bài viết trong chuyên mục "phật"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn phật. Hiển thị tất cả bài đăng

đào lý vẫn đơm hoa

Basho là một vị thiền sư thi sĩ Nhật Bản sống vào thế kỷ thứ 17, ông cũng được công nhận như một nhà thơ Haiku nổi tiếng nhất của mọi thời đại.  Có lần, Basho chia sẻ về nghệ thuật làm thơ của mình như sau, “Trong khi viết, ta đừng để mình bị ngăn cách với thực tại, dầu chỉ là một khoảng cách mỏng như một sợi tóc.  Ta chỉ có thể hiểu được cây thông từ ngay chính cây thông, ta chỉ có thể học cây trúc từ chính ngay cây trúc… và cái thấy ấy tự nó sẽ sáng tạo nên bài thơ của mình.”
Và cũng vậy, tôi nghĩ, ta chỉ có thể tiếp xúc được với sự sống của mình từ ngay chính nơi thực tại này, mà không thể bằng một lý thuyết hay đường lối nào khác hơn.
Nhưng dường như ngày nay chúng ta lại thường đặt ra bao nhiêu những phương cách để nắm bắt thực tại.  Thật ra, ta chỉ cần mở rộng ra với những gì đang có mặt chung quanh mình, bằng một cái thấy tự nhiên và trong sáng.  Hiện thực này, ta đâu cần phải lao công tìm kiếm, mà chỉ cần dừng lại và nhận diện mà thôi.
Một nhà thơ La Mã, Horace, có dùng chữ "Carpe diem", seize the day, nắm bắt ngày hôm nay, như là một công thức để sống tích cực.  Tôi cũng thấy ngày nay chúng ta lại ưa thích dùng những chữ đó, nhưng có lẽ ta cũng cần nên nhìn lại thái độ ấy của mình.  Vì thật ra ta không cần phải nắm bắt cái gì hết, chúng ta chỉ cần để yên và có mặt tự nhiên với ngày hôm nay thôi.  Vì mục đính của ta là để tiếp xúc được với một tuệ giác sẵn có của thực tại, chứ không phải để tìm kiếm một cái gì khác hơn, hay đẹp hơn, theo sự mong cầu của mình.
Sen và bùn
Có lần, tôi có dịp tiếp chuyện với một Sư cô ở một tu viện.  Trong thiền quán, chúng ta thường quen nghĩ rằng, hạnh phúc có mặt là nhờ sự có mặt của khổ đau.  Cũng như sen có mặt là nhờ có bùn nhơ, hay là nhờ có cõi Ta bà mà Tịnh độ mới có thể hiện hữu.  Nhưng nếu như ta nhìn sâu sắc hơn, đừng vướng mắc vào ý niệm, thì có thể ta cũng sẽ thấy rằng, hoa sen có cái “thật” của hoa sen, và bùn nhơ cũng có cái “thật” của bùn.  Và nếu như chúng ta để cho chúng được như "đang là", as-is, một cách tự nhiên, thì mỗi cái đều có giá trị hoàn toàn như nhau, chứ không phải vì cái này mà có được cái kia.  Cô chia sẻ,
Người ta thường nói đến giá trị của khổ đau là để nâng cao giá trị của hạnh phúc.  Cũng như hay lấy bùn để tôn xưng sự tinh khiết của hoa sen: gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.  Vì vậy hoa sen thường được dùng làm biểu tượng cho những gì cao quý, thỏng tay vào trần mà không nhiễm bụi trần.  Giá trị của bùn ở đây là làm cho hương thơm của hoa sen càng có giá trị.
Trong kinh có viết “Thị pháp trụ pháp vị”, nghĩa là ta nên thấy pháp đúng với thực tánh ngay nơi sự có mặt trong không gian (vị) và thời gian (thời) của nó.  Như nó đang là.  Mỗi pháp đều có một vị trí, một “đang là” của chính nó, và không thể so sánh với bất cứ gì khác.  Hoa sen có "vị" của hoa sen, bùn có "vị" của bùn.  Mùi thơm của hoa sen hay mùi hôi của bùn là do cảm quan của chúng ta thôi, chứ sen hay bùn tự chúng đâu có nói một lời nào!  Mà chúng cũng chẳng muốn nâng giá trị gì cho nhau.  Sen mọc trên bùn là do ở nhân duyên, thì đó cũng chỉ là lẽ thường nhiên thôi!
Vậy khổ đau có "vị" của khổ đau, hạnh phúc có "vị" của hạnh phúc, giá trị hoàn toàn như nhau nếu chúng được như "đang là."  Thật ra thì đâu phải nhờ khổ đau mà ta mới có thể thấy giá trị của hạnh phúc, hay "hạnh phúc chỉ được nhận diện trên cái nền của khổ đau..."  Sao ta không thử nhìn thấy hương sen, mùi bùn, hạnh phúc, đau khổ... như nó đang là, và chỉ thế thôi?
Thật ra, nếu như ta biết ý thức và chấp nhận giá trị của khổ đau, thì đó cũng đã là điều rất tích cực rồi.  Nó giúp ta giảm bớt đi những bất an do sự tham cầu, chống đối, vừa lòng, nghịch ý… khi tương giao với mọi sự.  Nhưng nếu như ta không vượt thoát khỏi cái thói quen so sánh - sản phẩm của bản ngã - thì mình sẽ không để cho sự vật được như nó “đang là”, vì vẫn còn một ý niệm phân biệt, cho dù rất vi tế.
Trong kinh Hoa Nghiêm có viết "đương xứ tức chân", chỉ có cái đang là ấy mới chính là cái thật, và ngoài ra không có cái thật nào khác hơn, nên ta mới có thể nói "Ta bà là Tịnh độ" được đúng nghĩa.  Chứ không phải nó ám chỉ rằng Ta bà chỉ là nền, background, của Tịnh độ.  Vì thật ra, đâu phải nhờ có “hậu cảnh” Ta bà mà “chính cảnh” Tịnh độ mới được tỏa sáng!
Mọi bất an đều có khuynh hướng tự an
Có thể tôi cũng chưa hiểu hết ý sâu sắc của Cô, nhưng như Basho nói, nếu như chúng ta muốn hiểu thế nào là hoa sen thì ta hãy tiếp xúc ngay chính với hoa sen đi, hay bùn nhơ cũng vậy.  Vì chỉ có cái đang là ấy mới chính là cái thực.  Mỗi cái đều có một tuệ giác riêng của nó, và ta chỉ cần thấy trong sáng tự nhiên thôi, chứ đâu cần đến một sự phân tách hay suy tưởng xa xôi gì khác.
