bài viết trong chuyên mục "luật nhân quả"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn luật nhân quả. Hiển thị tất cả bài đăng

 

Mấy ai hiểu đúng về Niết bàn, tránh hiểu sai kẻo hậu quả khó lường!

Bậc tu hành hiểu đúng về Niết bàn để tránh lầm đường lạc lối, người bình thường tránh hiểu sai để thấy Phật pháp gần gũi và dễ hiểu vô cùng, không hề có màu sắc ma mị ở đây.

Từ lâu Niết bàn bị bao trùm bởi một bức màn của sự huyền bí và đó được xem là nơi đến của tất cả những người theo đạo Phật mong muốn để có thể thoát khỏi luân hồi sanh tử.

Hiểu đúng về Niết bàn


Theo Phật giáo tự do tuyệt đối chính là làm chủ thân tâm, sống với thực thể vạn pháp. Trạng thái ấy được Đức Phật dùng với khái niệm Niết bàn. Như vậy, Niết bàn là một trạng thái không còn khổ đau, phiền não. Niết bàn chính là sự chấm dứt mọi khát ái nơi tâm của mỗi con người.

Quan niệm về Niết bàn cũng có sự sai khác


Phật giáo Nam tông chia Niết bàn thành hai loại là Vô dư y và Hữu dư y. Vô dư y là Niết bàn diệt luôn cả phiền não lẫn ngũ uẩn. Hữu dư y là Niết bàn diệt được phiền não nhưng vẫn còn lại ngũ uẩn.

+ Hữu dư y: Là trạng thái tâm của các bậc thánh nhân đã dứt sạch phiền não, đoạn tận tham sân si, không còn tái sinh trong ba cõi… Nhưng vì còn sống trên thế gian, còn thân của nghiệp báo dư thừa, nên vẫn phải chấp nhận khổ do chịu nghiệp cũ để lại.

+ Vô dư y: Vị A-La-Hán đã dứt sạch phiền não hữu lậu, tận diệt gốc rễ của ba nghiệp bất thiện tham sân si, xa lìa tất cả si mê, đạt sự tĩnh lặng, chứng Niết bàn khi còn sống. Sau khi thân hoại mạng chung không còn mang thân nghiệp báo sẽ không còn tái sinh, nhập Vô dư Niết bàn. Loại Niết bàn này trong kinh còn gọi là Bát-Niết-bàn (parinirvãna).
 
Hiểu đúng về Niết bàn
 
 
Phật giáo Bắc tông bổ sung thêm hai loại Niết bàn nữa, đó là Tự tính Niết bàn và Vô trụ xứ Niết bàn. Thực chất đây chỉ là sự khai triển thêm của Hữu dư y. 

+ Tự tính Niết bàn: Mỗi người chúng ta đều có sẵn thể tánh thanh tịnh sáng suốt tròn đầy, chỉ vì vô minh phiền não che lấp nên tánh sáng không hiển lộ. Khi mê lầm chấp ngã biến mất thì đó là Niết bàn. Cho nên mới nói Niết bàn vốn sẵn có, nó không phải là kết quả của tu tập mới có. Nhưng nếu con người không nhận ra tự tánh của mình thì không bao giờ biết được Niết bàn là như thế nào.

+ Vô trụ xứ Niết bàn: Quan niệm mở rộng của Niết bàn dựa trên khái niệm Bồ tát. Vô trụ xứ Niết bàn là quan niệm Bồ tát chứng đắc Niết bàn không trụ vào một nơi, một chốn nào. 

Không có nghĩa là vô tâm với cuộc đời


Nói Niết bàn chính là sự chấm dứt mọi khát ái nơi tâm của mỗi con người nhưng không có nghĩa là cứ đắc Niết bàn là xem chuyện có cũng như không, hờ hững hay vô cảm với cuộc sống.

Chứng đắc Niết bàn là khi ta không còn chấp ngã, chấp pháp để phân biệt mình và người trên tinh thần trí tuệ, do đó không có nghĩa là sự ngừng hoạt động của tâm mà ngay trên niệm khởi đó không dính mắc với nó. Nếu chấp vào ngã nên khi chúng có sự thay đổi, thì sẽ dẫn ta tới phiền não, đau khổ. Nếu chấp vào ngã là đang đi ngược lại con đường đưa đến hạnh phúc chân thật mà ta gọi là Niết bàn.
 
Đức Phật cho rằng: “Này các Tỳ kheo, trong tất cả pháp, dù là pháp hữu vi hay vô vi, pháp giải thoát ly tham là cao cả nhất. Ấy nghĩa là giải thoát khỏi kiêu mạn, diệt trừ tham, nhổ tận gốc sự chấp thủ, cắt đứt sự tiếp tục, dập tắt khát ái, giải thoát, chấm dứt, Niết bàn” (Kinh Tăng chi bộ I, chương IV - Bốn pháp, phẩm Bánh xe) hay “Đoạn diệt khát ái, này Ràdha, là Niết bàn” (Kinh Tương ưng bộ III, thiên Uẩn, chương II - Tương ưng Ràdha). 

Không phải chết đi mới được ở cõi Niết bàn


Chúng ta đã thường quá quen thuộc với cụm từ “Phật nhập Niết bàn” để chỉ cho việc Phật qua đời, đi về cõi Niết bàn khiến cho hầu hết chúng ta hiểu sai và tưởng rằng Niết bàn là một cảnh giới đạt được sau khi chết.

Đây là một trong những lầm tưởng phổ biết nhất về Niết bàn. Do đó, cần hiểu đúng về Niết bàn để tránh sai lệch trong đường hướng tu tập, rời xa tính thiết thực, thực tế của giáo lý nhà Phật.

Niết bàn tức “vô sinh” tức là ta sẽ không còn bị sinh tử trói buộc, bởi khi thấy sinh tử là giả thì bất tử vô sinh. Như vậy Niết bàn là vô sinh có nghĩa là vẫn còn sinh tử nhưng không bị sinh tử trói buộc, hay bị lệ thuộc. Điều này xuất phát từ tâm mình chứ không phải ở một hình thức cụ thể như là một nơi, một vị trí nào đó cần đến như cách hiểu thông thường.
 
Như vậy không phải khi chết mới chứng Niết bàn mà khi còn sống cũng có thể chứng Niết bàn. Sống hay chết chỉ là hiện tượng, khi mê gọi là sinh tử khi ngộ thì hiện tượng đó gọi là Niết bàn.

Niết bàn ngay cõi ta bà này
 

Ta có thể "biến" nơi đây thành Niết Bàn

 
Niết bàn không phải là một nơi chốn, không phải là cảnh giới trong không gian hay thực tế ngoài đời. Niết bàn không ở trên trời, không ở trong mây, không ở trên không... Niết bàn không ở đâu cả vì đó không phải là một thực thể, nếu nó là một vật thì nó sẽ là tạo tác, hữu vi, vô thường chi phối mà đó là một trạng thái của tâm. 

