Thông thường thì khi có tuổi, trí tuệ được tăng trưởng, cái nầy cũng tốt, nhưng trí tuệ của Bồ Tát Manjusri không phải như thế. Trí tuệ của Bồ Tát Manjusri là trí tuệ tựa như mưa rơi : trí tuệ mát mẻ, và bất ngờ. Nó không phải là kết quả của việc học hành lâu dài hoặc cố gắng hết sức.
Suzuki-roshi, người đã dựng nên Trung tâm Thiền San Francisco, ông đã sử dụng một câu đề tựa cho tác phẩm của ông, và bây giờ câu ấy rất là phổ biến, gọi là trí tuệ của Bồ Tát Manjusri, trí tuệ của Tâm thức lúc ban đầu. Đó là thấy mọi thứ một cách mới mẻ, thấy mọi vật trong kích thước hoàn toàn của chúng, với sự kỳ diệu, không phán đoán, và không thành kiến. Thông thường các trẻ nhỏ có thể thấy như vậy một cách rất tự nhiên. Chúng có thể thấy phép lạ trong bất cứ trường hợp nào, thấy sự liên hệ vô cùng, trong mỗi vật, mỗi thứ mà chúng đối diện. Cũng trong cách nầy mà Bồ Tát Manjusri nhìn thấy mọi sự vật, chỉ là Ngài Manjusri thì lớn tuổi hơn một chút, vì vậy Ngài có khả năng để hành động với lòng nhiệt huyết, hăng say và chính xác.
Chữ Mansjuri có nghĩa là « cao quý, lịch sự » . Trí tuệ và tuổi trẻ của Bồ Tát Manjusri đã tạo nên hình tướng của ngài, và tôi biết rằng Ngài Manjusri cũng đang ngồi ngay chỗ của anh, cao quý, và lịch sự. Ngài Manjusri biết gốc cao quý của Ngài, ấy là biết rõ bản chất tự nhiên của thân và tâm, thân và tâm không khác mọi vật, không có giới hạn, và hoàn toàn trống không. Sự hiểu biết nầy mang lại cho Bồ tát Manjusri một vẻ nghiêm trang trầm lặng và sức chịu đựng, có khả năng nhận thấy sự vịêc rõ ràng và sự kham nhẫn của tất cả trạng thái tinh thần, kể cả đau khổ, biết rằng tất cả các vấn đề đã được giải quyết, và không có gì đến hay đi, chẳng lo âu về sanh tử. Nhờ vậy Bồ Tát Manjusri mang dáng vẻ lịch sự và cuộc sống của Ngài toát lên vẻ quý phái cao sang. Prajna Paramita (Bát nhã ba-la-mật), khi nói về trí tuệ của Ngài Manjusri, kinh nói rằng, «Chỉ có trí tuệ mang đến cho chúng ta sự kiên nhẫn ». Đây là thế giới của chúng ta, đầy đủ mọi vật mặc dù nó chưa bao giờ được cấu tạo ra.
Có một bài kinh gọi là « Lời tiên tri về Ngài Manjusri đạt quả vị Phật ». Trong kinh nầy, một người hỏi ngài Manjusri, « Giác ngộ là gì ? » hoặc « Làm thế nào để đạt giác ngộ ? » Ngài cho một câu trả lời rất sáng suốt và nhẹ nhàng. Ngài nói, « Tôi không hối thúc bất cứ chúng sinh nào tiến đến Giác Ngộ, bởi vì chúng sinh không khi nào hiện hữu, và không có bản ngã. Bằng chứng là Giác Ngộ và chúng sinh đều giống nhau, không khác. Cái không khác nầy chúng ta gọi là Không. Trong cái Không, chẳng có gì để mà tìm kiếm. »
Vị Manjusri đang ngồi nơi chỗ của anh, trong một vũ trụ song song, ở trên, ở dưới và ở xung quanh anh, Ngài ngồi với dáng thật đẹp, an lạc, yên ổn trong sự hiểu biết về cái Không. Điều chúng ta cần làm là bước một bước vào đời sống, hoàn toàn tỉnh thức trong quá trình trải nghiệm của chúng ta, không khoảng cách, không bám víu, không suy diễn, không ham muốn, không sửa chữa. Chỉ là bước vào đời với kinh nghiệm sẵn có, bất cứ là kinh nghiệm gì. Và khi chúng ta làm như vậy, Bồ Tát Manjusri có thể xuất hiện để tiếp xúc với chúng ta, thể hiện sự thực tập của Ngài một cách hoàn hảo xuyên suốt qua cuộc sống và hoạt động của chúng ta.
Như vậy, tôi tin rằng trong vài giờ còn lại của buổi thiền toạ hôm nay, và ngày mai, và trong quãng đời còn lại, kể cả trong tương lai, chúng ta có thể tuyên thệ, một cách nghiêm trang, tiếp tục sự thực tập của Bồ Tát Manjusri. Thật vậy, tôi nghĩ thiền tập làm cho đời sống của chúng ta có giá trị hơn. Nó làm cho cuộc sống của chúng ta tốt đẹp, và lợi ích.
Tất cả chúng ta chỉ cần - rất đơn giản – là ngồi thẳng, hoàn toàn tỉnh thức trong tư thế nầy và hít thở, cố gắng theo dõi mỗi hơi thở ra vào, để ý mỗi ý nghĩ và cảm giác một cách rõ ràng mỗi khi chúng xuất hiện, và rồi từ tốn quay về với tư thế và hơi thở.
Chỉ cần thực tập như vậy thôi. Rất là đơn giản : bất cứ cái gì xuất hiện trong lúc thực tập, bất cứ gì xảy ra, đều tốt. Bất cứ cái gì, đó chỉ là một chặn trên con đường của chúng ta đi, và trong mỗi giây phút, bất kể giây phút ấy mang đến việc gì, biết đâu đó là một cơ hội vô tận.
Colin MacDonald ghi chép lại vào ngày 08 tháng 10, năm 2000.

