bài viết trong chuyên mục "giácngộ"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn giácngộ. Hiển thị tất cả bài đăng


Nhân duyên vợ chồng, cha mẹ và con cái



duyên cha mẹ con cái
duyên cha mẹ con cái
Đức Phật thường nói rằng nếu không nợ nhau thì làm sao gặp gỡ. Cùng khám phá nghiệp quả, nhân duyên vợ chồng, cha mẹ và con cái
Có thể người vợ ở kiếp này là người bạn chôn kiếp trước, tới trả nợ cho bạn. Đứa con trai ở kiếp này, là chủ nợ của bạn ở kiếp trước, để đòi món nợ chưa trả. Đứa con gái ở kiếp này, là người tình ở kiếp trước, tới vì tình cảm chưa dứt. Người tình kiếp này, là vợ chồng của kiếp trước tới nối tiếp phần duyên phận chưa dứt. Hồng nhan tri kỷ của kiếp này là anh em của kiếp trước tới chia sẻ những tâm sự chưa nói hết. Người giàu có kiếp này là người giàu lòng thiện kiếp trước, tới nhận phần công đức đã phát ra từ kiếp trước….. Đây không phải là mê tín mà là nhân quả luân hồi, là số kiếp. Phật thường nói rằng nếu không nợ nhau thì làm sao gặp gỡ
Bất cứ việc gì, bất cứ người nào, trong gia đình (ngay cả ngoài gia đình, bề trên, cấp dưới…) phàm làm khiến cho ta tổn hại, đều phải gánh chịu thọ báo. Gia quyến lục thân, đều do tứ nhân tương tụ (tứ nhân là trả nợ, đòi nợ, trả ơn và báo oán) bất luận chúng ta thọ báo bao nhiêu oan ức, không những không được sân hận, ngược lại phải sám hối cho nghiệp chướng của chính ta, tội nghiệp của quá khứ hay đời trước nay phải trả, nếu đem lòng sân hận, làm sao không tạo thêm nghiệp mới, “Chúng sanh oan oan tương báo đến bao giờ mới hết, nếu biết lấy ân báo oán thì oán liền tiêu trừ”.
Tất cả mọi nơi đều có oan gia trái chủ đến gây nạn (làm khó dễ) chúng ta phải phản tỉnh lại, tại sao họ không tìm người khác để gây phiền phức, đều do trong quá khứ hay đời quá khứ, chúng ta có làm điều gì sai lỗi với họ, ta phải tu nhẫn nhục, làm nghịch tăng thượng duyên, lúc đó mọi oán thù trong quá khứ nhờ đó mà được tiêu trừ.
Có rất nhiều người kết hôn nhưng suốt đời chẳng có con, vì sao?
Chẳng có duyên! Con cái phải có duyên với quý vị thì chúng mới đầu thai vào nhà quý vị. Chúng nó chẳng có duyên với quý vị, sẽ chẳng đầu thai vào nhà quý vị. Nói cách khác, chúng nó đi đầu thai, phải tìm đối tượng. Quý vị mong cầu chúng nó, chưa chắc chúng nó đã để ý tới quý vị! Tìm đối tượng nào? Có mối quan hệ trong đời quá khứ. Trong kinh, đức Phật đã nói bốn loại nhân duyên.
1) Loại thứ nhất là báo ân. Trong quá khứ (hay đời quá khứ), đôi bên có ân huệ với nhau, lần này chúng nó lại thấy quý vị, bèn đầu thai vào nhà quý vị, sẽ trở thành con hiếu, cháu hiền, đến để báo ân tình xưa.
2) Loại thứ hai là báo oán. Trong quá khứ (hay đời quá khứ), quý vị kết cừu hận với họ. Gặp gỡ lần này, họ đến làm con cái quý vị, mai sau lớn lên sẽ thành đứa con khiến cho gia đình suy bại, khiến cho quý vị nhà tan, người chết, nó đến để báo th quý vị..! Vì thế, chớ nên kết oán cừu c ng kẻ khác. Kẻ oán cừu bên ngoài có thể đề phòng, chứ họ đến đầu thai trong nhà quý vị, làm cách nào đây? Quý vị hại người đó hay hại chết kẻ đó, thần thức kẻ ấy sẽ đến làm con cháu trong nhà quý vị. Đó gọi là “con cháu ngỗ nghịch” khiến cho nhà tan, người chết..!
3) Loại thứ ba là đòi nợ. Đời quá khứ (hay đời quá khứ), cha mẹ thiếu nợ chúng nó, chúng nó đến đòi nợ. Nếu thiếu nợ ít, nuôi hai, ba năm, con bèn chết. Nếu thiếu nợ nhiều, đại khái là nuôi đến khi tốt nghiệp đại học, sắp có thể làm việc bèn chết mất. Nợ đã đòi xong, nó bèn ra đi.
4) Loại thứ tư là trả nợ. Con cái thiếu nợ cha mẹ quá khứ (hay đời quá khứ) hiện tai hay đời này gặp gỡ, nó phải trả nợ. Nó phải nỗ lực làm lụng để nuôi nấng cha mẹ. Nếu nó thiếu nợ cha mẹ rất nhiều, nó cung phụng cha mẹ vật chất rất trọng hậu. Nếu thiếu nợ rất ít, nó lo cho cuộc sống của cha mẹ rất tệ bạc, miễn sao quý vị chẳng chết đói là được rồi. Hạng người này tuy có thể phụng dưỡng cha mẹ, nhưng thiếu lòng cung kính, chẳng có tâm hiếu thuận. Báo ân bèn có tâm hiếu thuận, chứ trả nợ chẳng có tâm hiếu thuận. Thậm chí trong lòng chúng nó còn ghét bỏ, chán ngán cha mẹ, nhưng vẫn cho quý vị tiền để sống, nhiều hay ít là do xưa kia quý vị thiếu chúng nó nhiều hay ít.
* Nhưng cũng có thể họ có nhiều duyên nợ với chúng sanh nhưng lại đi gieo nhân không con (như phá thai, sát sanh, giết người…) ở quá khứ hay tiền kiếp nên hiện tại lại phải trả nghiệp nên không có con. hoặc họ muốn có con thì phải sám hối, và làm thật nhiều việc tốt, hướng thiện và phóng sanh… Nói chung thì đường đi của Luật nhân quả rất phức tạp khó ai thấu hiểu hết.
Đức Phật dạy rõ chân tướng sự thật, người một nhà là do bốn loại quan hệ ấy mà tụ hợp. Gia đình là như thế, mà người trong một họ cũng là như thế. Ân, oán, nợ nần nhiều, bèn biến thành cha con, anh em một nhà hay ân oán, nợ nần ít hơn cũng có thể biến thành thân thích, bầu bạn. Do đó, giữa người và người với nhau đều có duyên phận. Quý vị đi đường, một kẻ xa lạ gật đầu mỉm cười với quý vị cũng là do duyên phận xưa kia. Thấy một kẻ xa lạ, vừa thấy kẻ ấy liền cảm thấy gai mắt cũng là do duyên phận trong quá khứ.
Phải hiểu rõ chân tướng sự thật, chúng ta khởi tâm động niệm chớ nên không cẩn thận, ngàn muôn phần đừng kết oán cừu với hết thảy chúng sanh, đừng nên có quan hệ nợ nần với hết thảy chúng sanh. Thiếu nợ phải trả cho sạch nợ, để tương lai hay đời sau khỏi phải đền trả nữa. Chuyện này rất phiền toái! Giáo huấn của thánh hiền Nho và Phật đều dạy chúng ta phải hóa giải ân oán. [Hóa giải] sẽ là phương pháp tốt lành nhất và viên mãn nhất. Chỉ có Nho và Phật mới có thể làm được, những thứ giáo dục khác trong thế gian chẳng thể thực hiện được!
Chúng ta cùng tìm hiểu xâu thêm về các mối quan hệ giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái được trích từ “Những bí ẩn cuộc đời” để tham khảo thêm về vấn đề này nhé.
– Trong nhiều thế kỷ, gia đình là một tổ chức riêng biệt mà người gia trưởng là người cha, hay người mẹ, theo phong tục ở một vài xứ. Những tổ chức gia đình ấy vẫn luôn luôn tồn tại ở khắp nơi. Theo một quan niệm duy vật, người ta coi những trẻ con như là một sở hữu của cha mẹ của chúng: Chúng sinh ra do bởi sự mang nặng đẻ đau và hy sinh của người mẹ; chúng được nuôi dưỡng do bởi sự làm lụng khó khăn vất vả của cha mẹ. Nói về phương diện vật chất, những người làm cha mẹ có một thể chất khỏe mạnh hơn, già dặn hơn thông minh hơn những đứa con; vì lẽ đó họ có quyền ngự trị trong gia đình.
Nhưng nói về phương diện tâm linh, thì không hề có vấn đề cha mẹ là tuyệt đối cao cả hơn con cái vì tất cả sinh linh trong Trời Đất đều là những đơn vị bình đẳng của toàn thể một cơ cấu rộng lớn. Trên bình diện tâm linh, cha mẹ không có sở hữu con cái, thậm chí cũng không phải là những người sáng tạo ra con cái. Họ chỉ là những phương tiện cho những linh hồn của những đứa con mượn chỗ đầu thai ở cõi thế gian. Một sự vận hành mầu nhiệm trong cơ thể họ khiến cho họ giao hợp với nhau trong một lúc và làm vận chuyển một cơ cấu cũng không kém mầu nhiệm, mà kết quả là sự cấu tạo và sinh sản ra một thể xác hài nhị Cái thể xác đó trở nên chỗ nương ngụ của một linh hồn khác cũng tiến hóa như chúng ta. Linh hồn ấy nhất thời bị yếu kém vì cơ thể còn non nớt và chưa thể biết nói ngay được, trách niệm và bổn phận của chúng ta trong sự nuôi dưỡng cho nó lớn lên, đều là những kinh nghiệm rất quý báu cho ta. Đó là những kinh nghiệm để giúp ta tiến hóa trên con đường tâm linh và khai mở đức hy sinh và bác ái, với một tấm lòng thương cảm và trìu mến sâu xa thâm trầm.
Những sự việc tốt lành kể trên chỉ xảy ra khi người làm cha mẹ không có lòng chiếm hữu và áp chế con cái dưới một hình thức nào đó. Trong quyển “The Prophet”, ông Khalil Gibran viết như sau:
“Con cái của anh sinh ra, không phải là của anh.