Trong việc thiền tập, thường sử dụng hình ảnh con trâu đen chuyển thành trâu trắng. Con trâu trắng tượng trưng cho Niết bàn, con trâu đen tượng trưng cho sinh tử, như vậy bản chất chỉ có một con trâu mà thôi. Khi chúng ta giác ngộ chúng ta chỉ nhìn nhận thân tâm, con người và thế giới bằng cái nhìn khác mà thôi. 

Niết bàn là trạng thái ở tâm phát sinh từ sự buông bỏ, nghĩa là biết buông bỏ thoát khổ đau càng nhiều thì hạnh phúc, an lạc trong tâm càng lớn, làm cho ta càng gần với Niết bàn hơn. Nhưng ta cũng cần có trí tuệ để hiểu đúng về chữ buông của đạo Phật để tránh phí hoài một đời vô nghĩa.

Ngay tại thế giới này, chúng ta giác ngộ không chấp ngã thì cũng chính là Niết bàn. Điều đó có nghĩa là khi ta đang sống ngay cả cõi Ta bà này cũng có thể là Niết bàn khi mà chúng ta nhận ra, buông bỏ mọi chấp trước về ta và của ta, kết thúc sự vô minh, thiếu hiểu biết để biến các chất liệu khổ đau thành hạnh phúc.

Thực ra, không chỉ ở cõi Ta bà mà bất cứ nơi đâu, ta có thể duy trì trạng thái sống được với tự tính thanh tịnh của chính mình, thì ở đó đều là cõi thanh tịnh của tâm cũng được xem là Niết bàn. Dù ta hiện vẫn tồn tại trong cõi luân hồi này, nhưng vẫn tự do tự tại, làm chủ bản thân mình, đồng thời, giúp đời, giúp người trong khả năng của mình.

Xem cõi này là Niết bàn của chính mình cũng chính là điều các hàng Bồ tát hướng tới với phương châm “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác” (Phật pháp tại thế gian, không rời thế gian mà giác ngộ).
 
Lúc này có thể khẳng định, Niết bàn không hề thần bí nếu còn có suy nghĩ sai lệch như thế thì dễ lầm đường lạc lối. Quá trình chấm dứt khổ đau để đạt được trạng thái an lạc, hạnh phúc mà ta gọi là Niết bàn, không chỉ là một lý thuyết suông, mà nằm trong chính sự thực tập hàng ngày.

Điểm chính yếu của Niết bàn đó chính là tính giải thoát. Giải thoát ngay trong lòng thực tại này chứ không phải ở một nơi nào khác. Nên chúng ta chỉ cần quay trở về, sống với bản tâm ấy nhưng không còn tham ái nơi cảnh trần. Từ đó, không nảy sinh sự dính mắc, chấp thủ với bất cứ điều gì nữa.

Giải thoát còn là sự trở về sống trọn vẹn với hiện tại, sống có chánh niệm, tỉnh giác với sự soi chiếu của trí tuệ nơi bản tâm, từ đó có được hạnh phúc và chính hạnh phúc này sẽ tiếp tục nuôi dưỡng và trị liệu những khổ đau trong ta.


 

Phúc báo của con cái và cha mẹ liên quan chặt chẽ chớ xem thường sự tương hỗ của đôi bên

Ngoài việc mỗi người có vận may riêng, phúc báo của con cái và cha mẹ liên quan chặt chẽ đó là lý do người xưa khuyên chúng ta sống sao còn để phúc cho con của mình về sau.

Câu chuyện công chúa số phú quý bất kể lấy chồng nghèo


Vị vua Ba Tư Nặc thời Đức Phật có một nàng công chúa tên Thiện Quang nổi tiếng xinh đẹp, nết na được dân chúng vô cùng yêu mến. Đức vua rất tự hào và nói với mọi người rằng: "Công chúa được người dân yêu quý và nể trọng là nhờ có người cha như ta làm quốc vương của một đất nước".
 
Công chúa Thiện Quang khi nghe những lời này đã thưa lại rằng: "Nhiều người thương mến con vì nhờ nhân duyên phúc đức của con đủ lớn, thực tế không phải vì đấng sinh thành là bậc đế vương".
 
Vua Ba Tư Nặc nhiều lần khẳng định suy nghĩ của mình và đều nghe công chúa đáp trả những lời trên. Vì quá tức giận nên Đức vua đầy thách thức khi đem công chúa gả cho một người nghèo khó.

Vua Ba Tư Nặc quả quyết nói: "Lấy một kẻ nghèo khó xem những gì con may mắn có được là do chính con hay nhờ phúc lộc phụ vương của con"
Công chúa không vì thế mà oán giận hay than khóc, cô đã không ngừng cùng người chồng nghèo chăm chỉ làm ăn, buôn bán. Cuối cùng vận may cũng đã ghé thăm gia đình hai vợ chồng và họ sớm phát tài, rồi nhanh chóng trở nên giàu có khắp vùng.

Vua Ba Tư Nặc là người theo dõi cuộc sống của con gái của mình từ từng thay đổi nhỏ, ông rất kinh ngạc trước những gì đã xảy ra nên tìm đến Đức Phật để hỏi.
 
Đức Phật với sự tinh thông của mình đã giải thích cho vua Ba Tư Nặc rằng: "Từ thời Phật Ca Diếp trước đây, công chúa Thiện Quang là người hiền hòa, tốt bụng, cô thường dùng đồ ăn cúng dường những người tu đạo.

Chồng cô ấy thời ấy đã cố gắng ngăn cản vì sợ tiền của nhà mình thất thoát. Thế nhưng công chúa đáp lời: "Thiếp đã phát tâm nguyện muốn giúp họ, xin đừng ngăn cản, hãy để thiếp được làm để thỏa mong muốn".

Người chồng sau đó đã nghe theo và cùng cô giúp đỡ những người tu đạo. Với tâm đức của công chúa trong quá khứ nên khi chuyển sinh sang đời này, cô rất giàu sang, phú quý. Còn chồng cô vì trước đó đã ngăn cản việc cô giúp đỡ nên mới biến thành bần cùng, nhưng sau đó đã kịp hồi tâm chuyển ý, nhờ đó mà gặp được công chúa Thiện Quang, từ đó hai người sống cuộc đời sung túc, giàu có".
Vua Ba Tư Nặc nghe xong lời giải thích của Đức Phật liền hiểu ra rằng phúc báo của con cái và cha mẹ liên quan chặt chẽ. Với người con có phúc báo, tự nhiên sẽ ảnh hưởng tới phú quý của cả gia đình. Như công chúa là người có phúc báo, dù gả cho người nghèo, thì cũng khiến người đó trở nên giàu có.
 