Thiền sư Mã Tổ - Ðạo Nhất
Tâm Thái
                                                                
Thiền sư Mã Tổ (709-788) là đệ tử của thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng vốn là đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng (638-713). Số đệ tử ngộ đạo của sư lên tới 139 người, có chỗ ghi là 84 người được coi là kỷ lục so với tất cả các thiền sư khác. Nơi sư hoằng pháp là Giang Tây cũng được mệnh danh là trường thi Phật. Dòng thiền của sư sau này có những vị nổi tiếng là Hoàng Bá Hy Vận, và kế đó là Lâm Tế Nghĩa Huyền (?-866), vị tổ sáng lập tông Lâm Tế vẫn còn được truyền tiếp cho tới ngày nay. Thiền tông Trung Hoa là do công lao sáng lập của tổ Bồ Ðề Ðạt Ma cho đến Lục tổ Huệ Năng, nhưng kể từ thời hai vị Mã Tổ và Thạch Đầu thì mới hưng thịnh và có những đường lối, đặc điểm rõ rệt. Trong khi Mã Tổ khai đường ở Giang Tây thì Thạch Ðầu Hy Thiên hoằng pháp ở Hồ Nam. Hai vị đó được coi như hai cột trụ của Thiền Tông lúc bấy giờ. Dòng thiền của Mã Tổ là tông Lâm Tế, còn dòng thiền của Thạch Ðầu là tông Tào Ðộng. “Phật giáo Trung quốc đời Ðường (618-907) được coi là cực thịnh, nhiều tông phái phát triển mạnh như Thiền tông, Tịnh Ðộ tông, Luật tông, Pháp Tướng tông, Hoa Nghiêm tông, Mật tông ... Nhưng đến cuối đời Ðường thỉ các tông khác đều đi tới chỗ suy vi, chỉ có Thiền Tông là vẫn thịnh đạt xán lạn”. (trích: Lịch sử Phật giáo Trung quốc, Thích Thanh Kiểm) 
Sau đây xin giới thiệu một cuốn sách nghiên cứu khá đầy đủ về thiền sư Mã Tổ.
Tóm lược sách: “Sun Face Buddha – The Teachings of Ma-tsu and the Hung Chou School of Ch’an. Tác giả: Cheng Chien Bhikshu. Nhà xuất bản: Asian Humanities Press- Berkeley, California, 1992. Tỳ kheo Cheng Chien, vốn người Yugoslavia, tục danh là Mario Poceski, sanh năm 1964, đã thọ giới tỳ kheo tại Sri Lanka năm 1983.
Tựa đề cuốn sách được dịch là: “Mặt trời Phật - Ngữ lục của Mã Tổ và tông phái Thiền Hồng Châu”.
Phần 1: Dẫn nhập
Trước khi viết về cuộc đời và pháp môn của Mã Tổ (709-788) tăng Cheng Chien giới thiệu về sự phát triển Thiền tông tại Trung Hoa trong thời đại của Mã Tổ. Đời Đường thường được coi là thời cực thịnh của văn hóa Trung Hoa nhờ sự tương đối ổn định về chánh trị và kinh tế. Đạo Phật được du nhập trước đó hơn 500 năm đã phát triển rất mạnh.  Đến thời đó những kinh, luận quan trọng của Phật giáo đã được dịch ra tiếng Trung Hoa, người dân đã thấm nhuần tư tưởng Phật giáo. Các tông phái đã bắt đầu xuất hiện.
Tông Thiên Thai được coi như xuất hiện trước nhất. Vị sáng lập ra tông này là Trí Khải (Chih-i) (538-597) ở núi Thiên Thai. Ngài là đệ tử của Huệ Tư (515-577) và đã thiết lập một hệ thống đầy đủ bao gồm toàn thể giáo lý đạo Phật, phối hợp lý, sự, quyền, thiệt, đốn, tiệm thành một khối. Một tác phẩm quan trọng của Trí Khải là “Ma Ha Chỉ Quán”. Ảnh hưởng của Trí Khải rất quan trọng trong sự phát triển Phật giáo, nhất là đối với Hoa Nghiêm tông và Thiền Tông.
Một tông phái khác được xuất hiện sau Thiên Thai tông là Hoa Nghiêm tông, y cứ vào kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka sutra). Sơ tổ ở Trung Hoa là Đỗ Thuận (557-640), nhưng 2 nhân vật chủ yếu là tổ thứ 2 Trí Nghiêm (Chih-yen) (602-668) và tổ thứ 3 Pháp Tạng (Fa-tsang) (643-712). Sau đó tổ thứ 4 là Trừng Quán (Ch’eng-kuan) (738-839) cũng đã có công lớn trong việc truyền bá Hoa Nghiêm tông, dệ tử của ngài là Tông Mật (Tsung-mi) (780-841) rất nổi tiếng và là người đã bắc cầu giữa hai tông Thiền và Hoa Nghiêm. Ảnh hưởng của Hoa Nghiêm tông và Thiền tông được thấy rõ trong pháp môn của Mã Tổ.

Sự hình thành của Thiền tông tại Trung Hoa.
Vị tổ thứ nhất của Thiền tông tại Trung Hoa là Bồ Đề Đạt Ma (?-532, có nơi ghi là 470-543). Tổ vốn là vị tổ thứ 28 Thiền tông đã từ Ấn Độ qua miền Nam Trung Hoa vào khoảng cuối thế kỷ thứ 5. Cuộc đời của tổ không được ghi rõ lắm, tổ có để lại tác phẩm “Thiếu Thất Lục Môn”, ghi sáu cửa vào động Thiếu thất, tức sáu pháp môn để vào cửa Thiền. Tổ thứ hai là Huệ Khả (487-593), người Trung Hoa.  Năm 40 tuổi Huệ Khả thọ pháp của tổ Bồ Đề Dạt Ma và theo tu học 6 năm, được tổ trao cho cuốn kinh Lăng Già (Lankavatara Sutra) coi như căn bản Phật pháp. Tổ thứ 3 là Tăng Xán, viết tác phẩm Tín Tâm Minh. (Tổ gặp một vị sư người Ấn Độ tên Tỳ Ni Đa Lưu Chi sang Trung Hoa cầu pháp. Sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi được truyền tâm ấn và được tổ khuyên qua phương Nam để tiếp độ chúng sinh, và sau này được coi là sơ tổ Thiền tông Việt Nam- trích Tín Tâm Minh nghĩa giải, của Thuần Tâm - Nhựt Quang)
Tổ thứ 4 là Đạo Tín (580-651). Từ thời Đạo Tín thì lịch sử Thiền tông đã bắt đầu được ghi chép rõ ràng. Đệ tử của tổ lên đến 500 người. Đạo pháp của tổ được đệ tử ghi thành cuốn (Record of the Transmission of the Lankavatara).
Tổ thứ 5 là Hoàng Nhẫn (601-674). Sư họ Châu, ở tại huyện Huỳnh Mai. Năm lên 7 được tổ Đạo Tín thu nhận và ở với tổ 30 năm. Khi tổ Đạo Tín tịch năm 651 thì Hoàng Nhẫn dời về Huỳnh Mai. Sau này hai pháp môn của Đạo Tín và Hoàng Nhẫn được gọi là Pháp môn Đông Sơn, là tên núi tổ ở. Pháp môn của Hoàng Nhẫn được ghi trong Tối thượng thừa luận ? (Discourse on the Essentials of Mind Cultivation). Nhiều đệ tử của Hoàng Nhẫn đã chứng ngộ có nhiều người nhưng nổi tiếng là Thần Tú (Shen-hsui) và Huệ Năng (Hui-neng).