Chúng nó chỉ là con cái của “Sự sống bất diệt trường tồn”
Chúng nó do bởi anh sinh ra, chớ không phải là của anh. Và tuy chúng sống chung với anh trong một nhà, nhưng chúng không thuộc quyền sở hữu của anh. Anh chỉ là những cái cung nhờ đó những đứa con anh lấy đà vùng vẫy, chẳng khác nào như mũi tên bắn ra tận bốn phương trời. Người Cung Thủ kéo sợi dây cung là nhằm mục đích hòa vui, và trong khi Người yêu cái mũi tên bay, Người cũng yêu cái cung còn ở lại.”
Đối với con cái, những bậc phụ huynh không nên có một thái độ áp chế quá vô lý của kẻ bề trên, hoặc một thái độ ganh ghét ruồng bỏ. Một thái độ bình thản ôn hòa là thái độ thích nghi nhất của người cha mẹ đối với con cái mà họ có bổn phận nuôi dưỡng chăm nom, dạy dỗ cho thật tốt. Họ chỉ có được thái độ ấy khi nào họ hiểu biết điều chân lý căn bản này, là tất cả chúng sinh, tất cả mọi sinh linh đều bình đẳng với nhau. Nói theo danh từ thường dùng trong những cuộc soi kiếp của ông Cayce, những người làm cha mẹ là những con “Kinh vận hà” để cho nguồn sinh hoạt đi xuyên qua, và nhờ đó những linh hồn có phương tiện để đầu thai ở cõi trần. Bởi vậy những cặp nam nữ sắp sửa thành hôn được khuyên nhủ và dặn dò về tánh cách thiêng liêng của sự giao hợp giữa vợ chồng. Quan điểm này đúng với quan điểm triết học Ấn Độ cho rằng vấn đề tình d.ụ.c và sinh l.ý giữa nam nữ có một ý nghĩa thiêng liêng và cao quý. Nhưng bất hạnh thay, khoa Thần học cổ truyền của đạo Gia Tô lại coi mọi vấn đề liên quan đến sự sinh dục như là dấu vết của tội lỗi. Do một sự hiểu lầm đáng tiếc về biểu tượng diễn tả trong Chương La Genèse của bộ Kinh, toàn thể nhân loại bị coi như là kết quả của “Tội lỗi nguyên thủy” gây ra bởi ông Adam và bà Evẹ Tuy rằng lễ hôn phối hợp pháp hóa sự giao hợp giữa vợ chồng, người ta vẫn nghĩa rằng con cái được sinh sản ra trong vòng tội lỗi. Đó là những quan niệm sai lầm về vấn đề sinh lý tự nhiên của cơ thể con người theo như ý muốn của Thượng Đế.
Quan niệm sai lầm ấy có những hậu quả tâm lý rất tai hại, gây nên những sự dồn ép sinh l.ý, ý niệm tội lỗi và những xung đột tâm lý thuộc về loại trầm trọng và tê liệt nhứt. Tuy nhiên, giải pháp đối tượng của vấn đề này không phải là tự do luyến ái, hay tự do thỏa mãn d.ụ.c tính. Giải pháp thích nghi là sự thông hiểu một cách tường tận rằng cơ năng sinh sản sáng tạo của con người là một quyền năng thiêng liêng. Một cuộc soi kiếp nói: “Ái tình và sự giao hợp với một thể xác tinh khiết là cái kinh nghiệm thiêng liêng cao quý nhất một linh hồn có thể thâu thập trong một kiếp sống ở cõi trần” Quan điểm này được nhấn mạnh trong nhiều cuộc soi kiếp, và người ta nhận thấy nó trong những trường hợp mà một người phụ nữ muốn biết xem nàng có thể nào có con được không? Trong những trường hợp đó đương sự thường yêu cầu một cuộc khám bệnh rằng Thần Nhãn để xem nàng có thể tự chuẩn bị bằng cách nào để thụ thai và sinh sản.
Trong những cuộc khán bệnh đó, những phép điều trị về cơ thể nêu ra rất nhiều, nhưng không có gì khác thường. Có khác chăng là sự soi xét bằng Thần Nhãn giúp cho ông Cayce biết rõ nhu cầu của mỗi cơ thể riêng biệt của mỗi người t y theo trường hợp. Tuy nhiên, những cuộc soi kiếp cũng nhấn mạnh về tánh cách quan trọng của sự chuẩn bị tư tưởng và tâm linh, vì thái độ tinh thần của người mẹ sẽ hấp dẫn những linh hồn cùng có một tâm trạng tương tự, theo luật “Đồng thinh tương ứng; đồng khí tương cầu.”
Cuộc soi kiếp nói: Linh hồn này hãy nên biết rằng sự chuẩn bị tư tưởng và tâm linh là một việc có tính cách sáng tạo, cũng cần thiết như sự chuẩn bị về thể chất, có lẽ còn cần thiết hơn.
Đối với một người đàn bà ba mươi sáu tuổi hỏi ông rằng bà ấy còn hy vọng có con hay không, cuộc soi kiếp nói: “Bà hãy tự luyện mình thành một khí cụ tốt lành hơn về mọi mặt thể chất, trí não, và tâm linh. Người đời thường có thói quen chỉ xem sự thụ thai như một việc làm thuộc về thể chất mà thôi.”
Một cuộc soi kiếp khác nói: “Do sự giao hợp, con người có dịp tạo nên một đường vận hà để cho đấng Tạo Hóa có thể hành động xuyên qua nàng bằng quyền năng Sáng Tạo của Ngài. Vậy đương sự hãy cẩn thận coi chừng thái độ của mình và của người bạn trăm năm của mình khi các người tạo nên các cơ hội đó, vì linh hồn đầu thai vào làm con các người sẽ có một tánh tình tùy thuộc một phần nào ở thái độ của cha mẹ.”
Những cuộc soi kiếp cho biết rằng những mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái không phải do sự ngẫu nhiên tình cờ. Những sợi dây duyên nghiệp thường đã có sau từ những kiếp trước giữa người con với người cha và cả người mẹ hoặc chỉ người cha hay người mẹ. Trong những trường hợp rất hiếm mà sợi dây liên lạc đó không có, thì tình trạng gia đình tạo nên cái hoàn cảnh thích ứng với nhu cầu tâm lý của đứa trẻ. Những hồ sơ Cayce cho biết rằng vài đứa trẻ có một sợi dây duyên nghiệp với người cha mà không có với người mẹ, hoặc đảo ngược lại, có duyên nghiệp với người mẹ mà không có người cha Trong những trường hợp đó, thường có một trạng thái dửng dưng giữa đứa con với người cha hay người mẹ mà nó mới quen biết lần đầu tiên trong kiếp này. Những trường hợp dưới đây chỉ cho ta thấy một cách đặc biệt nhiều mối liên hệ khác nhau giữa cha mẹ và con cái.
Hai mẹ con người kia có một tình mẫu tử rất khắn khít: Họ đã là hai mẹ con trong kiếp trước. Hai cha con người kia cũng có một tình phụ tử nồng nàn: Trong một kiếp trước họ đã là hai anh em trong một gia đình. Một người mẹ không hạp với con gái của bà: Họ chưa từng có sự liên hệ gì với nhau ở trong kiếp trước. Giữa một người con gái kia với người mẹ của cô ấy, chỉ có một sự dửng dưng lạnh nhạt; cuộc soi kiếp cho biết kiếp trước hai người là hai chị em ruột nhưng lại có một mối bất hòa trầm trọng: Hai người thường xung đột cãi vả lẫn nhau, và vẫn chưa hòa thuận trở lại. Hai cha con người kia kiếp trước là hai vợ chồng. Một người mẹ và con gái thường xung đột lẫn nhau: Trong kiếp trước, họ là hai bạn gái tranh dành nhau một người đàn ông và tranh dành địa vị. Trong hai mẹ con người, người con trai hay lấn át người mẹ: Trong kiếp trước, họ là hai cha con, với sự liên hệ gia đình trái ngược lại.
Những trường hợp đó chỉ rằng sự hấp dẫn của con cái đến với cha mẹ là do bởi sự hành động của nhiều nguyên tắc. Những nguyên tắc đó nhiều đều ẩn dấu đối với cặp mắt phàm của chúng ta Những hồ sơ soi kiếp của Cayce giúp cho ta có những tài liệu suy gẫm, nhưng không có đầy đủ chi tiết để cho ta có thể dịch ra thành một định luật nhất định.
Theo luật hấp dẫn, những người đồng thanh khí và giống nhau về tâm tình tánh chất thường rút lại gần nhau hơn. Nhưng đồng thời vì những lý do duyên nghiệp nợ nần hay nhân quả nào đó, những kẻ thù nghịch cạnh tranh nhau và tâm tính tánh chất đối chọi nhau thường cũng hay rút lại gần nhau. Một thí dụ điển hình là trường hợp một đứa trẻ được ông Cayce soi kiếp khi mới lên năm tuổi. Cuộc soi kiếp cho biết những đặc tính của đứa trẻ là thói ích kỷ, sự thờ ơ lãnh đạm và ngoan cố không chịu phục thiện khi y có lỗi. Y có những khả năng tiềm tàng của một nhà khảo cứu khoa học. Trong một kiếp trước, y là một nhà sưu tầm về tiềm lực của hơi nước như là một khí cụ sản xuất tinh lực. Ở một kiếp trước, y là một chuyên viên hóa học chế tạo cac loại chất nổ, trong kiếp trước nữa y là một chuyên viên ngành cơ khí và đi l i về dĩ vãng một kiếp nữa, người ta thấy y là một kỹ sư điện khí ở châu Atlantidẹ Bốn kiếp dành cho sự hoạt động tích cực về ngành khoa học thực dụng đã làm cho đương sự hoạt động tích cực về ngành khoa học thực dụng đã làm cho đương sự phát triển những khả năng đặc biệt, nhưng y lại quá thiên về giá trị của khoa học vật chất mà khinh rẻ giá trị của tình thương, đức tính mỹ lệ, và sự hợp nhất tâm linh của mọi loài vạn vật.