Nếu như ta để cho chúng được như chúng đang là, as-is, buông bớt đi những phân biện của mình, thì tuệ giác sẽ hiện rõ hơn.  Các thầy tổ vẫn thường nhắc nhở chúng ta hãy tập buông bỏ những ý niệm và lý thuyết của mình đi, dù cao siêu đến đâu, để cho tuệ giác có thể được có mặt.
Tôi nghĩ, chúng ta chưa tiếp xúc được với thực tại có lẽ vì mình chưa thể dừng yên được những tìm kiếm lăng xăng của mình.  Và trong cuộc sống, chúng ta lại có thói quen thay thế những lăng xăng này bằng những lăng xăng khác.  Mà bạn biết không, cho dù chúng có là vi tế hay tốt đẹp hơn thì đó cũng vẫn là những lăng xăng.
Nhưng nếu như ta không làm gì hết, và cứ để yên cho những lo nghĩ và bất an của mình, thì chúng sẽ ra sao bạn hả?  Bạn biết không, tôi được dạy rằng, nếu như ta biết buông bỏ cái thái độ mong cầu của mình, để cho cái nghe, cái thấy của mình được trong sáng tự nhiên trong giờ phút này, không can thiệp vào, thì mọi bất an đều có khuynh hướng tự nó sẽ trở thành an.  Chúng không cần gì đến sự can dự hay một sự tập luyện nào của mình.  We need to learn how to step out of our own way.
Đào hồng tự nở hoa
Sáng nay là một ngày đầu tiên của mùa xuân.  Vậy mà mới mấy hôm trước, trời đổ một cơn tuyết lớn ngập trắng khu vườn, lấp kín lối đi ngoài sân.  Tuyết phủ trắng xóa những cành cây khô trong khu rừng nhỏ.  Đất trời của một ngày tuyết đang rơi thật yên lắng, không gian tĩnh và đẹp.  Sáng nay nắng lại lên, tuyết tan, bước ra ngoài vườn tôi thấy trên cành khô có những nụ hoa tím nở tự lúc nào không hay, dưới ánh nắng trong sáng ban mai đẹp mới tinh.
Tôi nhớ bài thơ của thầy Nhất Hạnh lấy ý từ một công án Thiền của vua Trần Nhân Tông.
Bạn là khu vườn của tôi
Và tôi thường nghĩ tôi là người chăm sóc
Nhưng mới sáng hôm qua thôi
Mắt tôi vừa thấy
Một khu vườn xưa, rất xưa
Không hề có ai chăm sóc
Vậy mà
Khi Xuân về
Chẳng biết tại sao
Đào lý vẫn đơm hoa.
Chúng ta có cần phải lao tác tìm kiếm gì không bạn hả, hay chỉ cần để cho tất cả được trong sáng tự nhiên mà thôi, và lý trắng đào hồng sẽ tự chúng nở hoa…

“Vườn xưa vắng mặt người chăm sóc
Lý trắng đào hồng tự nở hoa.”
Nguyễn Duy Nhiên

free hit counter

tam diện quan âm
Trong mắt kẻ ác, Bồ Tát hiện ra là Kim Thần Thất Sát, vô cùng đáng sợ; trong mắt người bình thường, Bồ Tát hiện ra tướng mạo giận dữ, cũng làm cho lòng người run sợ; trong mắt người lương thiện, Bồ Tát hiện ra là Quan Âm Bồ Tát mặt mũi hiền lành.
Truyền thuyết kể rằng, để giáo hóa chúng sinh, Bồ Tát từng hóa thân thành người phụ nữ rao bán một chiếc bảo kính kỳ lạ. Đây cũng chính là câu chuyện nói về nguồn gốc của bức tượng Quan Âm có 3 mặt – Tam Diện Quan Âm được lưu truyền trong dân gian.
Truyền thuyết kể rằng Quan Âm Bồ Tát có 33 hóa thân, ngoài Dương Liễu Quán Âm, Thi Dược Quán Âm, Ngư Lam Quán Âm, còn có Tam Diện Quán Âm… Vậy vì sao lại có Tam Diện Quán Âm?
Tương truyền rằng…
Một ngày nọ, Quan Âm Bồ Tát hóa thành một người phụ nữ, tay cầm một chiếc hộp gấm, bên trong đựng một chiếc bảo kính bằng đồng xanh, đứng ở đầu đường Lạc Dương rao bán.
Không ít người trên đường tiến đến hỏi thăm giá cả bảo kính, Bồ Tát nói: “Bảo kính này của tôi là bảo vật trên đời, muốn bán 1.000 lượng bạc, thiếu 1 đồng cũng không bán”.
Nghe Bồ Tát nói vậy, có người bèn hỏi bảo kính này trân quý ở chỗ nào. Bồ Tát giải thích rằng: “Bảo kính này, một là có thể soi thấy thiện ác lòng người, hai có thể soi được hết thảy quá khứ. Chỉ 2 điểm này thôi cũng đáng giá 1.000 lượng bạc”.  
Có một người không tin, bèn hỏi: “Bảo vật như vậy, có thể cho tôi thử một lần được không?“.
Bồ Tát nói: “Đương nhiên là được, nhưng muốn tôi cho mượn một lần, phải đưa tôi 3 đồng”.
Người kia lập tức móc ra 3 đồng tiền đưa cho Bồ Tát. Bồ Tát lấy bảo kính ra, nói với người này: “Khi soi bảo kính nhất định phải tập trung tinh thần, không nghĩ ngợi lung tung, mới có thể soi được hình ảnh chân thực”.
Người kia gật gật đầu, bắt đầu chuyên chú soi vào tấm kính… Ước chừng thời gian một khắc hơn, người này quả thật đã nhìn thấy một vài hình ảnh trong đó, đều là tất cả những việc làm trước đây của mình. Cuối cùng, anh ta thấy mình sau khi chết rơi vào đường súc sinh, kiếp sau đầu thai thành một con chó cái. Xem đến đây, anh ta vô cùng kinh hãi. Thế nhưng, những người vây quanh xem đều không nhìn thấy gì.
Quan Âm Bồ Tát thu lại bảo kính từ tay người này, hỏi: “3 đồng tiền soi tấm kính này 1 lần, có đáng giá không?”. Người đó bị dọa mặt vàng như đất, nói không ngớt: “Đáng lắm, đáng lắm!”.
Mọi người xung quanh nghe nói vậy, đều nhao nhao muốn soi. Trước sau có 3.000 người muốn soi kính. Sau khi xem xong, đa số những người này hoặc lộ vẻ mặt hoảng sợ, hoặc đăm chiêu ủ dột, chỉ có một số nhỏ người vui vẻ phấn khởi.