Thần Tú (606?-706) truyền bá Thiền tông về hướng Bắc, tại kinh Tràng An và Lạc Dương theo phương pháp tiệm tu, còn Huệ Năng về phương Nam, tại tỉnh Hồ Nam và Giang Tây theo phương pháp đốn ngộ. Thần Tú xuất gia năm 20 tuổi theo học kinh, luận, đến năm 45 tuổi mới đến Huỳnh Mai thọ pháp Hoàng Nhẫn, và ở đó 6 năm, sau khi được truyền tâm ấn, sư đến trụ trì ở chùa Ngọc Tuyền ở Kinh Châu khoảng năm 676-679, đệ tử theo học rất đông (có tài liệu ghi hơn 3000 người) và nổi tiếng, nên đến năm 701 sư được triều đình mời về Tràng An hoằng pháp. (Khi sư tịch được phong là Đại Thông thiền sư).
Huệ Năng (638-713) họ Lư sanh ở Tân Châu, cha mất sớm, làm nghề bán củi để giúp đỡ mẹ già. Đến năm 25 tuổi thì đến chùa Đông sơn tại huyện Huỳnh Mai thụ giáo Hoàng Nhẫn. Sau khi được tổ Hoàng Nhẫn truyền tâm ấn, trao y bát chứng nhận sư là người kế nghiệp và như vậy là vị tổ Thiền tông Trung Hoa thứ 6. Sư đi ẩn dật ở miền Nam trong 16 năm. Khi biết thời cơ đã tới, sư đến chùa Pháp Tánh tại Quảng Châu. Nơi đây sư mới chánh thức thọ giới tỳ kheo từ luật sư Trí Quang. Đến năm 676 tổ dời về chùa Bửu Lâm ở Tào Khê và hoằng pháp tại đó khoảng 40 năm cho đến khi tịch. Pháp môn và cuộc đời của tổ được ghi lại trong cuốn Pháp Bảo Đàn kinh. Tổ truyền pháp Vô Niệm, và Định Huệ đồng tu. Tổ nhấn mạnh cần thấy tự tánh, tức kiến tánh, bằng pháp tu vô tướng, vô trụ và vô niệm. Công lao truyền dựng pháp môn của Lục tổ Huệ Năng phần lớn là do Thần Hội Hà Trạch (Shen-Hui, 670-762 hoặc 684-758). Những đệ tử nổi tiếng của Huệ Năng gồm có: Nam Nhạc Hoài Nhượng (677-744), Vĩnh Gia Huyền Giác (665-713) trước tác tập Chứng Đạo Ca, Thanh Nguyền Hành Tư (660-740), Nam Dương Huệ Trung sau này là Quốc sư (?-775).
Ngoài tông chánh thống kể trên còn có vài tông phái Thiền khác nhưng không phát triển được bao lâu và đã suy tàn. Đó là thiền phái Ngưu Đầu do Pháp Dung (594-657) sáng lập. Pháp Dung được coi như là đệ tử của Tứ tổ Đạo Tín, trụ trì tại núi Ngưu Đầu (có tài liệu khác ghi Pháp Dung là đệ tử của tổ Hoàng Nhẫn). Ngoài ra có tông Tứ Xuyên mà đại diện là sư (Wu-hsiang) và sư (Wu-chu).

Cuộc đời và pháp môn Mã Tổ
Sư họ Mã, sanh năm 709 tại Hán Châu gần biên giới Tây Tạng. Từ hồi còn nhỏ sư đã xuất gia với hòa thượng Đường (Ch’u-chi) (665-732), hòa thượng Đường vốn là đệ tử của (Chih-shen) (609-702) nguyên là một đệ tử của Ngũ tổ Hoàng Nhẫn. Trong một tài liệu Tông Mật (Tsung-mi) có ghi là Mã Tổ theo học hòa thượng Kim có pháp danh là (Wu-hsiang), người Đại Hàn (684-762) mà cũng là đệ tử của hòa thượng Đường. Hai hòa thượng Đường và Kim đều là những vị Thiền sư nổi tiếng thời đó. Hòa thượng Kim dạy pháp 3 câu là: không nhớ (no-remembering), không nghĩ (no-thought), không quên (no-forgetting) liên quan tới giới, định, huệ của các kinh Phật. Mục đích của “ba không” là không nhớ những quá khứ, không lo nghĩ về tương lai để chuyên chú tu tập. Do đó nên tác giả Cheng Chien cho rằng có lẽ Mã Tổ chịu nhiều ảnh hưởng của phái thiền Tứ Xuyên của hoà thượng Kim hơn là của thiền sư Hoài Nhượng sau này.
Năm 738 Mã Tổ thọ giới tỳ kheo với luật sư Viên ở Du Châu và sau đó đã dời Tứ Xuyên đến vùng Trung của Trung Hoa. Khoảng năm 738 đến 742 sư tới Hoành Nhạc ? (Heng-yueh) và chuyên tu thiền định theo thiền Bắc phái, vì sư thường hay nhắc tới kinh Lăng Già vốn được áp dụng tại Bắc phái, thay vì theo kinh Kim Cang thường được nhắc tới tại Nam phái. Vấn đề đó không được ghi rõ ràng lắm.
Khi ở Hoành Nhạc thì Mã tổ có gặp và theo học thiền sư Hoài Nhượng trong 10 năm. Sau khi rời Hoài Nhượng khoảng năm 750 thì sư du phương để tiếp tục tu tập và giáo hóa. Đó là thời mà Trung Hoa có nhiều xáo trộn trong xã hội vì có loạn An Lộc Sơn và nhà Đường bắt đầu suy đồi. Vào khoảng năm 776-779 Mã Tổ đến Kiến Dương, kế dời đến núi Cung Đông Nam Dương cho đến khi sư tịch năm 788. Tại đó học giả các nơi tụ hội về rất đông. Số đệ tử ngộ đạo lên đến 139 người - có tài liệu ghi 84 người - hơn tất cả những thiền sư khác.
Dòng thiền của Mã Tổ sau này được gọi là phái Hồng Châu, là nơi mà Mã Tổ và các đệ tử truyền bá. Pháp môn này được các đệ tử truyền bá khắp Trung Hoa trong thế kỷ thứ 9. Mã Tổ cùng với Thạch Đầu Hy Thiên thời đó là hai vị đã đem lại cho Thiền tông Trung Hoa sự phát triển lớn mạnh đời Đường.
Mối liên quan giữa Mã Tổ và Thạch Đầu rất là đặc biệt. Không có tài liệu nào ghi việc gặp mặt của hai vị đó nhưng họ rất quý trọng nhau. Nhiều tăng đã theo học cả hai vị. Nhiều khi vị này lại giới thiệu đệ tử của mình qua tham vấn vị kia. Có thể nói là Thiền tông đã bước qua giai đoạn mới trong giai đoạn này, có tính cách cởi mở và trực tiếp. Những phương pháp giảng dạy như quát, đánh, những câu hỏi như bí hiểm là do ảnh hưởng của Mã Tổ. Có thể nói rằng kể từ thế kỷ thứ chín cho đến nay các vị đại thiền sư đều là đệ tử tinh thần của Mã Tổ và Thạch Đầu.