Phuc bao cua con cai lien quan toi cha me
 

Phúc báo của con cái và cha mẹ liên quan chặt chẽ


Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta đầu thai làm con của bố mẹ mình. Đó là xuất phát từ một phần lý do phúc báo của chúng ta có sự tương đồng với bố mẹ. Nhưng về cơ bản, phúc báo của mỗi người là độc lập, tức là ta hay bố mẹ có được những gì ở hiện tại là do phúc báo từ những kiếp trước và quá khứ hình thành nên.

Mỗi người khi sinh ra đều có phúc báo riêng của mình. Khi một đứa trẻ tới đầu thai là mang cả phúc báo của chúng tới, nhìn bề mặt ta thấy rằng cha mẹ đang nuôi dưỡng chúng, nhưng trên thực tế là phúc báo của bản thân đứa trẻ đang nuôi dưỡng chúng.

Phúc báo của một người đều phải từ bản thân người ấy tự bồi đắp, ngay cả những người thân cũng không cách nào có thể thay thế họ được. Con trẻ cũng có phúc báo và nghiệp lực của riêng chúng, cha mẹ không cách nào thay thế cho con trẻ, vậy thì điều cha mẹ có thể làm được là giúp cho con trẻ nuôi dưỡng và bồi đắp phúc đức.

Trước tiên bố mẹ phải ý thức được tầm quan trọng của phúc báo để dành sự tập trung đặc biệt vào đó để nuôi dưỡng con cái mình nên người.

Hiện nay, chúng ta thường chỉ dồn hết tiền bạc, công sức vào việc muốn con học giỏi, có tài, thành công,... nhưng đó chỉ mới đạt được khía cạnh trí tuệ. Những việc đó thường xuất phát từ thiếu hiểu biết của chúng ta, vì thế ngay từ bây giờ phải ý thức rằng: Mọi sự đều dựa vào phúc báo đầu tiên, còn trí tuệ chỉ đứng vị trí thứ hai. 

Có người nhất mực yêu thương con cái tới mức cho rằng có thể chi càng nhiều tiền nuôi con càng tốt nhưng không phải đứa trẻ nào cũng đủ phúc báo để trở thành thiên tài hay người thành công. Vì vậy hãy để chúng học tập trong điều kiện như mọi người bình thường, vận mệnh của chúng có thể đi theo con đường học hành thì sẽ tự có được, hãy để mọi thứ thuận theo tự nhiên. 

Nếu quan sát những người xung quanh bạn sẽ thấy rằng, có người làm gì cũng đều kiếm được ra tiền. Ngược lại, trong khi đó có người có chăm chỉ, vất vả, cố công nhiều thế đi nào đi nữa nhưng cũng chỉ có thể đủ nuôi sống bản thân. Lý do là phúc báo của họ không đủ sâu dày.
Thành tựu của một người đều dựa vào phúc báo cộng với trí tuệ mà thành. Nếu chỉ dựa vào trí tuệ, cho dù hiếu học thế nào đi nữa mà không đủ phúc báo thì có cố làm ăn vẫn rất khó khăn.

Có thể nói, khi chúng ta nhận thức được rằng phúc báo của con cái đều liên quan tới cha mẹ, đừng tùy tiện tiêu hao phúc báo của con cháu bằng những sai lầm của chúng ta. Xem thêm: 8 hành động tổn hao PHÚC BÁO, dễ gặp xui xẻo
 
hay song sao de lai phuc bao cho con
 

Hãy lưu lại âm đức lại cho con cháu
 

Từ câu chuyện trên có thể thấy, tiền bạc của chúng ta luôn có thể bị người khác đoạt mất đi, nhưng phúc báo thì người khác không cách nào có thể chiếm đoạt được. Người xưa dạy: Lưu lại của cải cho con cháu, chúng cũng không giữ được; lưu lại sách vở cho con cháu, chúng cũng không đọc được; chỉ có lưu lại âm đức cho con cháu, mới là lối ra cần thiết nhất cho chúng.

Cổ nhân cũng từng nói rằng: “Tích đức cho con cháu” cũng hàm ý rằng, nếu muốn tốt cho con hãy răn bản thân mình làm điều tốt, giúp đỡ nhiều người nhất có thể và khuyên bảo các con làm điều tương tự.
 
Con trẻ nếu như có thể thành đạt, không nhất thiết phải dùng đến tiền của vì dù chúng không đủ hoặc không xứng đáng với phúc lộc đó thì tiền của có để lại cũng sớm tiêu tan, vì thế hãy để lại âm đức cho con cháu mới thực sự khôn ngoan. Xem thêm: ÂM ĐỨC là gì? Tại sao con người phải hành thiện tích ÂM ĐỨC?

Không nên xem nhẹ phúc báo vì khi đó, tất cả của cải bạn đều có thể tạo ra bất cứ khi nào, bất kể trong những hoàn cảnh thế nào đi chăng nữa.
 
Điều bạn cần làm trước tiên là hãy không ngừng tích đức làm việc thiện, thì sau này tự nhiên con cháu sẽ tự có phúc báo. Với những ai dù có cố gắng kiếm tiền bằng những việc không chính đáng thì chỉ mang lại gánh nặng cho cho chứ không phải thương con.
 
Ngay từ bây giờ, hãy gieo trồng ruộng phúc, tích đức làm việc thiện, thì sau này tự nhiên con cháu sẽ tự có phúc báo. Nếu hiện tại bạn không tích đức hành thiện, tiền bạc có được là không chính đáng thì sau này con cháu sẽ cơ cực sẽ chịu nghiệp tích lại từ bạn.

 

Vô thường là gì? 4 lời Phật dạy về vô thường cần cả đời để thấu tỏ

Với những Lời Phật dạy về vô thường tỉnh thức chúng ta trong cuộc sống hiện tại, nhờ đó mà mỗi cá nhân cảm thấy trân quý hơn những giây phút đang trải qua

Vô thường là gì?


Vô thường (tiếng Pali: Anicca hay Anitya trong tiếng Phạn) là một trong những học thuyết nền tảng của đạo Phật đã luôn tồn tại sẵn, chỉ được nêu ra dựa trên thực tế mà Đức Phật đúc rút kinh nghiệm và nhận thấy được trong cuộc sống này.

Dù cho có Phật ra đời hay không thì thế gian cũng là vô thường, vẫn luôn biến dịch không ngừng. Xem thêm: Đức Đạt Lai Lạt Ma nói về cuộc sống vô thường
 
Học thuyết khẳng định rằng tất cả sự sống đều có điều kiện, không có ngoại lệ, chỉ là thoáng qua, bay hơi và không bền vững. Phật gọi những giai đoạn thay đổi này là: sanh, trụ, dị, diệt
Vô thường là một đặc tính của Tánh không, mọi thứ tồn tại dựa trên sự phụ thuộc, tương tác lẫn nhau, phát sinh và biến đổi từ dạng này sang dạng khác, không có cái nào tồn tại độc lập, không có cái nào tồn tại, tất cả đều trống rỗng.
 