Bởi đó, y có một thái độ thản nhiên lạnh lùng đối với người chung quanh. Cuộc soi kiếp còn cho biết rằng đứa trẻ ấy sẽ thành công vẻ vang trong kiếp này nếu nó theo đuổi ngành kỹ thuật điện khí, hay cơ khí dùng sức mạnh của hơi nước, và gồm một công việc có dùng đến sự tính toán bằng phép đại số. Lời tiên tri đã tỏ ra hoàn toàn đúng. Đứa trẻ ấy bây giời đã trở nên một viên kỹ sư điện khí và những điểm chính trong tánh tình của y đều giống y như cuộc soi kiếp đã tiết lộ, tuy rằng y đã có một sự thay đổi tánh tình nhờ ảnh hưỡng của hoàn cảnh gia đình trong kiếp hiện tại.
Nếu nói rằng theo luật đồng khí tương cầu, những người giống nhau sẽ rút lại gần nhau, thì trong trường hợp này có lẽ đứa trẻ đã sinh ra trong một gia đình khoa học trí thức, mà người cha có lẽ là một kỹ sư và người mẹ là một giáo sư toán pháp ở một trường Đại Học chẳng hạn. Nhưng trái lại, y lại sinh ra trong một gia đình gồm những người nuôi lý tưởng vị tha, không có óc hoạt động thực tế. Người cha có óc tín ngưỡng tôn giáo và thích hoạt động xã hội; người mẹ tuy rằng bề xã giao hơi kém, nhưng có khuynh hướng hoạt động xã hội do ảnh hưởng của người chạ Người anh cả của đứa trẻ cũng là một người có lý tưởng vị tha, và sự hoạt động chính của y trong đời là giúp đỡ kẻ khác.
Xét về bề ngoài, thì sự đầu thai của một đứa trẻ như thế trong gia đình kể trên chưa thể nói là do nhân quả gây nên. Tuy nhiên, dường như có một nguyên tắc sửa đổi, chấn chỉnh những điều thiên lệch để đem lại sự thăng bằng trong tâm tính của một con người.
Có thể rằng linh hồn đứa trẻ đã nhận thấy sự khuyết điểm của mình và đã chọn lựa đầu thai vào một gia đình có lý tưởng vị tha giúp đời, để cho y có cơ hội phát triển khía cạnh vị tha bác ái trong tâm tính của y.
Trong kiếp hiện tại, đứa trẻ luôn luôn có dịp tiếp xúc với những người mà mục đích chính trong đời là phụng sự kẻ khác. Óc thực tế của y thường ảnh hưởng đến những người khác trong gia đình một cách lành mạnh, trái lại, lý tưởng vị tha của họ hằng ngày đều nhắc nhở cho y biết rằng ngoài ra những giá trị thực tế và vật chất của cuộc đời, còn có những giá trị đạo đức tâm linh. Tuy rằng kinh nghiệm đó không có đem đến một sự thay đổi hoàn toàn trong cái giá trị căn bản của cuộc đời y là khoa học thực dụng, nhưng nó đã ảnh hưởng đến con người của y bằng cách làm cho y trở nên bớt ích kỷ khô khan và trở nên cởi mở hồn nhiên hơn về mặt giao tế ngoài xã hội.
Như thế, việc chọn lựa hoàn cảnh để đầu thai dường như đã đạt được mục đích sửa đổi tâm tính và cuộc đới của y ít nhất là một phần nào. Những tài liệu hồ sơ Cayce chứng minh một cách đầy đủ rằng những linh hồn sắp sửa tái sinh trở lại cõi trần có một ít là được tự do trong việc chọn lựa hoàn cảnh và gia đình nào họ muốn đầu thai đây cũng có thể là duyên nghiệp hay nợ nần gì với người cha, người mẹ. Có vài bằng chứng chỉ rằng đối với những linh hồn kém tiến hóa, thì sự tự do chọn lựa ấy có giới hạn, nhưng nói chung thì sự lựa chọn cha mẹ để đầu thai dường như là một cái đặc quyền của mỗi linh hồn.
Người ta không dễ hiểu lý do tại sao một linh hồn lại cố tình chịu đầu thai vào một nhà ổ chuột tôi tăm trong ngõ hẻm, với những cha mẹ bần cùng khốn khó, một thể xác yếu đuối bệnh tật, và những hoàn cảnh bất lợi khác. Xét qua bề ngoài thì dường như một sự chọn lựa như thế có vẻ vô lý, nhưng nếu xét kỹ người ta thấy rằng điều ấy cũng có một lý do sâu xa về nhân quả – nghiệp báo nên họ mới bị đầu thai vào đó nhưng lại có khi một linh hồn cố ý chọn lựa một hoàn cảnh xấu xa bất lợi để làm phương tiện lấy đà, hầu có nỗ lực cố gắng vượt qua mọi chướng ngại và chiến thắng nghịch cảnh.
Có một điều lạ là sự tự do chọn lựa ấy dường như là có một ảnh hưởng đến tỷ lệ chết yểu của trẻ con. Nói chung thì khi sinh ra, một linh hồn có thể thoáng thấy một phần nào cái viễn ảnh cuộc đời tương lai của mình ở thế gian, khi y chọn lựa cha mẹ của y và hoàn cảnh để đầu thai. Nhưng vì con người còn có quyền xử dụng ý chí, tự do nên luật Tự Nhiên khiến cho y không thể nào biết trước tất cả mọi việc xảy ra trong tương lai. Sau khi đã chọn lựa cha mẹ và sinh ra ở thế gian, một linh hồn có thể nhận thấy rằng những người làm cha mẹ của y không ứng đáp lại đúng y như nguyện vọng của y sở cầu. Bởi đó, cái mục đích của y nhắm khi đầu thai vào làm con trong gia đình ấy đã hỏng, vì y đã gặp phải những hoàn cảnh khác hẳn, nên linh hồn bèn không muốn sống nữa và tự ý rút lui.
Dưới đây là một trường hợp một thiếu phụ mà cuộc soi kiếp cho biết rằng trong một kiếp trước, nàng đã bị chết yểu. Kiếp này nàng đầu thai trở lại một gia đình nọ do bởi sự hấp dẫn của người mẹ, nhưng sau khi sinh ra nàng được ít lâu thì người cha bắt đầu say sưa chè chén, trở nên thô lỗ cộc cằn và đánh đập vợ con. Thất vọng vì cảnh gia đình ấy, linh hồn đứa trẻ bèn quyết định không sống nữa và sau một cơn đau ốm vặt thuộc về bịnh trẻ con, nàng bèn từ giả cõi trần để trở về chốn cũ! Cuộc soi kiếp cho biết rằng những sự “Rút lui” như thế là những hiện tượng rất thông thường. Nếu như vậy, thì sự chết yểu của trẻ con, ít nhất trong vài trường hợp, có thể ví dụ như sư rút lui âm thầm của một khán giả đi xem hát, bị thất vọng khi xem một màn đầu không được hấp dẫn, bèn lẳng lặng đứng dậy bỏ ra về. Trong vài trường hợp như trường hợp kể trên, một sự rút lui như thế có thể là do sự lỗi lầm của những người làm cha mẹ; nhưng trong những trường hợp khác, nó chỉ là do sự xét đoán sai lầm của linh hồn đầu thai.
Đôi khi, sự chết yểu của một đứa con vừa sinh ra có thể được coi như một kinh nghiệm đau khổ cần thiết cho những người làm cha mẹ. Đứa con chỉ sinh ra có một lúc ngắn ngủi với một tinh thần hy sinh, để đem lại cho một bài học đau khổ mà họ cần dùng, và nhờ đó họ sẽ có cơ hội tiến hóa về tinh thần.
Một điểm lý thú khác đã được xác nhận rõ ràng và nhiều lần trong những tập hồ sơ của Cayce, là lúc thụ thai không phải là lúc nào linh hồn của đứa trẻ nhập vào trong bụng người mẹ. Những cuộc soi kiếp thường khuyên các bà mẹ có mang hãy giữ gìn tư tưởng trong thời kỳ thai nghén, vì những tư tưởng của người mẹ có thể ảnh hưởng đến cái bào thai, và quyết định một phần nào về loại linh hồn nào sẽ đầu thai vào làm cho con họ.
Về điểm này và nhiều điểm khác nữa, người ta cần có những cuộc sưu tầm bằng khả năng khiếu Thần Nhãn. Sự sinh sản không phải là một sự tình cờ, và việc một đứa trẻ lọt lòng mẹ để chào đời không phải là một điều giản dị như người ta có thể tưởng. Về vấn đề này cũng như bao nhiêu vấn đề khác trên địa hạt nhân sinh, những cuộc soi kiếp của ông Cayce đã tỏ ra vô cùng lý thú và hữu ích vì nó hé mở những chân trời mới lạ để dìu dắt những cuộc sưu tầm khảo cứu của người đời nay.
*Kết: Thực ra chỉ có những người nghiệp tương đối nhẹ mới có thể ước nguyện lựa chọn cha mẹ. Những người cực thiện sẽ đầu thai ngay về cõi lành (cõi trời), những người cực ác sẽ bị lôi kéo ngay vào các nơi xấu (địa ngục hay ngạ quỷ ), không thể tự mình quyết định nơi đầu thai.
Nói chung vẫn chủ yếu do duyên nghiệp của họ với người cha và người mẹ hoặc nghiệp người ấy đã gây tạo khi còn sống thế nào họ sẽ thác sinh về cõi giới tương ứng.
Bài trên chủ yếu nêu các vấn đề xảy ra trên thực tế, còn những việc sâu xa và các đường đi của duyên nghiệp hay nhân quả thì không thể dùng thuật thôi miên soi kiếp mà biết được vì rất phức tạp và còn rất nhiều nguyên do khác nữa, do đó cũng có những nhận xét chủ quan. Chúng ta đọc để tham khảo và suy ngẫm là chính, chứ không có bất kỳ một ai rõ được đường đi tường tận của Luật Nhân quả, nghiệp báo và luân hồi.
Xem thêm: Duyên vợ chồng | Đạo đức gia đình