Đảo mắt trời đã tối, Bồ Tát nói với mọi người: “Bảo kính này, bán 1.000 lượng bạc là không hề đắt; nhưng tiếc thay tất cả đều là người phàm mắt tục, không có ai biết nhìn được vật báu”.
Dứt lời, Bồ Tát đem cất bảo kính lại trong hộp gấm, rồi hiện ra Pháp tướng trước mặt mọi người. Đến đây, tất cả giờ mới hiểu được nguyên lai là Quan Âm Bồ Tát đến điểm hóa chúng sinh. Chỉ có điều, cùng một chỗ, cùng trong con mắt người ta, hình ảnh Bồ Tát hiện ra lại có Pháp tướng khác nhau.
Trong mắt kẻ ác, Bồ Tát hiện ra là Kim Thần Thất Sát, vô cùng đáng sợ; trong mắt người bình thường, Bồ Tát hiện ra tướng mạo giận dữ, cũng làm cho lòng người run sợ; trong mắt người lương thiện, Bồ Tát hiện ra là Quan Âm Bồ Tát mặt mũi hiền lành.
Vì vậy, mọi người cùng nhau bàn bạc, dùng số tiền mà Bồ Tát không lấy đi xây dựng nên một ngôi chùa, thờ phụng tượng Quan Âm Bồ Tát. Thế nhưng, tượng Bồ Tát này có 3 mặt, mặt chính là khuôn mặt Bồ Tát, mặt trái là một khuôn mặt phẫn nộ giận dữ, mặt phải là khuôn mặt nén giận, trong tay cầm một bảo kính, thế nhân gọi là “Tam Diện Quán Âm” hay còn gọi là “Du Hí Tam Muội Quan Âm”.

Tam Thân Phật


Tam Thân Phật
HỎI:
” Nam Mô A Di Đà Phật!
Con muốn hỏi 2 vấn đề, mong quý thầy giúp con ạ:
1. Con đọc 1 số tài liệu có nói Phật có đến 3 thân: Pháp thân, báo thân, ứng thân. Điều này con mãi mà không hiểu được, con xin thầy giải thích cho con ạ.
2. Con đọc Mật Tông thì có tài liệu ghi: giáo chủ của tông phái Mật giáo không phải là Đức Phật Thích Ca mà là Pháp thân của Đức Thích Tôn, tự là Đức Đại Nhật Như Lai hay Đại Tỳ – nô – giá – na – Phật. Xin thầy giảng thêm cho con ạ?
Con xin chân thành cảm ơn. ”
ĐÁP:
Xin chào bạn!
1/ Sau khi đức Phật ngồi dưới cội Bồ Đề 49 ngày, Ngài đã chứng được quả vị giải thoát và đồng thời chứng được ba thân. Ba thân ấy, đó chính là:
Pháp thân: Bản thể vốn trong sáng, vắng lặng, thường còn của tất cả các pháp. Hình dáng của các pháp thì muôn vàn sai biệt, biến đổi không ngừng, nhưng bản thể của pháp thì chỉ có một, và thường còn không biến động. Theo nghĩa trên, pháp thân đồng nghĩa với Chân Như, Pháp tính, Thực tướng, Niết Bàn v.v…Do pháp thân không hình tướng, cho nên mắt bình thường không nhìn thấy được.
Báo thân: là do nhân đời trước mà đời này thọ quả nơi thân, cái thân này chính là báo thân. Như thân của Phật do tu tập trải qua ba đại kiếp, cho nên mới có thành tựu được như vậy.
Ứng thân : hay còn gọi là hóa thân. Đức Phật cũng vì lòng từ bi mà tùy theo duyên của từng chúng sinh mà thị hiện độ hóa. Ngài có thể thị hiện dưới dạng: Bồ Tát, Thanh Văn, Chư Thiên,v.v..
2/ Đức Phật sau khi chứng quả Bồ Đề thì Ngài chứng được tam thân: Pháp thân là Tỳ Lô Giá Na Phật ( hay còn gọi là Đại Nhật Như Lai ); Báo thân là Lô Xá Na Phật; Ứng thân là Thích Ca Mâu Ni Phật. Như vậy Tỳ Lô Giá Na Phật là pháp thân của ứng thân Thích Ca Mâu Ni Phật. Mà pháp thân thì không hình, không tướng thì không thể nào thuyết pháp, mà chỉ có báo thân và ứng thân mới có khả năng thuyết pháp.Bên cạnh đó, trong Mật tông được chia làm hai giáo pháp: hiển giáo và mật giáo. Hiển giáo là những lời dạy của ứng thân Phật, như Đức Phật Thích Ca tùy duyên mà thuyết pháp cho chúng sinh. Còn Mật giáo, là một nhánh của Phật giáo, là những pháp môn mầu nhiệm, bí mật mà chỉ được trao truyển theo dạng tâm truyền cho tâm, giữa thầy và trò, giữa Phật, Bồ Tát và Thánh chúng. Giáo chủ của Mật tông là Tỳ Lô Giá Na Phật ( Đại Nhật Như Lai).
Như Bồ Tát Kim Cang Tát đỏa ( là sơ tổ của Mật Tông ) nhờ quán đảnh mà tiếp nhận pháp vi diệu của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na và truyền thừa tông phái này. Như trong kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát vì lợi ích của ích chúng sinh mà đã nói ra chú Đại Bi, khi vào thời quá khứ Thiên Quang Vương Tĩnh Trụ Như Lai đã truyền cho ngài.
Chúc bạn vô lượng an lạc và luôn tinh tấn trên con đường tu tập.
Nam Mô A Di Đà Phật

THẬP HIỆU NHƯ LAI 
Thích Thông Huệ

duc_phat_thich_caMột  lần nọ, Tôn giả Xá Lợi Phất cung kính đảnh lễ Đức Phật Thích Ca và bạch rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Chư Phật khắp mười phương, ở cả ba đời quá khứ - hiện tại - vị lai, không ai có trí tuệ và sự chứng đắc siêu việt bằng Thế Tôn”. Đức Phật Thích Ca trả lời: “Này Xá Lợi Phất, đừng nói quá lời như thế. Tất cả chư Phật đều bình đẳng ở trí tuệ, từ bi và hùng lực”.
Theo tinh thần này, vị Phật nào cũng có đầy đủ những đức tính và đặc điểm như Đức Bổn Sư của chúng ta. Sở dĩ chúng ta thường thờ phụng, xưng tán Đức Phật Thích Ca hơn các vị Phật khác, vì chúng ta đang nằm trong vòng pháp hóa của Ngài, vì cõi Ta bà đang có túc duyên được Ngài làm Giáo chủ.