Căn bản của pháp môn Mã Tổ là thuyết Như Lai Tạng (tathagatagarbha). Thuyết này đã được nêu lên trong nhiều kinh điển, đặc biệt là kinh Hoa Nghiêm, phẩm Như Lai Xuất Hiện. Thuyết Như Lai Tạng cũng có được nói đến trong kinh Lăng Già.
Theo thuyết Như Lai Tạng thì tất cả các chúng sinh đều có Chân Tâm (True Mind) mà vốn xưa nay sáng suốt, thanh tịnh nhưng thường bị vọng tưởng che lấp. Tuy cái Chân Tâm hoặc Phật tánh (Buddha nature) đó ngoài sự nghĩ lường và không có dấu vết gì, nhưng tùy duyên có thể biểu hiện thành mọi thứ. Cái đặc tính năng động đó của Chân Tâm rất là quan trọng đối với Mã Tổ vì sư cho rằng việc chứng ngộ là do nhận được những biểu hiện đó. Đạo không phải là những nguyên tắc siêu hình trừu tượng, mà những lời nói, ý nghĩ và hành động của mình đều là sự biểu hiện của Chân Tâm. Sự thật thưòng có mặt trong tất cả mọi thứ - là tất cả mọi thứ - mọi thứ đây có nghĩa là mọi pháp, chỉ vì chúng ta chìm đắm trong si mê nên không nhận ra điều đó.
Chúng sanh không biết trở về nguồn nên chỉ biết chạy theo danh và tướng, do đó vọng tưởng khởi lên và tạo ra muôn nghiệp. Vì vậy mê là mê cái bản tâm, và ngộ chỉ là ngộ cái bản tâm.
Vì Chân Tâm thì ai cũng có cho nên nói không phải tu mà được, cũng có nghĩa là không có thứ lớp. Tuy vậy vì chúng sanh quá si mê nên phải nói có nhiều pháp tu. Vọng tưởng nói đây là tâm phân biệt tốt và xấu, đúng và sai, phàm và thánh; vọng tưởng là những ý nghĩ hai bên, tạo ra những kiến chấp và coi đó là thật. Vì vậy thay vì lo diệt vọng thì chỉ cần thấy bản chất của chúng là không. Tu là buông xả những thói quen tạo mọi thành kiến và để cho cái bản thể tự biểu hiện.
Câu mà Mã Tổ thường chỉ rõ pháp tu đó là : “Tâm bình thường là Đạo”. Tâm bình thường là tâm không chấp những điều như là tốt và xấu, đúng và sai, thường và vô thường, phàm và thánh; đó là cái tâm không chấp, cũng không xả. Câu chuyện sau đây giữa Nam Tuyền (747-834) và Triệu Châu (778-897) chỉ rõ về nghĩa “Tâm bình thường”:
Triệu Châu hỏi Nam Tuyền: “Thế nào là đạo?”
Nam Tuyền đáp: “Tâm bình thường là đạo”
- Lại có thể nhằm tiến đến chăng?
- Nghĩ nhằm tiến đến là trái.
- Khi chẳng nghĩ làm sao biết là đạo?
- Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết, biết là vọng giác, không biết là vô ký. Nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi, ví như hư không, thênh thang rỗng rang, đâu thể gắng nói phải quấy?
(trích từ Trung Hoa chư thiền đức hành trạng, của H.T. Thích Thanh Từ)
Pháp môn của Mã Tổ được coi thuộc truyền thống “đốn ngộ”, tức là khác với “tiệm ngộ”. Nhưng trong khi công việc tu tập hàng ngày thì vẫn phải có sự giảng giải, chỉ dẫn nên không sao tránh khỏi việc dẫn dắt đệ tử từng bước. Các tài liệu không ghi rõ sự hướng dẫn tu tập ra sao nhưng theo các ngữ lục của các đệ tử thời sau này thì vẫn có sự thờ phụng, tụng kinh, học hỏi, giới luật và ngồi thiền. Chỉ sau khi các đệ tử đã có trình độ căn bản thì mới áp dụng pháp chỉ thẳng của Thiền tông. Trong ngữ lục của Mã Tổ cũng có nói tới các kinh điển như Lăng Già, Duy Ma Cật, Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa  … Các thiền sư chỉ nhấn mạnh đến việc đừng quá chấp chặt vào kinh điển rồi có những quan điểm sai lạc mà rất thịnh hành ở nhà Đường thời đó.
Pháp môn Thiền tông đều được căn cứ từ các kinh điển. Thí dụ như lời giảng “tức tâm tức Phật” cũng được thấy trong đoạn sau đây ở kinh Hoa Nghiêm:
“Cũng vậy, trí huệ của Như Lai vô lượng, vô ngại có thể lợi ích khắp tất cả chúng sanh, đầy đủ trong thân chúng sanh. Chỉ vì hàng phàm phu vọng tưởng chấp trước nên chẳng biết, chẳng hay, chẳng được lợi ích.
Bấy giờ đức Như Lai do trí nhãn thanh tịnh, vô ngại xem khắp pháp giới tất cả chúng sanh mà nói rằng: Lạ thay, lạ thay! Tại sao các chúng sanh này có đủ trí huệ Như Lai, mà ngu si mê lầm chẳng hay, chẳng thấy. Ta nên đem thánh đạo này dạy cho họ lìa hẳn vọng tưởng chấp trước. Từ trong thân, họ thấy được trí huệ Như Lai quảng đại, như Phật không khác.”
            (Phẩm Như Lai xuất hiện, Kinh Hoa Nghiêm, tập 3, trang 408)
và trong đoạn khác:
“Như tâm, Phật cũng vậy
Như Phật, chúng sanh đồng
Phải biết Phật cùng tâm
Thể tánh đều vô tận”
            (Phẩm Dạ Ma Cung, tập 1, trang 661)
Câu “Phi tâm, phi Phật” cũng thấy trong kinh:
“Chúng sanh vọng phân biệt,
Là Phật, là thế giới,
Người liễu đạt pháp tánh
Không Phật, không thế giới”
            (Phẩm Đâu Suất kệ tán, tập 2, trang 74)
và về câu “chẳng mắc danh tự”:
“ Vì Bồ Tát này nghĩ rằng: Tôi phải quán sát tất cả các pháp như huyễn, chư Phật như bóng, Bồ Tát hạnh như giấc mơ, Phật thuyết pháp như vang. Tất cả thế giới như hóa …”
            (Phẩm Thập hạnh, tập 1, trang 686)
(Những đoạn trích này đều từ bản dịch kinh Hoa Nghiêm của hòa thượng Thích Trí Tịnh)
Như vậy những lời giảng dạy của Thiền tông không có sai khác với kinh điển nhưng chỉ khác biệt về cách trình bày và áp dụng trong việc tu tập cũng như đời sống hàng ngày. Các thiền sư giảng dạy một cách tự do, không câu nệ mà mục đích là giúp cho đệ tử vượt khỏi vọng tưởng và đạt tới giải thoát. Vì vậy những lời nói rất là sống động, mạnh mẽ, đi thẳng vào tâm can đệ tử. Các ngài không dùng những lý thuyết trừu tượng hoặc mỹ từ, như vậy các đệ tử có thể tập trung tâm trí trực tiếp vào việc thấm nhuần trí huệ vô biên của đức Phật.