5 vị thầy
Lạc quan là vị thuốc tốt cho cuộc đời của bạn, nó sẽ dạy bạn biết làm thế nào để đối mặt với cuộc sống!
Trên đường đời, mỗi bước đi đều không hề dễ dàng, sẽ luôn có những vấp váp, tổn thương… Ở mỗi giai đoạn, sẽ luôn có những vị “thầy” xuất hiện giúp bạn vượt qua. Họ không ở đâu xa, nhưng bạn nhất định cần nắm chắc.
1. Tri thức
Người thầy đầu tiên, là tri thức.
Tri thức chính là bảo bối của vận mệnh, nó sẽ dạy bạn làm thế nào để thay đổi cuộc sống của mình!
2. Cảm hứng
Người thầy thứ hai, chính là cảm hứng.
Cảm hứng là người thầy tốt nhất của bạn, nó sẽ dạy cho bạn cách để theo đuổi lý tưởng của riêng mình.
3. Nỗ lực
Người thầy thứ ba, chính là nỗ lực.
Nỗ lực giúp bạn tiến về phía trước. Nó sẽ dạy cho bạn biết rằng đằng sau thành quả đạt được là những giọt mồ hôi!
4. Lạc quan
Người thầy thứ tư là lạc quan.
Lạc quan là vị thuốc tốt cho cuộc đời của bạn, nó sẽ dạy bạn biết làm thế nào để đối mặt với cuộc sống!
5. Tự tin
Người thầy thứ năm là tự tin.
Tự tin là bạn đã thành công một nửa, nó sẽ dạy cho bạn biết rằng chỉ cần một chút tự tin + nỗ lực = thành công!
Hãy thử kiểm tra con đường nhân sinh của bạn, xem thử có phải đã từng nhận sự trợ giúp của 5 người thầy này hay không?
Năm vị “thầy” này lúc nào cũng xuất hiện trong tâm chúng ta, là một phần trong sinh mệnh của chúng ta, chính là để giúp chúng ta trở nên tốt đẹp hơn, vững vàng hơn trên con đường phía trước.