Những đức tính và đặc điểm hình thành nhân cách của một vị Phật đều được ghi chép đầy đủ trong các văn hệ Phật giáo Nam tông và Bắc tông. Trong đó có mười danh hiệu, thường gọi là Thập hiệu Như Lai, là những danh hiệu cao quý để tôn xưng những bậc đã thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Chỉ riêng các vị Phật mới đủ Thập hiệu, vì mỗi danh xưng tượng trưng một đức tính cao cả, một đặc điểm siêu tuyệt, mà ngay những vị A la hán hay các hàng Bồ tát cũng không thể sánh bằng.
1- Như Lai
Trong các kinh luận, danh hiệu Như Lai được hiểu theo bốn nghĩa chính :
1-  “Nói sao làm vậy, làm sao nói vậy”: Nghĩa này thường được đề cập trong Luận tạng Nam tông. Đức Phật luôn luôn Hạnh giải tương ương, lời nói luôn đi đôi với việc làm. Do vậy, lời dạy của Ngài có sức thuyết phục rất cao; và nhiều khi không cần dùng ngôn từ, hành động, cử chỉ của Ngài cũng là những bài học quý giá cho các hàng môn đệ.
2-  “Từ Như mà đến, rồi lại trở về Như”: “Như” là thế giới lý tưởng bất động, không khổ đau phiền não. Vì lòng từ bi, chư Phật thị hiện đến cõi Ta bà này, giáo hóa chúng sanh (Lai). Khi hết duyên, các Ngài lại trở về thế giới lý tưởng ấy. Chúng sanh thì khác, do nghiệp mà đến rồi lại theo nghiệp mà luân hồi trong sáu nẻo.
3- “Như Lai là nghĩa Như của các pháp” (Như Lai giả, thị chư pháp như nghĩa): Các pháp vốn không có tâm phân biệt, vì tự thân của chúng là Chân như. Chúng ta khi tiếp xúc với vật, liền khởi niệm chia chẻ phân ranh đẹp - xấu, khen - chê, ưa - ghét; ưa thì muốn chiếm hữu, ghét lại muốn xa lìa. Từ đó, tạo nghiệp ở ý, rồi phát ra miệng nói thân làm. Thật ra, tự tánh của các pháp không thể dùng văn tự để diễn bày, mà chỉ bằng trí tuệ thực chứng của Bậc Giác ngộ mới thấu triệt. Và chính vì thẩm thấu vào thực tại tự thân mầu nhiệm của vạn pháp, các Ngài thấy rõ tất cả pháp đều là Phật pháp, đều là Chân như.
4- “Không từ đâu đến, chẳng đi về đâu, nên gọi là Như Lai” (Vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai): Ý nghĩa này rất sâu xa khó hiểu nếu chúng ta chưa có khái niệm về Lý Bất nhị của nhà Phật. Phiền não và giải thoát, Ta bà và Tịnh độ thật sự chỉ là hai mặt tối - sáng của cùng một thực thể. Vì tự thân của các pháp là Chân như, vì tất cả pháp đều là pháp thân thường trụ - không hình tướng mà trùm khắp và hằng tri hằng giác, nên không đến không đi, không sanh không diệt. Nhận ra pháp thân thường trụ và sống trọn vẹn bằng thân- tướng-không-tướng này, đó là sự giác ngộ tột cùng và viên mãn.
Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới có một đoạn nói về Như Lai: “Đức Như Lai chẳng phải đi, vì đã diệt hẳn thời gian không gian. Đức Như Lai chẳng phải đến, vì thể tánh vô sanh. Đức Như Lai chẳng phải sanh, vì pháp thân bình đẳng. Đức Như Lai chẳng phải diệt, vì không có tướng sanh. Đức Như Lai chẳng phải thiệt, vì an trụ pháp như huyễn. Đức Như Lai chẳng phải vọng, vì lợi ích chúng sanh. Đức Như Lai chẳng phải dời đổi, vì vượt khỏi sanh tử. Đức Như Lai chẳng phải hư hoại, vì tánh thường chẳng biến đổi. Đức Như Lai một tướng, vì đều rời ngôn ngữ. Đức Như Lai vô tướng, vì tánh tướng vốn không”(*)
2- Ứng cúng
“Ứng cúng” có nghĩa “Xứng đáng được cúng dường”. Đây là danh hiệu tôn xưng những vị đã sạch lậu hoặc phiền não, là phước điền của thế gian. Các bậc Bồ tát, A la hán cũng được tôn là Ứng cúng, nhưng đối với chư Phật, ý nghĩa này cao cả hơn. Một bài kệ xưng tán Đức Thích Ca có đoạn :
Công viên quả mãnViên chứng Bồ đềTrục loại tùy hìnhTế độ quần sanh.
Công hạnh của Ngài đã thành tựu viên mãn, sự giác ngộ đã toàn diện toàn triệt. Khi muốn giáo hóa chúng sanh, Ngài thị hiện bằng hình thức tương ứng để dễ bề tiếp cận và nhiếp phục. Nhưng dù ở hình thái chúng sanh nào, Ngài cũng nổi bật nhất, tài giỏi nhất, hoàn mỹ về mọi phương diện, nên luôn luôn được tôn kính quý trọng, xứng đáng được cúng dường.
3- Chánh biến tri
Chánh” là chân chánh; “Biến” là cùng khắp; “Tri” là sự thấy biết. Chánh biến tri là sự thấy biết như thật về tất cả các pháp trong cùng khắp pháp giới. Đây là khả năng của một bậc Đại Giác ngộ, bằng tuệ giác Bát nhã thấu triệt thật tướng của vũ trụ vạn loài. Sự thấy biết này không qua suy luận phân tích của ý thức nên không hề sai lạc và không bị ảnh hưởng bởi không gian và thời gian.
Sau bốn mươi chín ngày đêm thiền định dưới cội cây Tất Bát La, Đức Phật Thích Ca thấy rõ mọi pháp đều là tập hợp của các nhân và duyên. Không có pháp nào tự nó hình thành, mà phải nhờ những pháp khác không phải nó, với những điều kiện nhất định nào đó, mới có thể tạo nên nó. Ví như cái bàn, phải nhờ sự tập hợp của gỗ, đinh, công người thợ… sắp xếp phân bố theo một cách thức nào đó, mới được tạo dựng theo hình thức hiện có. Suy xét đến tận cùng, nó không có thực thể, chỉ là tạm có do các duyên hợp lại. Vì thế, tự tánh của nó là không. Tánh Không là tánh bình đẳng của tất cả các pháp, cũng là thật tướng của toàn thể vũ trụ nhân sinh, mà chỉ những bậc thực chứng qua công phu thiền quán mới thấu triệt được.