Loi Phat day ve vo thuong
 
Thân vô thường: Sinh, lão, bệnh, tử, bệnh tật, tai nạn bất thường luôn xảy ra.
 Tâm vô thường: Lòng tin dễ lung lay, lý tưởng cũng dễ thay đổi.
 
Thời gian vô thường: Đời người thật ngắn ngủi để rồi thoáng chốc hiểu ra một điều được sống thanh thản hưởng chọn niềm yêu thương là điều quý giá.
Tiền vô thường: Chúng ta ra đời với bàn tay trắng và ra đi cũng vậy, dù cuộc sống có giàu sang phú quý cỡ nào khi chết rồi cũng chẳng thể mang theo.
 
comment leftKhông ai biết được ngày mai hay cái Chết, cái nào đến trước. Ngày mai có thể không đến, nhưng cái chết chắc chắn sẽ đến.
Shantideva
comment right
  

Lời Phật dạy về vô thường

Có 4 điều lớn nhất chúng ta có thể chiêm nghiệm về những gì sẽ không tồn tại vĩnh cửu:
 

1. Hữu thường giả tất vô thường


(Tạm dịch: Điều gì cũng luôn thay đổi)

Bản chất của cuộc sống này là thay đổi, không có bất cứ điều gì mãi tiếp tục bảo trì trạng thái ban đầu được. Nó thời thời khắc khắc đều ở trong sự biến đổi, bản chất sẽ từ từ cải biến và cuối cùng là biến mất hẳn.

Trong Khế Kinh có câu chuyện: Một kẻ ác chết đi bị quỷ sứ dẫn đến trình vua Diêm Vương. Vua hỏi: "Ở trần gian, sao không làm việc thiện mà cứ làm việc ác rồi giờ bị đoạ xuống đây chịu hành hình?”. 

- Thưa Diêm chúa, ở trần gian nhà nước muốn làm việc gì còn phải thông báo trước, tại sao ở Âm phủ, Ngài bắt người chết đột ngột thế này, thử hỏi làm sao tôi làm việc thiện cho kịp được?

- Ngươi ở trần gian có thường thấy người già, người bệnh, người chết hay không?

- Dạ thưa có.

- Đó là những thông điệp mà ta đã báo trước cho người trần gian biết rồi đấy, ngươi có thấy trên đời này có ai không phải già - bệnh - chết không?

- Dạ thưa không. 

- Vậy tại sao ngươi không lo tu tập, lo làm việc thiện, để bây giờ bị giải xuống đây thắc mắc?
 
Một vong hồn trẻ tuổi nghe được câu chuyện bè hỏi: "Ngài thật là không công bằng, đối với ông già kia, Ngài đã gửi nhiều thông điệp còn tôi Ngài chưa hề gửi mà bắt tôi xuống đây, chết thật oan uổng quá.

Diêm chúa nghe vong hồn trẻ khiếu nại, liền cười:

- Tại nhà ngươi không chịu quan sát chứ ta làm việc rất công bằng, không bao giờ có chuyện thương người này, mà ghét bỏ người kia. Ta lúc nào cũng có gửi tin báo trước cho mọi người hay biết, ngươi không chịu để ý đó thôi.

- Ngài gửi thông báo lúc nào, sao tôi không thấy?

Diêm chúa mới cười nói:

- Nhà ngươi có thấy đứa bé ở nhà đối diện với ngươi hay không? Nó mới 5 tuổi mà bị chết vì tai nạn giao thông đó! Còn ngươi lớn tuổi hơn nó lẽ nào lại không chết?
 
Loi Phat day ve loi noi
 
 

2. Phú quý giả tất bất cửu


(Tạm dịch: Giàu sang cũng chẳng thể tồn tại mãi)

Điều này có nghĩa là bạn giàu có đến thế nào đi nữa thì cuối cùng cũng sẽ suy thoái. Tục ngữ có câu: “Giàu không quá ba đời”, trừ khi họ đời đời làm việc thiện, tích đức thì mới có thể bảo trì được vinh hoa phú quý cho đời con cháu. Nếu con cái không đủ phúc cũng chẳng thể hưởng được tiền bạc này.

Chỉ có quyên tặng, bố thí đi thì tiền bạc mới có sức sống và tiếp tục tồn tại. 

Gom góp được thật nhiều của cải không có nghĩa là làm cho tâm thức được an bình một cách tương xứng. Hãy nhìn vào những kẻ có đầy đủ tiện nghi vật chất, họ có thể tự cung phụng cho mình suốt đời, thế nhưng họ vẫn sống trong tình trạng âu lo, buồn khổ, bất toại nguyện và khép kín. 
 
Họ không hiểu rằng hiến dâng sẽ mang lại một niềm hân hoan to lớn nhất. Họ cũng không thể hiểu được là không cần phải có thật nhiều của cải mới đủ sức hiến dâng một nụ cười hầu giúp cho kẻ khác được sung sướng.

Các tiện nghi vật chất của họ thật dồi dào, thế nhưng chúng không hề mang lại cho họ được một mảy may hạnh phúc nào, bởi vì chỉ có một cách duy nhất trong số tất cả các phương tiện mà chúng ta có thể có được nhằm giúp cải thiện cuộc sống nội tâm của mình: đấy là sự tu sửa tâm linh. Xem thêm: Lời Phật dạy về cuộc sống: 10 nghiệp lành mang phước đức bền lâu 
 
Loi Phat day ve cach song
 
 

3. Hội hợp giả tất biệt ly


(Tạm dịch: Tụ hợp thì tất sẽ có biệt ly)

Những mối quan hệ yêu đương hay bạn bè, người thân như Lục thân (cha, mẹ, vợ, chồng, anh, em) có lúc ở bên nhau đấy nhưng không sớm thì muộn cũng phải rời xa nhau. 

Cuộc sống này không hàm chứa một thực thể nào cả. Chúng chỉ là hậu quả của vô số nguyên nhân và điều kiện đã tạo tác ra chúng. Chúng không sinh ra để mà tồn tại, chẳng qua cũng vì chúng luôn biến đổi trong từng giây phút một. Vì thế quý vị không nên nắm bắt bất cứ một thứ gì cả. Xem thêm: Không điều gì là vĩnh cửu, nhớ để buông bỏ mà cải biên số mệnh
 

4. Cường kiện giả tất quy tử


(Tạm dịch: Khỏe mạnh đến mấy thì cũng không thoát được cái chết)

Theo Lời phật dạy, cơ thể của chúng ta cũng như những thứ khác cuối cùng rồi cũng sẽ tan biến, nhưng tiếc thay chúng ta lại thường hay quên đi điều ấy, chẳng qua là vì chúng ta bám víu vào thân xác mình một cách quá đáng. Đối với một số người mỗi khi nghĩ đến sự thật ấy thì họ cảm thấy khổ đau vô ngần. 
 