Câu hỏi 28: Giữ giới

Con bạch thầy! Tánh của các pháp vốn không vậy tại sao mình phải giữ giới?



Trả Lời:

Đây là câu hỏi cao trong Phật pháp nhưng ở đây thầy trích dẫn câu của cụ Tổ: ” Thực tế lý địa bất thọ nhất trần, vạn hạnh môn trung bất xả nhất pháp ”. Nghĩa là chỗ chân lý chân thực không có một mảy may, một pháp nào, nhưng tất cả thiện hạnh không bỏ một pháp. Lý không của Đạo Phật không phải là ngoan không, là không có gì. Mà lý không này là Chân Không Diệu Hữu, cho nên ai thâm nhập được cái không này mới dám nói đến cái không này, lúc đó lại là khác. Bây giờ bảo vạn pháp là không cho nên tôi không cần giữ giới, nhưng không cần giữ giới thì cũng đừng phạm giới phá giới. Không giữ giới lại phá giới đấy là có chứ đâu phải là không. Vạn pháp là không tôi cứ đi ăn thịt uống rượu, vậy là có chứ vì thấy có miếng thịt ngon để ăn chứ. Chỗ này rất sâu xa, chúng ta biết xưa nay thể tính của vạn pháp vốn không, nhưng tất cả các thiện pháp không bỏ một pháp nào. Muốn tu thành quả Phật phải như thế, chứ đừng nói chuyện học Bát nhã rồi nói các pháp là giai không tôi mặc kệ tôi không làm gì cả, nhưng đó lại là chấp, chấp không làm gì đấy cũng gọi là chấp đó gọi là chấp có. Chỗ chấp này rất phức tạp, chấp không cũng là có, đấy là chấp có cái không. Đúng là tất cả xưa nay vốn không nhưng vẫn phải tu trì, vẫn phải giữ giới.

Một câu hỏi đúng

Có lần một người bạn hỏi tôi, "Nếu như bây giờ mình được gặp Phật và được phép hỏi Ngài một câu, anh nghĩ mình sẽ hỏi gì?"
    Câu hỏi ấy như là một công án bạn hả? Nhưng thật ra tôi cũng không nghĩ ra được mình sẽ hỏi gì! Tôi nhớ, những lần có dịp được gặp các vị thầy lớn, những bậc có sự tu tập sâu sắc, tôi thường có những nghi vấn trong tâm định sẽ mang ra hỏi. Nhưng khi ở gần và tiếp xúc với các vị ấy thì tôi thấy dường như những thắc mắc của mình là không cần thiết. Sự có mặt của họ đã trả lời hết mọi thắc mắc cho tôi rồi. Bạn biết không, tôi khám phá ra rằng thật ra ta cũng không có gì cần để hỏi hết.
    Được mời uống một tách trà, nghe đọc một bài thơ, nhìn vạt nắng sớm mai trải trên sàn gỗ, xem một tranh thư pháp, được chỉ cho một áng mây trắng đang bay trên bầu trời, một con sâu nhỏ trên lá...  tôi thấy thực tại này muôn đời cũng vẫn là như vậy, tự nó cũng rất đầy đủ. Tôi nghĩ, có lẽ chúng ta chỉ có thắc mắc và nghi ngờ, khi ta vô tình đánh mất sự sống đang có mặt trước mắt và đi tìm kiếm một sự thật khác xa xôi nào đó.
Còn củi thì còn lửa
Có lần, một người du sĩ tên là Vacchagotta đến gặp Phật và hỏi: "Thưa Ngài, sau khi chết một người đã giác ngộ và giải thoát rồi sẽ đi về đâu?" Nhưng dù cho anh ta có cố đặt câu hỏi cách nào đi chăng nữa, đức Phật vẫn nói rằng câu hỏi của anh là không đúng, vì nó không thích hợp. 
    Sau cùng, Phật bảo anh ta "Này, Vaccha hãy lượm những que củi nhỏ quanh đây và nhóm lửa lên." Anh ta vâng lời nhặt các que củi lại và đốt lửa. Ðức Phật lại nói: "Anh hãy bỏ thêm củi vào!" Anh ta làm theo lời Phật dạy.
  Ðức Phật hỏi: "Thế nào rồi?" Vacchagotta đáp: "Dạ, lửa cháy rất tốt." Phật bảo: "Thôi đừng bỏ thêm củi vào nữa." Và sau đó đám lửa lụi tàn dần. Phật lại hỏi: "Thế nào rồi?" "Dạ, đám lửa đã tàn, thưa Ngài."
    Đức Phật hỏi, "Nếu bây giờ có người hỏi anh rằng ngọn lửa tắt rồi đi về ngã nào? Hướng Đông hay hướng Tây, Nam hay Bắc? Ði tới trước hay phía sau? Trái hay phải? Lên hay xuống? Vaccha sẽ giải đáp thế nào? "
    "Câu hỏi đặt như thế không đúng, thưa Ngài, bởi vì lửa cháy do nhiên liệu, cỏ và cây khô. Khi nhiên liệu hết, không còn nhiên liệu nữa, không còn gì nuôi ngọn lửa nữa, ta nói rằng ngọn lửa tắt." Vacchagotta đáp.
    “Cũng đúng như vậy, đó cũng là điều sẽ xảy ra cho kẻ đã giải thoát sau khi mất. Cũng giống như ta bứng gốc một cây kè và không còn gì có thể đâm chồi lên nữa, nó tắt hẳn."
    Và đức Phật kết luận, "Này Vaccha, người ấy đã vứt bỏ được cái gọi là thân này rồi, không thể đo lường được, thật siêu việt, mênh mông như biển lớn. Nói rằng vị ấy tái sanh là không đúng. Nói rằng vị ấy không tái sanh cũng không đúng. Mà nói rằng vị ấy không tái sanh cũng không không tái sanh cũng không đúng."
    Nghe những lời ấy xong, Vacchagotta cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Anh nói những lời Phật dạy như một ngọn đuốc soi sáng một căn phòng đang tối, và anh nguyện sẽ nương tựa vào tuệ giác ấy để sống.
Một câu hỏi đúng
Đó là ngày xưa, còn bây giờ là ngày nay. Nhưng có điều là xưa nay gì thì vấn đề cũng không có gì là khác biệt nhau lắm. Vì câu trả lời ta nhận từ giáo pháp của đức Phật, bao giờ cũng hoàn toàn tương xứng và phù hợp với sự sâu sắc của câu hỏi mà ta đặt ra.
    Vào thập niên 70, thiền sư Ajahn Chah được mời sang giảng dạy ở Anh. Vào cuối chuyến đi, sau một bài nói chuyện trước khi trở về lại Thái Lan, ngài Ajahn Chah hỏi đại chúng có mặt "Quý vị còn có những câu hỏi chót nào không? Có vấn đề gì mà quý vị vẫn còn thắc mắc và chưa thấy hài lòng chăng?"
    "Thưa có," một cô thiền sinh đáp. "Tôi đã được nghe giáo lý này trong nhiều năm qua, nhưng chưa bao giờ tôi nghe một câu trả lời nào thật thoả đáng cho câu hỏi này, đó là  'Niết bàn là gì? Và chúng ta có còn hiện hữu nữa hay không?' "
    Có một ngọn nến đang cháy bên cạnh bục ngồi của Ajahn Chah. Thấm ướt hai ngón tay, Ngài quay sang và bóp tắt ngọn nến.
    "Bây giờ ngọn nến đã tắt rồi, chúng ta có còn gì để bàn luận thêm về nó không - nó đã đi đâu, bây giờ nó có hiện hữu ở một nơi nào khác hay không?" Ajahn Chah hỏi. Và khi người thiền sinh im lặng, không trả lời, Ngài nói thêm, "Không. Không có một lời giải thích hay luận bàn nào là thích hợp."
    "Cô có hài lòng với câu trả lời của tôi không?"  Ajahn Chah hỏi.
    "Không!"   ta đáp.
    "Tôi cũng vậy, tôi cũng không hài lòng với câu hỏi của cô."
Bạn biết không, có những câu hỏi, thắc mắc mang ta đi thật xa, dẫn ta đến những tranh cãi và luận bàn miên man, và có những câu hỏi đem ta trở về tiếp xúc với sự sống đang có mặt ngay trước mắt.
    Mà nhiều khi những vấn đề có liên quan đến hạnh phúc và khổ đau của chính mình, những phiền não của ta, chúng phát sinh lên và diệt đi như thế nào, lại là những câu hỏi chúng ta ít khi muốn thật sự tìm hiểu… Mà thật ra đó mới là những câu hỏi đúng và chỉ có chính ta mới có thể thấy được câu trả lời thôi, phải thế không bạn?
Nguyễn Duy Nhiên