4-  Minh hạnh túc
“Minh” là trí tuệ, là Trí đức. “Hạnh” là công hạnh độ sanh, là Hạnh đức. Một vị Phật luôn đạt đến viên mãn cả hai lĩnh vực Trí và Hạnh một cách hoàn hảo, tạo nên nhân cách kỳ vĩ của Ngài.
Tinh thần này được tượng trưng bằng ba hình ảnh chúng ta thường thấy thờ ở các chùa: Chính giữa tôn trí tượng Đức Phật Thích Ca, bên phải là Bồ tát Văn Thù, bên trái là Bồ tát Phổ Hiền. Bồ tát Văn Thù tượng trưng trí tuệ vô sư, còn gọi là Bát nhã trí hay Căn bản trí, tức trí tuệ do công phu tu hành mà có. Bồ tát Phổ Hiền tượng trưng hạnh nguyện cứu độ tất cả chúng sanh hữu duyên. Đức Phật Thích Ca, từ thế giới lý tưởng đến cõi Ta bà giáo hóa chúng sanh, cần được sự phò tá của hai vị Đại Bồ tát. Bởi vì chúng sanh cang cường khó điều phục, tham đắm ngũ dục mà quên tánh giác sẵn có của chính mình, nếu không đầy đủ trí tuệ và lòng từ bi thì Đức Phật khó bề tiếp độ muôn loài.
5-  Thiện thệ
“Thiện thệ” có ba ý nghĩa :
1) “Thiện” là khéo, “Thệ” là đi qua. Đức Phật là bậc Đại Giác ngộ đã khéo qua bờ bên kia, tức bờ giải thoát. Ngài không còn bị chi phối bởi quy luật sinh tử, chỉ vì nguyện lực cứu độ quần sanh nên thị hiện đến cõi Ta bà. Kinh Hoa Nghiêm nói, thế giới Ta bà được tạo dựng do thần-lực-hải của chư Phật, nguyện-lực-hải của chư Bồ tát và nghiệp-lực-hải của chúng sanh.
2) Thiện thệ là khéo đi qua và khéo an trú vào các Tam ma đề sâu xa, phát sinh trí tuệ nhiệm mầu. Tam ma đề là Định. Từ Định phát khởi trí huệ. Lộ trình Giới - Định - Huệ là lộ trình giác ngộ giải thoát mà người tu chúng ta phải cần hiểu rõ và trải qua.
3) Thiện thệ còn gọi là Thiện khứ, Thiện giải, Hảo thuyết. Thiện khứ là khéo đi luôn qua bờ giác, không trở lại bờ sinh tử. Thiện giải là khéo hiểu biết về tất cả pháp thế gian. Hảo thuyết là thuyết pháp một cách vi diệu, có thể thuyết phục được mọi tầng lớp dân chúng. Trong Kinh mô tả giọng nói của Đức Phật Thích Ca hùng hồn, vang xa có sức chấn động như tiếng hải triều âm, hội chúng đông đảo hàng ngàn người vẫn nghe rõ ràng lời dạy của Ngài. Đặc biệt là bài thuyết pháp nào của Đức Phật cũng đều có sức lôi cuốn, làm chấn động tâm thức người nghe, từ lúc bắt đầu, rồi đoạn giữa cho đến đoạn cuối cùng (gọi là Sơ thiện, Trung thiện  Hậu thiện). Thính chúng nghe Ngài thuyết giảng, nhiều người đã giác ngộ và đắc Thánh quả ngay tại pháp hội.
6- Thế gian giải
“Giải” là hiểu biết. “Thế gian giải” là hiểu biết rành rẽ tất cả các công việc, sinh hoạt của thế gian. Đức Phật tuy sống trong môi trường thanh tịnh của người xuất gia, nhưng Ngài thông hiểu cặn kẽ và dạy bảo rất kỹ càng cho giới cư sĩ tại gia thuộc mọi giai cấp trong xã hội, từ cách cư xử giữa cha mẹ, vợ chồng, cha con, bè bạn, cho đến phương pháp mưu sinh; từ cách trị dân cho đến đường lối ngoại giao với các nước láng giềng… Có thể nói, Đức Phật là người thông thái, uyên bác và đa tài, đa năng bậc nhất trên cõi đời này. Vì sao nói như thế? Các học giả, các nhà khoa học hàng đầu thế giới được người đời kính trọng vì kiến thức bác lãm. Nhưng thật ra, các vị chỉ có sự hiểu biết tường tận trong phạm vi chuyên môn của mình. Khoa học ngày càng tiến bộ, mức độ chuyên khoa hóa ngày càng thâm sâu, thì mỗi nhà nghiên cứu lại càng phải đầu tư trí tuệ vào một lĩnh vực duy nhất nào đó. Trong các lĩnh vực khác, họ chỉ hiểu biết rất ít, hoặc hoàn toàn không hiểu biết gì cả. Chỉ có Đức Phật, với trí tuệ siêu tuyệt, Ngài rành rẽ mọi phương diện từ vũ trụ đến nhân sinh, từ con người đến xã hội, từ sinh hoạt thể chất đến nhu cầu tinh thần. Ngài lại biết cách hòa đồng vào các tầng lớp dân chúng, nói tiếng nói của địa phương, tôn trọng phong tục tập quán của người bản xứ, dần dần khiến mọi người tin phục, tu theo đường lối của Ngài. Nhà Phật chủ trương “bất biến - tùy duyên”. Bất biến là yếu chỉ công phu phải luôn phù hợp với chân lý tuyệt đối. Tùy duyên là uyển chuyển theo đối tượng, tùy trình độ căn cơ của từng người mà có phương tiện giáo hóa thích hợp. Tinh thần tùy duyên càng được thực hiện trọn vẹn khi người thầy càng thông hiểu thế sự, càng có kiến thức quảng bác về thế giới và xã hội chung quanh.
7- Vô thượng sĩ
Vô thượng sĩ là người trí thức cao tột, là bậc Thầy không ai sánh được. Danh hiệu này chỉ dành tôn xưng cho Đức Phật.
Bài kệ xưng tán Đức Phật có bốn câu như sau:
Thiên thượng thiên hạ vô như PhậtThập phương thế giới diệc vô tỉThế gian sở hữu ngã tận kiếnNhất thiết vô hữu như Phật giả.