Truyền thống thiền viện
Theo truyền thống của đức Phật, những bài pháp thường là phương tiện tùy theo trường hợp để dẫn dắt đệ tử qua những chướng ngại để vượt qua những đám mây vô minh tới ánh mặt trời trí huệ. Vì vậy không cần một hệ thống cố định trong việc giáo hóa mà chỉ chú trọng việc thực hành và kinh nghiệm. Truyền thống này cũng được áp dụng trong việc truyền bá Thiền tông. Không như các tông phái khác thường dùng một học thuyết cố định để giáo hóa, các thiền sư từ thời Mã Tổ trở đi đều tùy căn cơ đệ tử mà dùng những phương pháp khác nhau để giảng dạy. Như thiền sư Lâm Tế có nói: “Sơn tăng chẳng có một pháp cho người, chỉ là trị bệnh mở trói”. Pháp môn Thiền tông chỉ có thể hiểu được trong sự liên hệ giữa thầy và đệ tử, và chính cái đặc tính linh động đó đã làm cho Thiền tông có sức mạnh. Cho nên muốn hiểu Thiền tông thì cần biết rõ bối cảnh xã hội, văn hóa, nhất là cơ chế hoạt động của Thiền tông lúc đó. Điều mà các học giả phương Tây thường mắc phải là hay suy nghĩ theo hoàn cảnh hiện tại mà tìm hiểu các pháp môn Thiền cho nên có nhiều hiểu biết sai lạc.
Việc tổ chức thiền viện ở thế kỷ thứ tám và chín thì không có nhiều tài liệu ghi chép. Chỉ sau khi thiền sư Bá Trượng Hoài Hải (724-814) soạn ra bộ quy tắc trong nhà thiền, gọi là “Bá Trượng thanh quy” thì việc tổ chức các thiền viện được ấn định rõ ràng và được áp dụng mọi nơi. Có thể nói rằng từ lúc đó Thiền tông đã có một tổ chức khác với các tông phái khác trong Phật giáo. Một điểm đặc biệt là theo giới luật của Tiểu thừa và Đại thừa thì các tăng không được phép trồng trọt, nhưng Bá Trượng lại bắt buộc các tăng phải trồng trọt để thiền viện được tự túc về lương thực. Phần vì lúc đó số tăng rất đông cho nên không thể chỉ trông chờ bá tánh cung cấp được. Việc tổ chức chư tăng rất chu đáo, chỉ rõ từng chi tiết trong việc ăn, ở, tu tập, công tác cùng những kỷ luật rất nghiêm nghị. Các tăng có quyền đi đến bất cứ thiền viện nào để tham vấn, học hỏi. Có biết rõ về bối cảnh sinh hoạt đó thì mới hiểu được cách giảng dạy đặc thù của các thiền sư.

Tông Mật luận về phái Thiền Hồng Châu
Tông Mật Khuê Phong (780-841), người Quảng Châu tỉnh Tứ Xuyên. Năm 25 tuổi Tông Mật theo học thiền sư Đạo Viên thuộc Thiền tông. Sau đó sư rời đi miền Trung năm 812 và là đệ tử sư Trừng Quán, vị tổ thứ 4 tông Hoa Nghiêm. Sư viết rất nhiều tác phẩm về kinh và luận.  Sư là tổ thứ 5 tông Hoa Nghiêm và cũng là thiền sư của Thiền tông cho nên những bài viết của sư bao gồm cả hai tông. Tài liệu về Thiền tông thuộc thế kỷ thứ 8 thường căn cứ theo sách của Tôn Mật. Tác phẩm chính thường được nhắc tới là: “Thiền Nguyên Chư Thuyên Ðô Tập”
Tông Mật viết: “Pháp môn của Mã Tổ- cũng được gọi là phái Hồng Châu là nơi Mã Tổ, Bá Truợng đặt thiền viện- dạy rằng tất cả các pháp đều là đạo, là biểu hiện của Phật tánh, như vậy việc tu tập là để cho tâm được biểu hiện một cách tự nhiên.
Tự tánh của muôn pháp thì không hình tướng, không động, không thể diễn tả bằng cách nào được, không phàm không thánh, không nhân không quả, không thiện không ác. Nhưng khi nó biểu hiện thì có nhiều thứ, là phàm là thánh, có hình có tướng … Cái mà đã tạo ra nói năng, động tác, tham, sân, từ bi, nhẫn nhục, thiện, ác, khổ, vui … chính là Phật tánh của chúng sanh. Đó là bản Phật, và ngoài cái đó ra không có Phật nào khác. Cho nên không thể khởi tâm để tu Đạo được. Đạo là tâm, không thể đem tâm để tu tâm. Không đoạn, không tu, chỉ cần tự tại, đó là giải thoát. Tánh như hư không, không tăng không giảm. Đâu cần phải làm cho nó đầy đủ. Chỉ tùy thời, tùy nơi ngưng tạo nghiệp.  Đây tức là chân ngộ, chân tu, chân chứng.”
Nhưng nếu chỉ quá chú trọng về khía cạnh năng động của Phật tánh thì có thể sẽ bỏ sót phần bản thể. Khi Chân tâm biểu hiện ra do duyên cảnh thì nó vẫn có cái chức năng cố hữu của nó, đó là điều mà có thể phái Hồng Châu sơ sót chăng.
Tông Mật viết: “Bản chất của Chân Tâm có hai chức năng: đó là chức năng cố hữu của bản thể và chức năng tùy duyên mà biểu hiện. Có thể ví như tấm gương. Thể chất của cái gương coi như bản chất của tự tánh, cái tính sáng chiếu của gương là chức năng của cái gương. Những hình ảnh phản chiếu trong gương là chức năng tùy duyên biểu hiện. Hình ảnh hiện ra trong gương thì có nhiều nhưng tính sáng chiếu thì không thay đổi. Cái hằng biết của tâm là cái chức năng của tự tánh, còn cái khả năng nói năng , phân biệt, hành động … là tùy duyên mà có. Như vậy, khi phái Hồng Châu chỉ nhấn mạnh về khả năng biết nói năng v..v.. thì đã bỏ sót cái chức năng cố hữu của tự tánh.”