free hit counter

Bạn đã đổi ý gì về sự tu tập?

Một tờ báo Phật học Hoa kỳ có gửi câu hỏi sau đây đến cho một số các giáo thọ Tây phương, cũng như những hành giả có kinh nghiệm tu học nhiều năm trong đạo Phật: Bạn có thay đổi suy nghĩ về vấn đề nào trong đạo Phật, và tại sao? Dưới đây là một số những câu trả lời của các vị ấy gởi về.
--- oOo ---
Ông Jack Kornfield là một vị giáo thọ và cũng là người sáng lập trung tâm thiền tập Spirit Rock Meditation Center. Quyển sách gần đây nhất của ông là Bringing home the Dharma: Awakening right where you are.
Tôi thì cũng đã từng đổi ý về hằng trăm việc. Mà một ví dụ cụ thể là vấn đề cố gắng trong thiền tập. Tôi thường nghĩ là muốn đạt đến giải thoát, chúng ta cần phải luyện tập như một dũng sĩ. Nhưng bây giờ thì tôi hiểu rằng, chúng ta cần phải thực tập như một người mẹ hiền đối với một đứa con sơ sinh của mình. Cũng cùng một năng lượng, nhưng hai phẩm chất hoàn toàn khác nhau. Ta cần một tình thương và sự có mặt của mình, hơn là phải cố gắng chiến thắng nó như là một kẻ thù trên chiến trận.
    Và một vấn đề nữa là tôi vẫn thường nghĩ rằng chúng ta chỉ cần ngồi thiền là đủ. Chỉ cần ngồi thiền thôi ta sẽ có thể thay đổi được hết tất cả mọi việc trong cuộc đời mình một cách trọn vẹn và tốt đẹp. Có thể đối với một số nhỏ là vậy, nhưng nói chung thì việc ấy không hề xảy ra. Đối với đa số chúng ta, thiền tập chỉ là một phần của vòng tròn mạn đà la giác ngộ, mà trong đó còn bao gồm cả một sự tỉnh giác về thân mình, về những mối tương quan của ta với người chung quanh, về chánh ngữ, cũng như một lối sống chân thật.
    Tôi cũng thường nghĩ rằng sự tu tập thiền quán sâu sắc và hiệu quả chỉ có thể xảy ra ở một thiền viện xa xôi nào đó. Muốn thực tập một cách chân chánh và tận gốc rễ, ta phải đi sang Thái lan, Miến điện hoặc là Ấn độ hay Tây tạng. Đa số những người như chúng tôi, đã có dịp đến tu tập ở các nơi ấy, đã thường nghĩ như vậy, và có lẽ một số người vẫn còn nghĩ như thế.  Bây giờ, khi trở lại những nơi ấy, Thái lan, Miến điện hoặc là Ấn độ hay Tây tạng, tôi nhận thấy họ có một sự thực tập rất sâu sắc. Và tôi cũng nhận thấy rằng sự thực tập sâu sắc ấy cũng đang có mặt ngay ở nơi đây.  Bây giờ tôi hiểu rằng sự tìm kiếm xa xôi ấy cũng chỉ là một ảo tưởng mà thôi!
Ông John Tarrant là người hướng dẫn cho nhóm Pacific Zen Institute, chú trọng về thiền công án và nghệ thuật.  Ông cũng là tác giả của những quyển sách về thiền công án.
Tôi nghĩ đó là một câu hỏi rất hay. Câu trả lời chính xác nhất mà tôi có thể có là tôi không có một cái tâm, a mind, hay một ý nghĩ nào để thay đổi hết. Tôi đã thay đổi ý nghĩ của mình về vấn đề là chúng ta có một ý nghĩ.
Ông Surya Das là một vị lạt ma Hoa kỳ tu theo truyền thống Phật giáo Tây tạng.  Ông cũng là tác giả của nhiều quyển sách về đạo Phật bán rất chạy trên khắp thế giới.
Một điều mà tôi đã đổi ý là về quan niệm cho rằng ngồi thiền là tốt cho tất cả mọi người, hay nó là một điều chính yếu trong Phật Pháp, Buddha Dharma. Kinh nghiệm của tôi thì thiền tập rất là hữu ích, an lạc và sâu sắc - nhưng tại sao chúng ta lại không tu tập một chân Pháp (true Dharma)? Tôi tin rằng pháp môn "chỉ có ngồi thiền" không thể nào hoàn toàn đầy đủ cho một cuộc sống tâm linh, với những liên kết mật thiết trong thế giới ngày nay. Theo tôi nghĩ muốn có một cuộc sống tâm linh trọn vẹn, chúng ta nên chú ý đến vấn đề làm sao để khơi dậy được bồ đề tâm của mình. Thiền tập có thể dễ bị sử dụng như là một sự trốn tránh, giúp ta lánh xa được những lo âu, hoàn cảnh khó khăn và trách nhiệm của mình - ít nhất là cũng tạm thời.
    Trong những năm qua tôi có một nhận xét này, là nếu như một người nào đó quay vào bên trong nhiều quá, chỉ hướng theo một chiều duy nhất, họ có thể sẽ trở nên cố chấp và cứng nhắc, bớt đi sự dễ thương, lành mạnh và trong sáng của mình. Thiền tập nếu không có sự quân bình của tuệ giác và tâm từ, kèm theo với một cái nhìn rộng mở, nó sẽ trở nên khô khan, cách biệt và xa lạ. Bây giờ tôi nghĩ, con đường tu tập giác ngộ của đạo Phật phải được thể hiện qua thiền tập trong mỗi hành động và sự sống, làm sao để mang năng lượng tỉnh thức vào mọi sinh hoạt, trong mỗi giây, mỗi phút.
Ông Patrick McMahon vừa có một sinh nhật sáu mươi tuổi và kỷ niệm 40 năm trên con đường thiền tập theo truyền thống Zen.
Mới đây, tôi có dịp gặp lại và ngồi gần một người bạn đạo sau một buổi lễ tưởng niệm những người đã mất, cho các vị thầy cũng như trò, kể từ khi thiền viện Tassajara Zen Mountain Center được thành lập từ năm 1967 đến nay. Tôi nhớ lần đầu tiên tôi gặp Jerome là 40 năm về trước tại thiền viện San Francisco City Center. Lúc đó tôi chừng hai mươi tuổi, và anh lớn hơn tôi một chút. Thời gian ấy, anh Jerome cũng chẳng giữ một chức vụ gì quan trọng trong thiền viện. Tôi vẫn thường tìm gặp anh để tán gẩu. Đối với tôi, anh là một vị bồ tát rất vững chãi trên con đường giác ngộ. Từ ngày rời thiền viện, trong nhiều năm qua thỉnh thoảng tôi vẫn nghĩ về anh, không biết anh ra sao, hay là còn sống hay không.
    Và bây giờ anh ngồi đây với tôi, vẫn còn đó – hay dường như là vậy. Tôi nhận ra anh ngồi nơi một góc ở cuối thiền đường, gương mặt cằn cỗi nhưng vẫn là anh, thân người cao lớn, dựa vào tường, dường như đang ngủ gục. Sau buổi lễ tôi bước đến và tự giới thiệu với anh. Tôi nghĩ anh không nhận ra tôi, nhưng sau một hồi anh dường như nhớ lại và tỉnh hẳn lên. Tôi phải gắng nghe anh, giọng anh ngộng nghịu, miệng không còn một chiếc răng nào hết. Thiền đường lúc ấy cũng đã vắng người. Tôi đở anh đứng dậy, và nhìn anh lom khom đi chậm đến bàn thờ thắp một nén hương. Còn bao lâu nữa tôi sẽ đốt một nén hương cho anh? Và rồi bao lâu nữa sẽ có người thắp cho tôi một nén hương?