Tạm dịch :
Trên dưới trời chẳng ai bằng PhậtMười phương thế giới không ai hơnChính con nhìn khắp thế gian nàyTất cả không ai như Đức Phật.
Vì sao Đức Phật có trí tuệ siêu xuất không ai có thể so sánh nổi? - Kiến thức của thế gian là sự gom góp vay mượn từ bên ngoài, từ kinh nghiệm của người khác, nên chỉ có tính cách tương đối và thay đổi theo thời gian - không gian. Trí tuệ của Bậc Giác ngộ là trí không nhờ người khác mà được, chỉ do công phu thiền định phát sinh, nên thấu triệt và trùm khắp mọi sự vật hiện tượng. Bằng tâm định tĩnh nhưng hằng giác, Đức Phật đã thấy - chứ không phải suy luận - tận cùng bản chất các pháp, nên những lời dạy của Ngài đều là chân lý muôn đời, bất di bất dịch.
Nhà đại bác học của thế kỷ XX, Albert Einstein, đã nói: “Đạo Phật không cần thay đổi để phù hợp với sự tiến bộ của khoa học, vì Đạo Phật chính là khoa học”. Thật ra, Đạo Phật không chỉ là khoa học tự nhiên vì khám phá được bí mật của kiếp người, mà còn có tính siêu nhiên vì giáo lý của Đạo Phật không bị quy luật đào thải của cuộc sống ảnh hưởng đến. Những nhận định của vị Giáo chủ Đạo Phật về thế giới vạn hữu, trải qua hơn 2.500 năm vẫn còn giữ nguyên giá trị. Và khoa học càng tiến bộ, càng minh chứng rằng sự thấy biết của Ngài quả là minh triết, độc nhất vô nhị. Cho đến ngày nay, khi khoa học đã đoạt quyền tạo hóa bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm và sinh sản vô tính, vẫn không thoát khỏi Lý duyên sinh của Đạo Phật. Điều đó chứng tỏ rằng, dù tri thức thế gian đã lên đến đỉnh cao, vẫn chỉ mới đi được một bước đầu tiên trên lộ trình tâm linh trong nhà Phật.
8-  Điều ngự trượng phu                     
“Điều ngự” có nghĩa là điều phục ngự chế. “Trượng phu”, về hình tướng thì chỉ phái nam, về nội dung là nói chung những người có tâm hồn quảng đại và có ý chí xuất trần. Danh hiệu này dùng tôn xưng Bậc trượng phu có khả năng điều phục ngự chế phiền não vô minh cho tất cả chúng sanh.
Chúng ta tôn vinh Đức Phật là Bậc trượng phu, vì Ngài có đủ ba đức tính Đại trí - Đại bi - Đại hùng, kết thành nhân cách vĩ đại của một vị Phật. Đại trí là trí tuệ vô sư siêu tuyệt thế gian (Bát Nhã); Đại bi là lòng thương chúng sanh vô hạn, ra vào sáu nẻo không biết mệt mỏi để cứu độ muôn loài; Đại hùng là sức mạnh tinh thần vô biên, chiến thắng hết thảy nội ma và ngoại ma, trong đó những ma chướng bên trong là hung hãn và khó trị nhất.
Bài sám Quy mạng có bốn câu đề cập đến danh hiệu này :
Quy mạng thập phương Điều ngự sưDiễn dương thanh tịnh vi diệu phápTam thừa Tứ quả giải thoát TăngNguyện tứ từ bi ai nhiếp thọ.
Tạm dịch :
Quy y Điều ngự khắp mười phươngDiễn bày pháp vi diệu thanh tịnhChúng sanh chứng Tam thừa Tứ quảNguyện các Ngài từ bi thương xót.
“Tam thừa” là Thanh văn - Duyên giác và Bồ tát thừa. “Tứ quả” là bốn quả vị của Thanh văn, gồm Tu-đà-hoàn (Sơ quả), Tư-đà-hàm (Nhị quả), A-na-hàm (Tam quả) và A-la-hán (Tứ quả), nhờ tu pháp Tứ Diệu Đế mà chứng ngộ. Chúng sanh nhờ Đấng Điều ngự khắp mười phương hoằng truyền chánh pháp, một lòng quay về nương tựa các Ngài tu tập, chứng các quả Thánh, giải thoát phiền não và ra khỏi nhà Tam giới.
9- Thiên nhơn sư
Đức Phật là bậc Thầy vĩ đại của Trời và người. Trong kinh có kể, Ngài thường hóa thân lên các cõi trời thuyết giáo cho chư Thiên. Trong pháp hội của Ngài ở thế gian, giữa chúng Tỳ kheo và cư sĩ, thường có chư Thiên hiện diện để bảo hộ Ngài và cùng nghe pháp.
Đối với loài người, Đức Phật dạy rất đầy đủ về kiến thức thế gian và xuất thế. Không những Ngài chỉ bảo kỹ càng về cách đối nhân xử thế, cách sinh sống làm ăn, Ngài còn dạy cho người tu về công phu hành trì để được giác ngộ và giải thoát sinh tử. Giáo lý của Đức Phật ghi lại trong tạng Kinh là một gia tài đồ sộ truyền thừa biết bao đời, đến nay vẫn còn phù hợp với thời đại. Ngài quả thật là một bậc Thầy chuẩn mực mà sinh động. Chuẩn mực vì lời dạy của Ngài phù hợp với chân lý tuyệt đối - tức khế lý; sinh động vì khế cơ khế thời, tùy đương cơ tùy thời đại mà sáng tạo nhiều phương tiện thích hợp. Phật giáo Đại thừa theo tinh thần nhập thế, đưa tư tưởng đạo Phật hòa quyện vào nhân gian; người tu làm tròn bổn phận đối với đời mà vẫn vui với đạo. Từ đó, tất cả mọi người, dù thuộc dân tộc nào, sống ở thời đại nào, cũng đều hưởng lợi lạc, khi thâm hiểu giáo lý Phật đà và tu hành theo chánh pháp.
Thiên nhơn chi Đạo sưTứ sanh chi Từ phụƯ nhứt niệm qui yNăng diệt Tam kỳ nghiệpXưng dương cập tán thánỨc kiếp, mạc năng tận.
Đức Phật là Bậc thầy của Trời người, là Đấng cha lành của bốn loài noãn - thai - thấp - hóa sanh. Chỉ một niệm qui y, chúng sanh đã có thể diệt được nghiệp chướng của ba a tăng kỳ kiếp. Chúng ta nương theo Ngài tu hành, tinh tấn không lười mỏi, nhất định sẽ thành tựu đạo quả không nghi. Đức Phật là vị cha lành của chúng sanh, vì nhờ Ngài mà chúng sanh có thể thoát được nỗi khổ lớn nhất - nỗi khổ trầm luân trong ba cõi sáu đường. Do đó, chúng ta ca tụng xưng tán Ngài bằng bao nhiêu lời, trong bao nhiêu kiếp, cũng không cùng tận.