Vì phái Hồng Châu cho rằng “cái bản chất của tâm không thể chỉ tới được, mà chỉ khi cái khả năng nói năng… biểu hiện thì mới thấy được Phật tánh”. Tông Mật cho rằng đó là sự thiếu sót. Dù rằng thể và dụng đều là những khía cạnh của một thực tại, nhưng cùng lúc chúng khác nhau về phương diện quy ước. Tông Mật viết: “Bây giờ phái Hồng Châu nói rằng sân và si, giới và định đều là Phật tánh. Vì họ chú trọng về chức năng nên không phân biệt vô minh và giác ngộ. Ví như khi gió ngưng, sau khi ngộ rồi thì những vọng tưởng tự ngừng giống như sóng tự lặng. Thân và tâm sẽ thể hiện định và huệ, như vậy hành giả sẽ lần lần được giải thoát … Phái Hồng Châu thường cho rằng tham, sân, từ bi và phước báo cũng đều là Phật tánh, như vậy đâu có gì sai khác? Như vậy cũng như cho rằng tánh ướt của nước không có thay đổi, nhưng họ không thấy rằng có sự khác biệt lớn giữa con tầu  đang đi trên mặt nước và con tầu đang chìm xuống đáy. Như vậy phái này đã gần kề đốn ngộ nhưng không đạt tới được, về việc tiệm tu cũng bị hiểu lầm.”
Tác giả cho rằng có thể nói là đứng về phương diện cứu cánh thì muôn pháp đều là sự thể hiện của Chân Tâm và vô minh và giác ngộ đều cùng từ một gốc mà ra, nhưng đứng về phương diện quy ước thì thật có sự khác biệt lớn lao giữa vô minh và giác ngộ, chánh và tà, và luật nhân quả vẫn rành rành. Chỉ đứng về một phương diện và nhận xét về muôn pháp thì chỉ có cái nhìn lệch lạc, không thấy được sự hòa hợp của toàn thể. Điều đó là sự chướng ngại cho sự tu hành khi biết rằng không có có gì phải tu, nhưng thực tế cần phải có sự tu hành. Chính sự chướng ngại đó đã là động lực để sau này Thiền tông phải vận dụng để giải quyết theo thực tế. Tông Mật cho rằng điểm thiếu sót của phái Hồng Châu là quá chú trọng về phương diện cứu cánh mà không chú ý tới điều thực tế quy ước.
Nhưng tác giả cũng không biết chắc là những chỉ trích của Tông Mật là nhắm vào Mã Tổ hay là vào những đệ tử sau này đã hiểu lầm ý của Mã Tổ. Thực ra trong nhiều đoạn ghi lại pháp môn của những thiền sư phái Hồng Châu cũng có nhiều sai lạc, nhưng cũng có nhiều đoạn ghi nhiều thiền sư phái đó có giải thích rõ ràng giống như những chỉ trích của Tông Mật. Như vậy chúng ta chỉ có thể đoán rằng nhiều đệ tử ghi lại những lời của các thiền sư không đúng hẳn và họ đã áp dụng một cách sai lạc. Nhiều thiền sư cuối đời Đường đã than phiền là nhiều thầy đã đi lầm đường. (Ghi chú: xin coi Lâm Tế ngữ lục để thấy rõ tổ mắng nhiếc không tiếc lời về những sai lầm của những “lão trọc” ) Dầu sao những chỉ trích của Tông Mật cũng giúp ích cho chúng ta lưu ý và hiểu rõ hơn về các pháp môn của các thiền sư. Tác giả kết luận trong phần dẫn nhập là: dầu các câu như “không gì không phải là Đạo”, “không có vọng tưởng để trừ” rất hấp dẫn về lý, và đúng với tông môn cứu cánh của tổ Bồ Đề Đạt Ma nhưng cũng cần phải thấy rõ những thọ cảm bất thường, những suy tư mông lung cần phải giải quyết.

Phần 2: Ngữ lục của Mã Tổ
Phần này trong cuốn sách rất dài, ghi những câu chuyện theo những tài liệu được truyền lại khi Mã Tổ giảng dạy các đệ tử. Nhiều cuốn sách của các tác giả khác cũng đã dịch như vậy, nên chỉ xin trích sau đây một vài bài thôi.
Một hôm Sư dạy chúng:                
- Các ngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâm Phật. Tổ Ðạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượng thừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinh Lăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điên đảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinh Lăng-già nói: "Phật nói tâm là chủ, cửa không là cửa pháp." (Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn.) 
Phàm người cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêng có Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiện chẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạt tánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không có tự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đều là cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâm không tự là tâm, nhân sắc mới có.
Các ngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn không có chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanh ra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳng sanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời ăn cơm mặc áo nuôi lớn thai thánh, mặc tình tháng ngày trôi qua, đâu còn có việc gì.
Các ngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:
            Tâm địa tùy thời thuyết
            Bồ-đề diệc chỉ ninh
            Sự lý câu vô ngại
            Ðương sanh tức bất sanh.
Dịch:
            Ðất tâm tùy thời nói
            Bồ-đề cũng thế thôi
            Sự lý đều không ngại
            Chính sanh là chẳng sanh.
*
Một hôm Sư dạy chúng:
- Ðạo không dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? - Có tâm sanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốn hội thẳng đạo ấy, tâm bình thường là đạo. Sao gọi là tâm bình thường? -Không tạo tác, không thị phi, không thủ xả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: "Chẳng phải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnh Bồ-tát." Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếp vật đều là đạo. Ðạo tức là pháp giới, cho đến diệu dụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phải vậy, tại sao nói "pháp môn tâm địa", tại sao nói "vô tận đăng"? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tên đều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm là cội gốc của muôn pháp. Kinh nói: "Biết tâm đạt cội nguồn nên hiệu là Sa-môn." Tên đồng, nghĩa đồng, tất cả pháp đều đồng thuần nhất không lẫn lộn.
Nếu ở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lập pháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như, lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháp trọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác, toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do xoay lại của tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêu mặt trăng thật thì không, bao nhiêu nguồn nước thì có, mà bao nhiêu tánh nước thì không, bao nhiêu sum la vạn tượng thì có, mà bao nhiêu hư không thì không, bao nhiêu lời nói đạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêu các thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được, dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọn là nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân, thảy đều là thể của nhà mình.
Nếu chẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phật pháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chân như, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảy là dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: "Chỗ chỗ nơi nơi đều có Phật." Phật là năng nhân, có trí tuệ khéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúng sanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v... tình chấp phàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe không gì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lý đều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳng để dấu vết. Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh không diệt. Ðại tịch diệt tại triền gọi là Như lai tàng, xuất triền gọi là Pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm, hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình như trăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốc chẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng của vô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương, nên nói: "Như không chẳng chỗ nương." Nghĩa tâm sanh diệt, nghĩa tâm chân như: Tâm chân như dụ như gương sáng soi vật tượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấp pháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt. Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như.     
Thanh văn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễu đạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác, dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí. Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâm mình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộ chẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên không trở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chung cùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liền trừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháp tánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồi tức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hiệp đạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnh huân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳng thông.
*
Một đêm, Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng.
Sư hỏi:- Ngay bây giờ nên làm gì?
Trí Tạng thưa:- Nên cúng dường.
Hoài Hải thưa:- Nên tu hành.       