    Bốn mươi năm trước tôi không bao giờ tự hỏi hay là có những ý nghĩ đó, mặc dù đức Phật lúc nào cũng nhắc nhở về “thời gian qua mau,” mặc dù biết câu truyện về thái tử Sĩ Đạt Ta xuất gia đi tầm đạo sau khi tiếp xúc với người già, người bệnh và một xác chết. Khi còn là một tu sĩ trẻ, tôi quan tâm đến thời ngồi thiền sắp tới của mình hơn, hoặc là khi nào đi tham dự khóa tu kế tiếp, hay là làm sao để được người khác chú ý đến. Trong những năm tháng tu tập khi còn trẻ ấy, sự giác ngộ đối với tôi có nghĩa là “không bệnh, không lão, cũng không tử” của bài Bát Nhã Tâm kinh mà chúng tôi tụng mỗi sáng trong chánh điện.
     Nhưng bây giờ, nhìn khói hương bay tỏa trong thiền đường, tôi đột nhiên ý thức được có một điều đang dần dà trở thành sự thật: là tất cả chúng ta, những huynh đệ tỷ muội của tôi, cũng chính là cái bệnh, cái già và rồi sẽ là cái chết. Rằng tất cả những gì đang trôi nhanh qua, ta vẫn có thể tiếp xúc được với chúng ngay trong giây phút này. Nhưng lẽ dĩ nhiên nó cần một sự thay đổi trong cái nhìn của mình, ta mới có thể thấy được.
Anne Cushman là người điều hành chương trình huấn luyện Mindfulness Yoga tại trung tâm Spirit Rock Meditation Center. Cô cũng là tác giả của quyển “Giác Ngộ Cho Những người khờ”, Enlightenment for Idiots.
Một sự thay đổi lớn lao nhất trong sự tu tập của tôi là bây giờ tôi không còn tin rằng "Tôi" đang tu tập nữa. Tôi đã thường nghĩ rằng "Tôi" phải ngồi thiền. Và nó cũng chính là cùng một cái "Tôi" bận rộn, siêng năng, và tự cao, mà hằng ngày đi chợ, viết lách, và thích khoe khoang với người chung quanh. Và bây giờ thì cái "Tôi" ấy muốn miên mật thực tập chánh niệm, với một sự cương quyết được giác ngộ, và rồi cứ tự trách móc mình vì liên tiếp bị thất bại mãi.
    Khi xưa, thiền tập cũng chỉ là một việc cần phải làm trong tờ danh sách của "Tôi", như là hoàn hảo một tư thế yoga, hay xếp quần áo ngay ngắn vào ngăn tủ vậy. Nhưng rồi cuối cùng tôi hiểu rằng, cái "Tôi" giới hạn và nhỏ bé đó hoàn toàn không thích đáng trong tiến trình thiền tập. Bây giờ thì sự thực tập của tôi là tháo gở ra, hơn là buộc thêm vào. Nó là làm sao để có thể nới lỏng và buông thả sự kìm kẹp của cái "Tôi" ấy trong tâm, để ta có thể tiếp xúc được với một thực tại rộng mở lúc nào cũng có mặt, cho dù "Tôi" đang làm bất cứ một công việc gì.
Ông Michael Wenger là một thầy giáo thọ ở trung tâm San Francisco Zen Center.
Câu hỏi này nhắc nhở tôi một điều, là tôi không cần quan tâm nhiều đến những quan niệm cũ hay những gì mình đã suy nghĩ trong quá khứ. Vấn đề là bây giờ tôi có thể biểu hiện được con tim biết thương yêu của mình ra không, và có khuyến khích được người khác cùng làm như thế chăng?
Ông Wes Nisker là một giáo thọ, một tác giả.  Ông cũng là sáng lập viên và chủ biên của tờ báo Phật giáo Inquiring Mind.
Khi xưa tôi nghĩ đạo Phật có thể giúp tôi thoát được khổ đau. Đó là trước khi tôi bắt đầu già và khôn ngoan hơn. Và không phải tuệ giác này đã làm tôi đổi ý về vấn đề chấm dứt khổ đau, mà thật ra là do chính cái già của mình. Vâng, tôi biết là không có ai già đi hết, cũng không có một cái tôi nào riêng rẽ cả, tất cả chỉ là những hiện tượng trống rỗng trôi lăn mà thôi. Nhưng khốn thật! Bây giờ thì tai tôi không nghe rõ như xưa, mắt tôi thì mờ, những khớp xương giờ cũng cứng đơ, và trí nhớ của mình thì cứ lặp đi lặp lại mấy chữ “Lại quên rồi!”
    Nhưng xin bạn cũng đừng hiểu lầm tôi! Tôi cảm thấy vô cùng may mắn có được giáo Pháp ngay cạnh bên khi sống qua giai đoạn này. Và tôi thường tập trở về nương tựa với giây phút hiện tại nhiệm mầu và trong sự ấm áp của tâm từ. Nhưng tôi vẫn đang sống trong một túi da thịt xương đang tiêu hoại, và có nhiều lúc, ít nhất là một lần mỗi ngày, tôi nguyền rủa cái hiện thân này, với những đau đớn và nhức nhối của nó, cũng như cái số phận trước mắt mà không ai tránh khỏi.
    Không, giáo pháp này đã không giúp tôi chấm dứt được khổ đau. Nhưng tôi hứa là lần tới tôi sẽ cố gắng và tinh tấn nhiều hơn.
Bà Sylvia Boorstein là một trong những vị thầy sáng lập trung tâm Spirit Rock Meditation Center tại thành phố Marin County, California. Bà cũng là tác giả của nhiều quyền sách thiền tập về Vipassana.
Tôi không dám nhấn mạnh về việc mình đã có những sự đổi ý nào về đạo Phật, hơn sự thật là chính đạo Phật đã làm thay đổi ý nghĩ của tôi. Ngày đầu tiên cách đây hơn 30 năm, sau khi lần đầu tiên nghe một bài pháp thoại, tôi cảm thấy phấn khởi và có rất nhiều hy vọng. Tôi tin rằng mình sẽ phát triển được khả năng đối diện được với tất cả những khó khăn trong cuộc đời. Tôi cảm nhận được từ những vị thầy mình, là dường như họ ít có sợ hãi về cuộc sống này hơn tôi. Tôi rất tin vào giáo Pháp của đức Phật. Và chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ làm cho tôi có rất nhiều hạnh phúc.
Và ngày nay, sau nhiều năm tháng thực tập, tôi biết rằng tâm mình có được thêm nhiều khả năng tiếp nhận hơn. Nó chuyển hóa những khó khăn, bức xúc trong tâm dễ dàng hơn khi xưa.  Tôi vẫn còn sợ hãi hay nổi giận hay ganh tỵ hay bất cứ một phản ứng tự nhiên nhất thời nào đó khi có việc xảy ra. Tánh của tôi thì rất dễ phản ứng, mà lại còn có khuynh hướng làm lớn chuyện nữa. Nhưng bây giờ thì tôi có ý thức và biết được việc gì đang xảy ra, và thường thường thì tôi dừng lại và phục hồi. Khả năng đối phó với những vấn đề khó khăn, trong tôi và chung quanh tôi, với một tình thương và tâm từ, bây giờ cũng được lớn mạnh hơn.
    Tôi cũng biết có những giáo lý liên quan đến đạo Phật mà tôi nghĩ "Tôi không thật sự tin như vậy," nhưng việc ấy không hề làm cho tôi phải lo nghĩ. Nó không là vấn đề. Tôi chỉ muốn làm sao để sự tu tập của mình có hiệu quả. Tôi muốn chuyển hóa tâm sợ hãi của mình thành một tâm tuệ giác và an lạc, và tôi tin việc ấy sẽ xảy ra.  Đó mới là điều đã và đang rất quan trọng đối với tôi.
Ông Will Stewart là một hành giả đã hành thiền theo truyền thống Zen hơn 25 năm.
Tôi không hề thay đổi ý nghĩ của mình về đạo Phật, nhưng tôi có thay đổi ý nghĩ về mình là ai.
Nguyễn Duy Nhiên