10- Phật Thế Tôn
Phật: Nguyên ngữ tiếng Phạn là Buddha; Trung Hoa phiên âm là Phật Đà, dịch nghĩa là Giác giả tức Bậc Giác ngộ. Việt Nam ta theo đơn âm, gọi tắt là Bụt (từ chữ Buddha) hoặc Phật (từ Phật Đà).
Thế Tôn: Bậc tôn quý của thế gian. Đức Phật đáng được người đời tôn kính bậc nhất, vì Ngài không còn vô minh phiền não, có trí tuệ siêu phàm và lòng từ bi vô hạn, là người dẫn đường cho tất cả chúng sanh đến bến bờ an vui giải thoát.
Danh hiệu này chỉ dành tôn xưng cho chư Phật. Bởi vì, nói về đoạn ly phiền não, giải thoát sanh tử (Đoạn đức), thì các vị A-la-hán cũng tương đương với chư Phật. Nhưng về Trí đức, tức chỗ giác ngộ tột cùng, và Hạnh đức là công hạnh giáo hóa chúng sanh trong vô lượng kiếp, thì không ai có thể sánh ngang hàng với Phật. Vì thế, chúng ta còn tôn xưng Ngài là Bậc Toàn giác, Viên mãn giác, Diệu giác, Cứu cánh giác, vì Ngài đã giác ngộ đến chỗ toàn triệt, viên mãn, vi diệu và tột cùng. Chúng ta cũng nên biết rằng, tuy Đức Phật Thích Ca lịch sử đã nhập diệt hơn 2.500 năm, nhưng đến hôm nay, Ngài vẫn thị hiện ở các cõi để tiếp tục độ sanh. Và các vị Bồ tát hóa thân, vẫn lăn lộn vào sáu nẻo luân hồi, tùy duyên hành hạnh lợi tha, tuyên dương chánh pháp. Có điều, các Ngài không bao giờ để lộ cho ai biết mình là Phật, là Bồ tát.
Học hiểu về ý nghĩa của Thập hiệu Như Lai, chúng ta càng hết lòng quý kính, ngưỡng mộ đối với chư Phật, đặc biệt đối với Đức Bổn Sư của chúng ta. Bởi vì, càng hiểu rõ về mười danh hiệu, chúng ta càng thấy Ngài thật vĩ đại, thật đáng tôn thờ và đáng là người dẫn đường cho tất cả chúng sanh. Hết lòng quy ngưỡng Đức Phật, chúng ta cũng hết lòng quy ngưỡng chánh pháp do Ngài thuyết ra, như chiếc phao cứu hộ những kẻ sắp chết chìm giữa biển cả vô minh; hết lòng quy ngưỡng chư Tăng, những sứ giả Như Lai nối truyền mạng mạch Phật pháp. Từ đó, chúng ta nguyện phát tâm Bồ đề, trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh; nguyện dâng hiến toàn bộ tâm ý mình cho sự nghiệp của Đức Phật - sự nghiệp giáo hóa chúng sanh, hoằng truyền chánh pháp.


(*)  Đại phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh - Tập 4, trang 351 - HT Thích Trí Tịnh dịch.

không hiện hữu nhưng vẫn nhiệm mầu

Giáo lý của đức Phật có trình bày về Ba sự thật.  Ba sự thật ấy còn được gọi là ba con dấu, trong kinh gọi là Tam pháp ấn, the three dharma seals.  Chúng là ba đặc tính có mặt trong mọi kinh nghiệm của cuộc sống: vô thường, khổ và vô ngã.  Khi ta hiểu sâu sắc được Ba sự thật ấy, chúng sẽ mang lại cho ta một sự tự tại và an lạc ngay trong cuộc sống này.
Thật ra thì Ba sự thật ấy cũng rất là hiển nhiên.  Có một vị giáo thọ Tây phương kể lại rằng mỗi khi bà mang ra dạy, các thiền sinh thường nói: “Chỉ có vậy thôi sao? Ai mà lại không biết chuyện đó!”  Thật ra đó là những sự thật rất bình thường và hiển nhiên, nhưng ta cần hiểu cho thật thẩm thấu, để những tuệ giác ấy có thể giúp ta bớt sợ hãi hơn và có tâm từ ái hơn trong cuộc sống này.
Điều dễ gây nên nhiều hiểu lầm, mà cũng có năng lượng mang lại sự giải thoát lớn cho chúng ta, là giáo lý về vô ngã, anatta.  Thật ra đó cũng chỉ là một hình thái khác của luật vô thường mà thôi.  Tôi nghĩ, vô thường là khi ta nói về khía cạnh thời gian, và vô ngã là khi ta nhìn về phương diện không gian, vật lý.  Chúng chỉ có nghĩa là tất cả luôn biến đổi, không có gì là có một thực thể cá biệt và độc lập được hết.
Và vì mọi vật đều luôn luôn thay đổi, nên “cái Tôi” là một động từ chứ không phải danh từ.  Chúng là những kinh nghiệm biến đổi liên tục, là những sự việc đang xảy ra, mà chúng tự góp nhặt và kết nối nhau lại thành một câu truyện.  Trong kinh đức Phật dùng chữ duyên khởi để diễn tả rằng mọi việc nhờ nương nhau mà có.  Và vì tất cả mọi hiện tượng đều có liên quan mật thiết với nhau, nên không có một cái gì có thể đứng riêng rẽ, độc lập, một mình được hết.
Bà Sylvia Boorstein, một giáo thọ người Hoa kỳ và cũng là một nhà Tâm lý học, psychologist,  có chia sẻ một bài viết về sự nghịch lý và tuệ giác của giáo lý vô ngã trong cuộc sống.  Xin gửi đến các bạn.
--- oOo ---
Cái bệnh này là của ai đây?
“Nếu như không có một cái tôi, thì cái bệnh viêm khớp xương, arthritis, này là của ai đây?”  Đó là một trong những câu hỏi mà tôi thường nghe những người mới bắt đầu học Phật hay truyền cho nhau, và tôi cũng thường nhận được qua email.  Câu hỏi ấy hơi có ý châm biếm về lý vô ngã, anatta.  Nhưng tôi nghĩ sự châm biếm ấy thật ra không phải nhắm vào giáo pháp của Phật, mà nó là một sự chế giễu về sự rối rắm trong ngôn ngữ của chúng ta.  Mà vấn đề ngôn từ lẫn lộn ấy cũng là việc dễ hiểu thôi.