Cho nên, cho dù là ai đi nữa đều phải sử dụng chính xác từng giây phút khi còn sống thì sống cũng an bình mà chết cũng an bình giống như Khổng Tử đã nói: “Triêu văn đạo, tịch tử khả hĩ!” (Tạm dịch: Buổi sáng được nghe đạo, buổi chiều chết cũng được) 
 
Cuối cùng, Phật Thích Ca Mâu Ni nói 4 câu kệ (Kệ là chỉ bài thơ của Phật): “Thường giả giai tẫn, cao giả diệc đọa, hợp hội hữu ly, sinh giả tất tử". (Tạm dịch: Điều gì cũng có tận cùng, cao rồi cũng rơi xuống thấp, hợp rồi sẽ có ly, sống ắt sẽ có chết). 
 
Nhan duyen cua vo chong duc phat co tu nhieu kiep truoc
 Lời Phật dạy về vô thường phải dành cả đời để chiêm nghiệm và thấu tỏ

Bài học rút ra khi hiểu ý nghĩa của vô thường


Thông qua những lời Phật dạy về vô thường giúp chúng ta nhận ra rằng sự sống có giới hạn thì phải chăng con người ta khi sống nên có một chút ý nghĩa. Cuộc đời này sao lại sống phí hoài bởi những phiền não? Bạn ước mong gì? Bạn thực sự muốn gì? Hãy thực hiện ngay đi thôi!

Hiểu về vô thường để chúng ta phải suy niệm rằng mọi sự sẽ không tồn tại như nó là mà sẽ biến đổi trong từng giây phút. Không chỉ bản thân ta mà ngay cả các hiện tượng lớn của thế giới cũng vô thường. 

Qua đó, chúng ta cố gắng học hỏi và tu tập, đem tình yêu thương san sẻ với muôn loài bằng trái tim hiểu biết. Chúng ta đừng quá say mê, tham đắm vào xác thân này mà làm khổ luỵ cho nhau.

Sau khi chết không phải là hết hay mất hẳn, mà chết chỉ là hình thức thay hình, đổi dạng mà thôi, rồi tuỳ theo nghiệp báo tốt, xấu của mỗi người đã gieo tạo trong hiện tại, mà cho ra kết quả trong tương lai.
 
Thế gian này không có gì là mất hẳn dù là hạt bụi, hạt cát, chúng chỉ thay hình đổi dạng. Hiểu được lý vô thường để mọi người chúng ta sống có ý nghĩa hơn, làm được nhiều điều thiện lành, tốt đẹp, luôn sống có ích cho mình và người trong hiện tại và mai sau.
 
Hiểu rõ thế gian là vô thường để chúng ta bớt vướng mắc, không trôi theo mê lầm và tích cực sống vươn lên chứ không tiêu cực buông xuôi theo nó. Phải luôn chộp lấy thời cơ hoàng kim để tiến lên. Xem thêm: Tìm hạnh phúc trong cái "vô thường" của Phật giáo
 
Vậy, tất cả thế gian là vô thường không có gì bền chắc, không có gì để nắm bắt, chấp chặt, thấy được như vậy thì cuộc sống chúng ta cởi mở và gần với nhau hơn. Biết cuộc đời vô thường thì bớt làm khổ nhau.
 
Nếu muốn được sống với một tâm thức an bình trong những giây phút cuối cùng trước khi lìa đời thì người tu tập phải chuẩn bị suốt cả đời mình, và ngay trong những giây phút cuối cùng ấy phải tập trung tâm thức hướng vào một cảm tính nhân từ thật sâu xa, hoặc hướng vào mối dây tình cảm giữa người thầy và môn đệ, hoặc là vào Tánh Không và Vô Thường, hầu giúp mình tái sinh trong một hoàn cảnh tốt đẹp hơn

 

3 điềm báo nghiệp chướng đã được tiêu trừ, hóa giải oan khiên nhiều kiếp theo lời Phật dạy

 Nhiều người tự hỏi mình tích đức hành thiện, sám hối tu tập chăm chỉ mỗi ngày nhưng khi nào nghiệp chướng mới được tiêu trừ? Phật dạy rằng, có 3 điềm báo nghiệp chướng tiêu trừ rất rõ, oan khiên nhiều kiếp cũng được hóa giải, cuộc đời chuyển họa thành phúc. Nếu chỉ có 1 dấu hiệu này cũng xin chúc mừng bạn

1. Nghiệp chướng là gì?

Chúng sinh trên đời này không ai là hoàn toàn trong sạch. Lời Phật dạy rằng: 

comment leftPhàm còn xuống lên ba cõi, lăn lộn trong sáu đường, thì không một loài nào được hoàn toàn trong sạch, không một giống nào dứt hết tội lỗi.
Lời Phật dạy
comment right
 
Thật thế, cõi đời này đã được gọi là cõi trần, thì làm sao chúng ta có thể hoàn toàn trong sạch được? 
Người xưa có câu "ở bầu thì tròn, ở ống thì dài"; vậy thì ở trong bụi tất phải lấm bụi. Bụi đời đã lâu đời lâu kiếp phủ lên thân, lên đầu chúng ta, thấm sâu vào từng cơ quan nội tạng của chúng ta. 
Nó che mờ mắt chúng ta, khiến ta không thấy được đường chánh. Nó làm chúng ta đục lòng, không thấy được chân tâm. 
 
Nếu muốn sống mãi trong cảnh bụi nhơ, muốn đắm mình trong tội lỗi, thì không nói làm gì. 
 
Nhưng khi chúng ta đã muốn được trong sạch thảnh thơi, muốn trút bỏ tội lỗi cho lòng được nhẹ nhàng, thư thái, thì tất nhiên chúng ta phải tìm phương pháp để trừ cho hết bụi bặm, tẩy trừ cho hết nghiệp chướng của bản thân.
 
Vậy nghiệp chướng là gì?
 
Nghiệp chướng vốn là khái niệm xuất phát trong đạo Phật, được xuất hiện trong bài giảng kinh của Phật giáo.
 
Theo giáo lý nhà Phật, nghiệp chướng được ghép bởi từ "nghiệp" và từ "chướng".
 
- Nghiệp có nghĩa là khởi đầu, sự tạo nghiệp còn tùy vào hành động và từng trường hợp để phân định.
 
Cuộc sống luôn có luật nhân quả, khi tạo nghiệp thiện, cuộc sống sau này sẽ tự sinh ra những điều may mắn, tốt lành. Nhưng một khi đã là nghiệp xấu, để không gây ra những hệ lụy về sau thì cần phải giải nghiệp.
 