Phổ Nguyện phủi áo ra đi.
Sư bảo:- Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyện vượt ngoài sự vật.
*
Có vị Tăng hỏi:
- Ly tứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?
Sư đáp:
- Hôm nay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏi Trí Tạng. Vị Tăng ấy đến hỏi Trí Tạng.
Trí Tạng bảo:- Sao không hỏi Hòa thượng?
Tăng đáp:- Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.
Trí Tạng hỏi:
- Hôm nay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi Sư huynh Hải.
Tăng đến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo:- Ðến chỗ ấy tôi cũng chẳng hội.
Tăng trở lại trình Sư, Sư bảo:- Tạng đầu bạch, Hải đầu hắc.
*
Huệ Hải đến tham vấn Mã Tổ.
Mã Tổ hỏi:- Từ đâu đến?
Huệ Hải  thưa:- Ở Việt Châu chùa Ðại Vân đến.
- Ðến đây tính cầu việc gì?
- Ðến cầu Phật pháp.
- Kho báu nhà mình chẳng đoái hoài, bỏ nhà chạy đi tìm cái gì? Ta trong ấy không có một vật, cầu Phật pháp cái gì?
Huệ Hải  lễ bái, thưa:- Cái gì là kho báu nhà mình của Huệ Hải?
- Chính nay ngươi hỏi ta, là kho báu của ngươi, đầy đủ tất cả không thiếu thốn, tự do sử dụng, đâu nhờ tìm cầu bên ngoài.
Ngay câu này, Huệ Hải  tự nhận bản tâm không do hiểu biết, vui mừng lễ tạ.
*
Lúc còn tại gia, Huệ Tạng chuyên nghề săn bắn, không thích gặp các nhà tu. Một hôm, nhân đuổi bầy nai chạy qua trước am Mã Tổ, gặp Mã Tổ đứng trước.
Huệ Tạng hỏi:- Hòa thượng thấy bầy nai chạy qua đây chăng?        
Mã Tổ hỏi lại:- Chú là người gì?
- Thợ săn.
- Chú bắn giỏi không?
- Bắn giỏi.
- Một mũi tên chú bắn được mấy con?
- Một mũi bắn được một con.
- Chú bắn không giỏi.
- Hòa thượng bắn giỏi không?
- Bắn giỏi.
- Một mũi tên Hòa thượng bắn được mấy con?
- Một mũi tên bắn được một bầy.
- Sanh mạng chúng nó, đâu nên bắn một bầy.
- Chú đã biết như thế, sao không tự bắn?
- Nếu dạy tôi bắn tức không có chỗ hạ thủ.
- Chú này phiền não vô minh nhiều kiếp, ngày nay chóng dứt.
Ngay khi đó, Huệ Tạng ném cung bẻ tên, tự lấy dao cạo tóc, theo Mã Tổ xuất gia.
Một hôm, Huệ Tạng làm việc ở nhà trù, Mã Tổ xuống hỏi:
- Làm việc gì?
Huệ Tạng thưa:- Chăn trâu.
- Làm sao chăn?
- Một khi vào cỏ, bèn nắm mũi kéo lại.
- Con thật là chăn trâu.
*
Có vị Tăng hỏi:- Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật?
Mã Tổ đáp:- Vì vỗ con nít khóc.
- Con nít nín rồi thì thế nào?
- Phi tâm phi Phật.
- Người trừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào?
- Nói với y là "phi vật".
- Khi chợt gặp người thế ấy đến thì phải làm sao?
            - Hãy dạy y thể hội đại đạo
*
(Những đoạn dịch trong phần 2 trích từ “Trung Hoa chư thiền đức hành trạng” của HT Thích Thanh Từ)

Phần 3: Các đệ tử của Mã Tổ
Phần này ghi ngữ lục của một số đệ tử của Mã Tổ. Những ngữ lục này bằng tiếng Việt có thể được tham khảo trong các cuốn “Trung Hoa chư thiền đức hành trạng” của HT Thích Thanh Từ.
            - Hsi-t’ang Chih-tsang – Tây Đường Trí Tạng (734-814)
            - Pai-chang Huai-hai - Bá Trượng Hoài Hải
            - Nan-ch’uan P’u-yuan - Nam Tuyền Phổ Nguyện  (747-834)
            - Ta-chu Hui-hai - Đại Châu Huệ Hải
            - Shi-kung Hui-tsang - Thạch Củng Huệ Tạng
            - Ma-ku Pao-ch’e – Ma Cốc Bảo Triệt
            - Ta-mei Fa-ch’ang - Đại Mai Pháp Thường
            - Fen-chou Wu-yeh - Phần Châu Vô Nghiệp (761-823)
            - Wu-tai Yin-feng - Đặng Ẩn Phong ?
            - Hung-chou Shui-lao - Hằng Châu Thiên Long
            - Layman P’ang-yun – cư sĩ Bàng Uẩn (?-808)
            - Kuei-tsung Chih-ch’ang – Quy Tông Trí Thường

*
Ghi chú:
1.-Cuốn sách Sun Face Buddha không giới thiệu nhiều về tác giả nên không rõ tác giả tu hành theo pháp môn nào. Chỉ biết là tác giả đã thọ giới tỳ kheo tại Sri Lanka năm 1983. Theo cuốn sách này và cuốn thứ hai là “Manifestation of the Tathagata” (Phẩm Như Lai xuất hiện) trích trong kinh Hoa Nghiêm thì tác giả chuyên về tông Hoa Nghiêm.
2. Tác giả trình bày nhiều về Tông Mật Khuê Phong, vị tổ thứ năm của tông Hoa Nghiêm, đặc biệt là tác phẩm “Thiền Nguyên Chư Thuyên Ðô Tập”. Tông Mật theo học các thiền sư Đạo Viên, Kinh Nam Trương, Thần Chiếu, khoảng 7 năm, sau đó là đệ tử của Trừng Quán, vị tổ thứ tư tông Hoa Nghiêm. Tông Mật thông thạo “ba tạng giáo điển, phối hợp cả giáo lý gồm Kinh, Luật, Luận và Thiền” (trích “Nguồn Thiền giảng giải” của HT Thích Thanh Từ). Tác giả Cheng Chien đã trích dẫn trong cuốn sách trên những điểm Tông Mật chỉ trích Thiền Tông. Tông Mật chỉ rõ đường lối tu Thiền theo ý kiến của sư:  Thiền Giáo song tu, Biết vọng là tu, Vọng niệm hết sạch là tu thành công … (trích: Nguồn Thiền giảng giải- HT Thích Thanh Từ)
3. Tông Mật cùng thời với tổ Lâm Tế, đầu thế kỷ thứ chín. Pháp môn thiền của Tông Mật không theo đường lối tu hành của tổ Bồ Đề Đạt Ma, Lục tổ Huệ Năng, cho đến Lâm Tế. Vấn đề không phải là so sánh pháp môn nào hay hoặc dở, vì tùy căn cơ mỗi người, nhưng là để phân biệt cho rõ ràng. Pháp môn Thiền của một vị tổ Hoa Nghiêm tông đề ra không giống pháp môn của các vị tổ Thiền tông thì cũng là điều tự nhiên nhưng cũng nên lưu ý.