Cách đây hai mươi lăm năm, khi tôi bắt đầu thực tập thiền quán, tôi nhớ ngồi nghe vị thầy mình giảng về Tam pháp ấn, the three characteristics of experience, vô thường, khổ và vô ngã, là những tuệ giác mà người tu học cần phải có, để chuyển hóa những tham, sân, si của mình.
Giáo lý về vô thường, anicca, thì có vẽ dễ hiểu đối với tôi.  Tôi thấy rõ được rằng mọi việc luôn biến đổi, thời gian đang trôi qua, và một hạnh phúc hay nỗi đau nào rồi cũng đều sẽ phai nhạt theo thời gian.  Khổ đau, dukkha, cũng hợp lý đối với tôi nữa.  Tôi hiểu được, dầu chỉ bằng khái niệm, về nỗi khổ gây ra do sự dính mắc.
Nhưng tôi không hiểu được thế nào là vô ngã, thế nào là không có một cái tôi.  “Như vậy thì ai ở trong này đây đang tiếp xúc với sự sống đang xảy ra chung quanh, nếu không phải là chính tôi?  Thân này là của tôi, tư tưởng này của tôi và chuyện đời này là của tôi!”  Tôi còn nhớ là lúc ấy tôi tin chắc là mình đúng, vị thầy hoàn toàn sai, nhưng vì tôi rất thích giáo pháp của đức Phật nên tạm gác thắc mắc ấy sang một bên.
Thêm vào với cái cảm nhận rằng, “Có một người nào đó bên trong đang làm chủ những việc xảy ra,” thì tôi còn là một nhà tâm lý học, psychologist.  Tôi đã tin, và vẫn tin rằng, cái cảm nhận về một cái tôi khác biệt với chung quanh – “Đây là tôi.  Đây là những tài năng của tôi.  Tôi sử dụng chúng khôn khéo trong một cuộc sống liên hệ với những người khác.  Tôi có thể tự lo cho mình được” – là một phần rất quan trọng cho việc phát triển một xúc cảm tốt lành.
Cái tôi của ngôn ngữ không phải là vấn đề
“Tôi là tôi, tôi khác với bạn,” thật ra cái biết đó cũng rất là chủ yếu trong sự hình thành một ý thức về đạo đức.  Mỗi khi tụng giới, chúng ta đọc, “Ý thức được những khổ đau do sự giết hại gây ra, con xin nguyện thực tập bảo vệ sinh mạng của con người, của các loài động vật, thực vật và môi trường của sự sống,” nó đòi hỏi chúng ta một sự hiểu biết về sự sống của những loài khác với ta, chúng cũng biết kinh nghiệm những khổ đau như chính ta vậy.
Khi ta có thể nói rằng, “Tôi là bạn của người ấy,” hoặc là “Tôi sẽ đi làm ngày mai,” hay “Tôi sống ở địa chỉ này,” là một điều rất hữu ích và cần thiết trong cuộc sống.  Và những “cái tôi” đó không phải là vấn đề.  Chúng chỉ là một thứ dụng cụ, đồ trang bị, để giúp chúng ta quản lý cuộc sống mình.  Chúng chỉ là một phương tiện ngôn ngữ dùng để diễn đạt tình trạng, hoàn cảnh, chứ đó không phải là một thực thể riêng biệt và bất biến nào hết.
Ý niệm về một cái tôi độc lập mới là vấn đề
Còn “cái tôi” có vấn đề là một “cái tôi” hay kể lễ những câu truyện, rồi tự cô lập và giam mình vào khổ đau.
Đây là một ví dụ.  Trong thời gian hai vợ chồng tôi học thiền với một vị thầy.  Có một người bạn làm tôi nổi giận, và tôi nói với chồng mình, “Em tức giận chị ấy vô cùng, không ngờ là chị ta đã nói như vậy về em.”  Anh ta đáp, “Nhưng ‘cái tôi’ đang giận đó nó đang ở đâu?”  Câu trả lời của anh lại càng làm tôi tức giận thêm, tôi đáp, “Anh và tôi đều biết là không có một ‘cái tôi’ nào hết.  Nhưng cái giận có thật!  Khổ đau có thật!”
Giá như nếu lúc đó tôi bình tĩnh hơn một chút, tôi đã có thể nhận diện được một “cái tôi” đông cứng và biệt lập, mà tự chính mình đã dựng lên theo với câu truyện “không ngờ là chị ta đã nói như vậy về tôi.”  Và chính một cái tôi kéo dài ra ấy mới là nguyên nhân của khổ đau.  Nó dựng lên một “cái tôi” bị nói xấu và rồi “cái tôi” ấy bị khổ đau.
Bạn biết không, một “cái tôi” nào có sự mong cầu, bất cứ một loại mong cầu nào, là một “cái tôi” khổ đau.  Khổ đau khởi lên theo với một sự bất an nào đó.
Nhưng đó cũng không phải là một điều gì sai trật hay trái luật tâm linh gì hết: chúng chỉ là những dấu hiệu báo cho ta biết rằng, có việc gì đó đang cần đến sự chú ý của mình.  Và chúng sẽ biến mất đi khi tâm và thân ta được thoải mái, dễ chịu.  Và cũng như mọi hiện tượng khác trong cuộc sống, chúng cũng vô thường và vô ngã, không có một “cái tôi” nào hết, chúng khởi lên và qua đi hoàn toàn tùy thuộc vào điều kiện.
Vô ngã nhưng sự sống vẫn nhiệm mầu
Vài năm trước trong một buổi nói chuyện của đức Đạt Lai Lạt Ma, có một anh thanh niên trẻ than với Ngài, “Con không thể nào tập thiền được.  Lúc nào con cũng nghĩ rằng mình đã làm quá nhiều lỗi lầm, con không thể nào xứng đáng có được hạnh phúc.”  Đức Đạt lai Lạt ma cúi xuống gần anh và nói với một giọng vừa sửa chữa lại vừa cứng rắn.  “Anh lầm rồi!”  Ngài nói. “Mỗi chúng sinh đều là một biểu hiện kỳ diệu của thiên nhiên.  Và có được thân người này lại còn càng là quý giá biết bao nhiêu, vì ta có thêm khả năng để phát triển tình thương và tuệ giác.”
Bạn thấy không, không có một cái tôi nào hết, vô ngã, nhưng sự sống này vẫn rất nhiệm mầu.
Nguyễn Duy Nhiên

free hit counter

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.