Phật dạy yếu tố chính tạo nghiệp không ngoài ba cửa: thân, khẩu và ý. Tâm chúng ta khởi những tư tưởng động niệm gọi là ý nghiệp; miệng chúng ta phát ra ngôn ngữ là khẩu nghiệp; thân chúng ta tạo tác các việc gọi là thân nghiệp
Vì thế nhìn chung, nghiệp được tạo ra từ chính suy nghĩ, tư tưởng, lời nói, hành động của chính chúng ta. Đó là tạo nghiệp. Sau khi tạo nghiệp gây ra kết quả, hậu quả đó cũng được gọi là nghiệp. Nghiệp đã phát sinh có kết quả sẽ sinh ra chướng ngại về sau. 
 
- Chướng nghĩa là chướng ngại. Chướng ngại ở đây là những vật cản, ngoại cảnh tác động khiến chúng ta tạo tác tạo nghiệp. 
 
Từ "chướng" dù đứng sau nhưng theo nghĩa thì chướng phải có trước, có chướng tứ, có sự tác động từ bên ngoài thì con người ta mới tạo nghiệp.
 
Nói gọn lại, nghiệp chướng chính là ý niệm: ý niệm thiện chính là nghiệp thiện; ý niệm ác chính là nghiệp ác. 
 
Ý niệm vì chúng sinh là niệm thiện, niệm này là nghiệp thiện. Ý niệm chỉ vì bản thân mình là niệm ác, niệm này là nghiệp ác.
 
Muốn giải trừ nghiệp chướng thì con người phải luôn có trí tuệ sáng suốt và tinh thần kiên định. Như vậy bạn mới có thể đưa ra quyết định một cách sáng suốt, quyết đoán. 
 
Con người chúng ta cần cẩn trọng trong cả suy nghĩ, lời nói, hành động hàng ngày để tránh gây ra nghiệp xấu và hậu quả sau này.
 

2. Điềm báo nghiệp chướng tiêu trừ theo lời Phật dạy

Theo giáo lý nhà Phật, việc tiêu giải trừ nghiệp sẽ làm cho tâm tính con người được trong sạch, trừ cho hết bụi bặm, tẩy cho hết tội lỗi ở trong đời hiện tại và đồng thời cũng tiêu trừ những tội ác trong những đời quá khứ.
 
Khi đã giải được nghiệp chướng, lòng sẽ thấy thanh thản, dứt được tội, phước cũng sinh ra, tâm hồn được an yên vui sống.
 
Đó là lý do ai cũng muốn cố gắng thành tâm sám hối, tu tập tích đức để có thể sớm tiêu trừ nghiệp chướng.
Bởi nguyên nhân khiến chúng ta đau khổ chính là do nghiệp chướng của chúng ta quá nặng. Cũng theo đạo Phật, chịu khó chịu khổ đau thực chất cũng đang là tiêu trừ nghiệp chướng. Chỉ có trải qua càng nhiều đau khổ thì mới có thể hưởng được nhiều phước hơn.
 
Nhiều người tự hỏi mình tích đức hành thiện, sám hối tu tập chăm chỉ mỗi ngày nhưng khi nào nghiệp chướng mới được tiêu trừ? 
 
Phật dạy rằng, có 3 điềm báo nghiệp chướng tiêu trừ rất rõ, oan khiên nhiều kiếp cũng được hóa giải, cuộc đời chuyển họa thành phúc. Nếu chỉ có 1 trong những dấu hiệu này cũng xin chúc mừng bạn!
 

2.1. Thấy vận khí thay đổi

 
Nếu bạn thường gặp xui xẻo trong quá khứ và thời gian gần đây vận may của bạn bắt đầu được cải thiện, điều này có nghĩa là nghiệp chướng của bạn đã và đang có dấu hiệu giảm bớt. 
 
Mọi rắc rối, đen đủi của đời này đều là hậu quả từ "ác nhân" mà bạn đã gieo trong quá khứ.
 
Việc bạn chấp nhận và chịu đựng được hậu quả xấu đó sẽ giúp giảm bớt ác nghiệp, nghiệp chướng cũng sẽ tiêu trừ.
Con người khi đối diện với việc phải chịu thiệt chịu khổ thì trong tâm thường lập tức phản ứng tức giận bất bình. Tuy nhiên họ lại không biết rằng chịu thiệt và bao dung chính là đang nuôi dưỡng nội tâm an hòa, tính phúc đức sâu dày cho bản thân và con cháu đời sau.
 
Trải qua khổ nạn trên trần thế này không phải là điều xấu, khổ nạn có thể giúp bạn tiêu trừ nghiệp chướng để yên tâm vui sống, chuyển phúc thành họa. Cho nên đừng quá lo lắng hay tránh né.
 
Đạo Phật dạy rằng: “Hưởng phúc chính là tiêu phúc, chịu khổ mới là tiêu trừ khổ nạn.” Chịu đựng gian khổ là tiêu nghiệp; hưởng phúc, hưởng tài lộc chính đang tiêu hao tài lộc.
 
Khi nghiệp chướng nhẹ bớt thì vận may sẽ trở nên tốt hơn. Vận khí thay đổi theo chiều hướng tốt hơn thì đừng chỉ biết hưởng phước mà phải tích phước. Còn nếu chỉ chăm chăm hưởng phúc thì sớm muộn gì phước đức cũng tiêu tan hết.
 

2.2. Thấy ít phiền não hơn

 
Nếu bạn thấy những lo lắng, phiền não gần đây không còn quấy nhiễu và làm phiền tâm trí mình nữa, đây cũng là một trong những điềm báo nghiệp chướng tiêu trừ. Bởi nghiệp càng nặng thì bạn càng có nhiều lo lắng, thân tâm không lúc nào được yên ổn, mất ăn mất ngủ vì mải lo nghĩ.
 
Nghiệp chướng càng nặng thì càng dễ mờ mắt, si tâm vọng tưởng, mê muội, lúc nào cũng thích suy nghĩ điên đảo, không điều khiển được ý nghĩ của mình, luôn bị tà tâm của chính mình điều khiển và gây ra những hành động ác nghiệp.
 
Kinh Hoa Nghiêm Phật có câu: 

comment leftNhất thiết chúng sanh giai hữu Như Lai trí huệ, đức tướng, đản dĩ vọng tưởng, chấp trước nhi bất năng chứng đắc.
Kinh Hoa Nghiêm
comment right

Câu này có nghĩa là: tất cả chúng sanh đều có trí tuệ, đức tướng của Như Lai, nhưng do vọng tưởng, chấp trước mà không thể chứng đắc.
 
Nghiệp chướng sẽ gây ra những chướng ngại đức năng tâm tánh vốn có của bản thân. 
 
“Vọng tưởng” phát triển thì trở thành “sở tri chướng” (trở ngại của tri thức), trở thành tri kiến; chính là ý nghĩ sai lầm, kiến giải sai lầm. 
 
“Chấp trước” phát triển thì trở thành “phiền não chướng” (trở ngại của phiền não). Tham, sân, si, mạn, nghi thì trở thành chất độc. 
 
Hiện tượng nghiệp chướng tiêu trừ chính là tâm thanh tịnh. Không có phiền não nữa, không có vọng tưởng nữa thì nghiệp chướng tiêu trừ.
 