4. Tên cuốn sách của Cheng Chien "Mặt trời Phật" có thể là dựa theo tên của "tắc 3: Mã Tổ Mặt trời Phật, Mặt trăng Phật" cuốn Bích Nham Lục:
LỜI DẪN: Một cơ một cảnh một lời một câu vẫn mong có chỗ vào. Trên da thịt lành khoét thành thương tích thành ổ thành hang, đại dụng hiện tiền chẳng còn phép tắc, lại mong biết có việc hướng thượng. Che trời che đất, lại dò tìm chẳng được. Thế ấy cũng được, chẳng thế ấy cũng được, thật bé nhỏ thay. Thế ấy cũng chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, rất cao vót thay. Chẳng kẹt hai bên làm sao mới phải, xin cử xem ?
CÔNG ÁN: Mã Tổ bệnh, Viện chủ đến thăm, hỏi: Gần đây thân thể Hòa thượng thế nào? Mã Tổ đáp: Mặt trời Phật, mặt trăng Phật.
GIẢI THÍCH: Mã Tổ bệnh, Viện chủ đến thăm,  hỏi:  Gần  đây  thân  thể  Hòa  thượng thế nào ? Mã Tổ đáp: Mặt trời Phật, mặt trăng Phật. Bậc Tổ sư nếu chẳng lấy việc bổn phận thấy nhau thì làm sao đạo này được chói lọi. Công án này nếu biết chỗ rơi là riêng bước trong không, nếu chẳng biết chỗ rơi thì thường thấy cây khô trước núi vẫn còn lầm đường. Nếu là bổn phận Tông sư, đến trong đây phải có thủ đoạn, cướp trâu của người cày, đoạt cơm của người đói, mới thấy chỗ vì người của Mã Tổ. Hiện nay có nhiều người nói Mã Tổ tiếp Viện chủ, nực cười không dính dáng. Nay ở trong chúng phần nhiều hiểu lầm, trừng mắt nói: Mắt trái là mặt trời, mắt phải là mặt trăng. Thật có dính dáng chút nào, đến năm lừa cũng chưa mộng thấy, chỉ làm sai lầm việc cổ nhân. Đến như Mã Tổ nói thế ấy, ý tại chỗ nào ? Có người nói: “Rót cho một chén thuốc đau bụng”. Có lỗ mũi gì ? Đến trong đây làm sao được bình ổn ? Sở dĩ nói con đường hướng thượng ngàn Thánh chẳng truyền, học giả nhọc hình như khỉ bắt bóng. Chỉ câu “mặt trời Phật, mặt trăng Phật”, rất là khó thấy. Tuyết Đậu đến đây cũng khó tụng, song vì thấy thấu, nên Sư dùng hết công phu trong lúc bình sanh chỉ chú ra. Các ông cần thấy Tuyết Đậu chăng ? Xem lấy văn sau:
TỤNG:   Nhật diện Phật, nguyệt diện Phật
               Ngũ Đế, Tam Hoàng thị hà vật ?(Ngũ đế: Thái Hiệu, Hoàng Đế, Thần Nông, Thiếu Hiệu, Chuyên Húc; hoặc là Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn.Tam hoàng: Thiên hoàng, Địa hoàng, Nhân hoàng.)
             Nhị thập niên lai tằng khổ thân
             Vị quân kỷ hạ thương long quật
             Khuất, kham thuật
             Minh nhãn nạp Tăng mạc khinh hốt.
DỊCH:   Mặt trời Phật, mặt trăng Phật
              Ngũ đế, Tam hoàng là vật gì ?
              Hai mươi năm lại từng cay đắng
              Vì anh bao phen xuống hang rồng
               Cúi, cam nói
               Thiền tăng mắt sáng chớ xem thường.
GIẢI TỤNG: Thời vua Tống Thần Tông ở ngôi, tự bảo bài tụng này là nói mát quốc gia, nên không cho đem vào tạng kinh. Tuyết Đậu trước niêm rằng: “mặt trời Phật, mặt trăng Phật”, lại nói:
“Ngũ đế, Tam hoàng là vật gì ?” Hãy nói ý Tuyết Đậu thế nào ? Chính đã nói rồi vậy. Liền đó chú ra lý do, thả câu bốn biển chỉ câu rồng to, một câu này đã rõ. Phần sau Tuyết Đậu tự tụng ra lý do bình sanh dụng tâm tham tầm, “hai mươi năm lại từng cay đắng, vì anh bao phen xuống hang rồng”. Giống cái gì ? Giống như người vào hang rồng lấy hạt châu. Sau lại đập phá thùng sơn, sẽ bảo có bao nhiêu kỳ đặc ? Trước sau chỉ tiêu được câu “Ngũ đế, Tam hoàng là vật gì”. Hãy nói lời Tuyết Đậu rơi tại chỗ nào ? Phải tự lui lại xem, mới thấy chỗ Sư rơi. Há chẳng thấy thị giả Hưng Dương Phẩu đáp Viễn Lục Công hỏi: Rồng Ta Kiệt ra khỏi biển càn khôn động, thấy mặt trình nhau việc thế nào ? Hưng Dương Phẩu đáp: Chim chúa cánh vàng kình vũ trụ, trong đây ai là người xuất đầu ? Viễn Công hỏi: Bỗng gặp xuất đầu lại làm sao ? Phẩu đáp: Giống như chim cáp bắt chim cưu, anh không tin, trước đầu lâu nghiệm mới biết thật. Viễn Công nói: Thế ấy thì cúi mình bày ngực, thoái thân ba bước. Phẩu đáp: Rùa đen dưới tòa Tu-di núp, chớ đợi gõ đầu mới thoái lui. Đây là lý do “Ngũ đế, Tam hoàng là vật gì”. Người ta phần nhiều không thấy ý Tuyết Đậu, chỉ biết nói mát quốc gia. Nếu hiểu thế ấy chỉ là tình kiến. Ngài Thiền Nguyệt với tựa đề Công Tử Hành nói:
“Áo gấm hoa tươi tay cầm cáp,
 nhàn đi dáng mạo càng thư thả,
gặt lúa gian nan có biết chi,
Ngũ đế, Tam hoàng là vật gì ?”
Tuyết Đậu nói: “Cúi, cam nói, Thiền tăng mắt sáng chớ xem thường.” Đa số người nhằm trong hang rồng to tìm kế sống. Dù cho trên đảnh có mắt, trong tay có linh phù, Thiền tăng mắt sáng soi khắp tứ thiên hạ, đến trong ấy cũng chớ xem thường, cần phải chín chắn mới được.  
(Trích: Bích Nham Lục, HT Thích Thanh Từ dịch)

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.