Nếu vọng tưởng thật sự hết rồi thì đó mới thật là tiêu nghiệp chướng. Nếu vẫn còn suy nghĩ đủ thứ, thì nghiệp chướng của bạn cũng chưa được tiêu trừ. 
 
Khi nghiệp của một người bắt đầu giảm đi, trạng thái tinh thần của người đó sẽ được cải thiện, những vọng tưởng và phiền não sẽ giảm bớt, tâm trí của người đó sẽ ngày càng trở nên thanh tịnh và bình yên.
 
Như chư kinh đã dạy:

comment leftNghiệp của chúng sinh không mất đi dù sau hàng trăm đại kiếp. Nghiệp sẽ tích lũy và chín muồi khi nhân duyên đầy đủ.
Kinh Phật
comment right
 
Bất kỳ nghiệp nào phát sinh từ tham, sân, si đều là nghiệp bất thiện. Do đó, bạn phải từ bỏ tất cả những nghiệp bất thiện bắt nguồn từ tham, sân, si. Đồng thời, phải trưởng dưỡng càng nhiều những thiện nghiệp càng tốt thì mới mong sớm tiêu trừ nghiệp chướng của bản thân.

Nghiệp chướng tiêu trừ
 

2.3. Thấy sức khỏe được cải thiện

 
Nghiệp chướng sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của chúng sinh. 
 
Nghiệp chướng nặng hay nhẹ sẽ thể hiện qua thể trạng của một người. Nghiệp chướng càng nặng thì cơ thể càng dễ sinh bệnh. Khi nghiệp chướng thuyên giảm, cơ thể sẽ từ từ phục hồi và ngày càng khỏe mạnh hơn.
 
Theo giáo lý nhà Phật, căn gốc bệnh tật của tất cả chúng sinh, bệnh đau tuy nhiều, quy nạp nguyên do chỉ có ba loại.
 
- Loại thứ nhất là bệnh sinh lý do đi đứng ăn uống không điều độ. Người xưa thường nói “bệnh từ miệng vào”, chúng ta ăn uống không vệ sinh, không khoa học; ở, ăn mặc không lưu ý nên bị cảm mạo phong hàn. Những thứ bệnh này thuộc về sinh lý cần tìm bác sĩ chẩn đoán trị liệu.
 
- Loại bệnh thứ hai, là do oan gia trái chủ tìm đến thân. Loại bệnh này không thuộc sinh lý, thuốc thang sẽ không có hiệu quả, thầy thuốc cũng không thể trị hết. 
 
Chỉ có phương pháp duy nhất, đó là hòa giải cùng oan gia trái chủ để họ tiếp nhận, đồng ý và rời khỏi. Cho nên pháp sự siêu độ thông thường dụng ý chính là hòa giải, tiếp nhận cũng có không ít. 
 
- Loại bệnh thứ ba là bệnh nghiệp chướng, không phải sinh lý cũng không phải oan gia trái chủ mà do chính mình tạo nghiệp quá nặng. Loại bệnh này rất phiền phức, thuốc thang không hiệu quả, siêu độ cũng không tác dụng. 
 
Đức Phật nói, loại bệnh do nghiệp chướng này gây ra chỉ có một phương pháp chữa trị, chính là chân thành sám hối. Bồ tát Phổ Hiền dạy chúng ta sám trừ nghiệp chướng, bệnh liền có thể hết. 
 
Trong Phật pháp, nếu biết được căn nguyên của bệnh này, hiểu được phương pháp đối trị, chúng ta không cần phải tốn nhiều tiền thuốc thang, quan trọng nhất phải dùng tâm chân thành sám hối, tụng kinh niệm Phật hồi hướng.
 
Thế nhưng điều trị vẫn là phương thức cần thiết. Nó có thể giúp chúng ta hồi phục sức khỏe, từ đó mới có đủ sức và thông tuệ để nơi nội tâm sám hối, đoạn ác tu thiện.
 
Trên đây là 3 điềm báo nghiệp chướng tiêu trừ theo giáo lý nhà Phật. Bạn có được mấy dấu hiệu trong đó?

Như vậy, nghiệp chướng là chướng ngại tích tụ lâu dài, muốn tiêu trừ thì phải tích phước lâu ngày, nghiệp chướng mới có thể dần dần tiêu biến. Cuộc đời khi đó cũng sẽ thuận lợi bình an, chuyển họa thành phúc, yên tâm vui sống mãi về sau

 

Vật phẩm cúng dường Phật: Hoa quả là "Nhân - Quả", nhang đèn truyền tín hiệu tâm linh

Chúng ta thường khuyên cúng dường chư Phật nhưng không mấy ai tìm hiểu những ý nghĩa các vật phẩm cúng dường tưởng như rất quan thuộc.

1. Ý nghĩa các vật phẩm cúng dường Phật


Cúng dường hoa - Tu "Nhân"


Hoa là đại biểu cho nhân, ở định luật nhân quả vì có hoa rồi mới có quả. Thế gian hay Phật pháp đều không rời luật nhân quả.

Dâng hoa cúng dường Tam bảo chính là cơ hội để mình học từ hoa những bài học vô thường, hương thơm đức hạnh, khéo nói thì phải khéo làm… Từ việc dâng hoa cúng dường thường ngày, nếu khéo tác ý thì việc cúng dường ấy cũng trở thành một pháp tu thiết thực, mang đến an lạc cho hàng Phật tử.

Hãy học những hạnh lành của các ngài để noi theo tu tập. Tu phải hành, cũng giống như nói là phải làm, chứ nói mà không làm thì lời nói vô dụng, không đem đến kết quả hay lợi ích chi cả, ví như hoa có sắc nhưng chẳng có hương thơm.

Cho nên cúng hoa là đại biểu cho việc tu nhân, chúng ta phải nhớ đến việc tu nhân thiện, tương lai sẽ được quả báo thiện. 
 

Cúng dường quả - Kết "Quả" từ tu hoa


Quả là đại biểu cho quả báo, là điều mà chúng ta mong cầu. Muốn có quả tốt chúng ta phải biết tu trồng hoa tốt. Trong Phật pháp Đại thừa, hoa được hiểu là đại biểu cho lục độ: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ.

Cúng quả tượng trưng cho kết quả, quả báo từ việc tu hoa Lục độ mà thành. Phật tử thường thực hành hạnh bố thí đến mọi người, mọi loài thì quả báo đối với bản thân là phát tài, thông minh, mạnh khỏe, sống thọ. Đối với mọi người xung quanh là việc đem lại niềm vui, niềm hạnh phúc.
 
Giữ được hạnh trì giới, thì thân – khẩu – ý được thanh tịnh, an lạc, ngăn ngừa được các hạnh nghiệp xấu ác, được mọi người xung quanh hoan hỷ tin tưởng, kính trọng.

Phật dạy: “Bệnh từ miệng vào, họa từ miệng ra”. Hiện nay, ngoài xã hội có rất nhiều loại bệnh kỳ lạ, những cuộc xảy bất hòa, chiến tranh đều do bởi cửa miệng mà ra.
 
y nghia cac vay pham cung duong
 
 
 
 
 

Thắp hương - Truyền tín hiệu linh thiêng



Hương hay nhang cũng là một biểu hiện của Phật pháp. Đốt nhang là phương pháp nhắc nhở chúng ta học tập, nghĩ đến việc tu giới, tu định, tu tuệ. 

Ý nghĩa người Việt Nam thường thắp ba nén hương như sau: Ba nén nhang thể hiện ý nghĩa là Tâm nhang (lòng thành), Giới nhang (theo lời răn dạy của Phật thánh tổ đường) và Định nhang (tuyệt đối không thay lòng đổi dạ).

Ba loại hương này thuộc năm phần pháp thân cùng hai loại nữa là giải thoát và giải thoát tri kiến hương. Cho nên dùng phương pháp cúng dường là để tự nhắc nhở mình tu học giới, định và tuệ.
 

Cúng đèn (nến, dầu) - Dùng thân làm tấm gương sáng


Đèn là ý tượng trưng cho ngọn đèn trí tuệ. Thời xưa thường dùng đèn dầu, đèn cầy, ý nghĩa của nó vô cùng thâm sâu.

Đèn giúp tịnh nghiệp vô minh, đặc biệt là xua tan bóng tối cõi trung ấm, đặc biệt cho người đang trong giai đoạn cận tử, 49 ngày sau khi chết. 

Nhất là đèn dầu, ngọn đèn ấy là ngọn đèn của chính mình, chiếu sáng cho tha nhân. Đó là phương pháp dạy chúng ta cầu trí tuệ, xả mình vì người, lấy trí tuệ, năng lực của chính mình mà phục vụ cho xã hội. Trợ giúp cho tất cả chúng sinh mà không cầu đền đáp, đó là phương pháp Phật dạy chúng ta.

6. Cúng nước - Tâm thanh tịnh


Nước trong là tượng trưng cho tâm thanh tịnh, bình đẳng. Cho nên, mỗi khi nhìn ly nước, chúng ta sẽ nhớ đến tâm chân thật, thanh tịnh, bình đẳng, vì vậy mới nói nước là vật phẩm cúng dường Phật quan trọng. 
 
Vì lý do này mà cúng nước là phương pháp cúng dường cực kỳ thù thắng. Không ai mang nước ra cúng mà băn khoăn ít nhiều, mắc rẻ. Nước là món dễ kiếm, bất cứ một ai, dù giàu hay nghèo, đều đủ khả năng cúng mỗi ngày. Đây là phương pháp tạo công đức dễ dàng nhất, lại không bị tâm lý tham sân si làm tổn hại công đức.

Chỉ cần nước sạch sẽ tinh khiết. Có thể đun sôi để nguội hoặc nước mưa, nước giếng, nước lọc đều được, không cúng nước nóng.

Hiểu đúng về việc đốt thân thể cúng dường chư Phật đau đớn nhưng có ý nghĩa cao đẹp
Đa số những người đốt thân thể cúng dường chư Phật tin rằng đó là sự cúng dường giá trị tâm linh cao lớn nhất không phải dễ dàng làm được nhưng mang lại hạnh

2. Cúng dường Phật bằng tâm sáng


Chúng ta phải hiểu rằng cúng dường là để tâm ta thanh tịnh, là ta được nhắc nhở về những bài học của Phật, Bồ Tát vì các Ngài không cần những thứ kể trên và ý nghĩa các vật phẩm cúng dường là trong con mắt người thường nhằm nhắc nhở bản thân noi gương Phật và Bồ Tát về cách sống, lối tu tập.

Chư Phật và Bồ tát có năng lực rất lớn, trí tuệ cao sâu vậy mà cũng không thể thay đổi được luật nhân quả, Phật và Bồ tát không thể giúp chúng ta thăng quan phát tài, chỉ có thể dạy chúng ta phương pháp tu học. Chúng ta nếu hiểu được rồi nương theo đó mà tu học.
 
dang hoa cung duong duc Phat
 
Chớ nên cúng dường xuất phát từ tâm tham, ví dụ như một người đệ tử mua một cái chuông thật đắt để cúng dường sư phụ và chỉ mong nhìn thấy sư phụ có dùng cái chuông của mình chứ không phải của người khác. Nếu sư phụ mang chuông tặng cho người khác, chắc chắn trong bụng sẽ không vui, nghĩ sao cái chuông mình tặng mà Thầy lại nỡ lòng đem cho người khác.

Tất cả mọi trạng thái tâm lý này rất quen thuộc với chúng ta, mặc dù đã cúng dường nhưng vẫn tiếp tục giữ làm của mình, không xả được tâm lý tiếc lẫn. Chính tâm lý tiếc lẫn này sẽ khiến công đức bị chiết giảm trầm trọng, thậm chí không còn công đức gì lại còn tạo thêm ác nghiệp..

"Nhân chi sơ tính bản thiện" nhưng chúng ta do vô minh nên có vọng tưởng, chấp trước và phân biệt. Chính nguyên nhân này mà hàng ngày chúng ta dễ nổi sân hận, hân biệt, vọng tưởng và chấp trước, thương ghét, giận hờn.
 
Vì vậy, Phật pháp dạy cho chúng ta phương pháp nuôi dưỡng thân tâm. Đến như phước báo cũng vậy, người giàu sang có thể đạt được hạnh phúc mỹ mãn, người nghèo hèn cũng có thể đạt được hạnh phúc tương đồng, và người người cũng đều có thể đạt được hạnh phúc như vậy.
 
Chúng ta gieo nhân gì nhất định sẽ thọ quả ấy, đạo lý này tuyệt đối không sai. Nếu đời quá khứ và trong hiện tại, chúng ta không chịu tu nhân, lại muốn phát tài thì tài đâu mà có!

Phật, Bồ tát không thể nào thay đổi quy luật tự nhiên, chính chúng ta đã gieo nhân bố thí, khi nhân duyên đến giai đoạn chín mùi, tự nhiên chúng ta có thể phát tài mà chẳng phải do Phật, Bồ tát hay thiên thần linh hiển.

Vì thế, cúng dường là điều tốt nhưng cẩn thận kẻo bị khác lừa bởi những kẻ tham lam, nên hiểu đơn giản cúng dường Phật và Bồ tát chỉ là một pháp tượng trưng, không phải là nhu cầu.
 
Chúng ta dùng những vật phẩm cúng dường là từng giây từng phút nhắc nhở chúng ta, ngày ngày tiếp xúc ngoại cảnh lục trần phải luôn luôn niệm niệm tỉnh giác, không bị mê hoặc, chính mà không tà, tịnh mà không nhiễm.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.