free hit counter

Hạnh phúc và tuổi tác

Vào dịp cuối năm, chúng ta lại sắp sửa có thêm một tuổi mới. Khi nói đến tuổi già phần lớn chúng ta thường có một thái độ bi quan. Tuổi già cũng thường hay được ví với những buổi hoàng hôn, xế chiều, hay của sự cô độc. Tuổi già cũng được so sánh với mùa thu trong thiên nhiên, khi những chiếc lá xanh bắt đầu phai màu và rơi rụng, trước khi trời chuyển mùa…
Nhưng có một nghiên cứu gần đây của Brooking Institute cho thấy có một cái nhìn mới mẻ và lạc quan hơn về vấn đề tuổi tác, và khám phá ấy có thể mang lại cho ta một "nụ cười". 
Brooking Institute, là một nhóm chuyên gia “think tank” rất nổi tiếng tại Hoa kỳ, trong những năm vừa qua có làm một nghiên cứu tìm hiểu về sự liên hệ giữa hạnh phúc và số tuổi của chúng ta.
Bà Carol Graham là người đứng đầu cho nghiên cứu này, và cũng là tác giả của những quyển sách như là Happiness Around the World, The Pursuit of Happiness: An Economy of Well-Being.  Nhóm của bà Graham đã thăm dò và tìm hiểu các đối tượng trên nhiều quốc gia, và thuộc những nền văn hóa khác nhau, ở khắp nơi trên thế giới. Và trong thời gian qua, bà có công bố kết quả nghiên cứu của mình về sự liên hệ giữa hạnh phúc và tuổi tác.
Là một nụ cười
Bà Graham chia sẻ rằng, qua những nghiên cứu của bà thì tất cả những dữ kiện thu thập được đều xác định chung một điều, là mức độ của hạnh phúc sẽ tăng lên theo với số tuổi của ta. Và cái biểu đồ trình bày cho sự liên hệ giữa hạnh phúc và tuổi tác, happiness and age chart, là hình của một “nụ cười”, a smile.
Bà Graham chia sẻ, theo kết quả nghiên cứu này thì chúng ta không cần phải tiếc nuối hay huyền thoại hóa hạnh phúc của tuổi thơ mình, vì hạnh phúc sẽ tăng trưởng tự nhiên theo với thời gian.
    Lẽ dĩ nhiên nó cũng dựa trên những yếu tố quan trọng như là ta phải có một sức khỏe tương đối và một mối tương quan tốt với người chung quanh. Thật ra thì thiếu những yếu tố cơ bản này thì vào lứa tuổi nào ta cũng khó có thể có được hạnh phúc. Vấn đề sức khỏe là một trong những vấn đề lớn của tuổi già, nhưng theo bà thì phần lớn là người ta cảm thấy mình có hạnh phúc hơn.
    Bà Graham nhận xét rằng, vấn đề tiền bạc bao giờ cũng có một ảnh hưởng trực tiếp đến hạnh phúc cá nhân. Nhưng khi những nhu cầu vật chất căn bản đã được đầy đủ rồi, thì người ta lại bắt đầu đo lường hạnh phúc bằng cách so sánh những gì mình có với người chung quanh. Có lẽ khi chúng ta lớn tuổi, mình có tuệ giác hơn, biết chấp nhận và biết hài lòng với những gì mình đang có hơn.
Triết gia Cicero về tuổi già
Một triết gia cổ Hy Lạp, Cicero, vào khoảng cuối đời mình, ông có viết một tiểu luận về tuổi già, On Old Age, và có những chia sẻ rất lạc quan. Ông nói tuổi già có 4 vấn đề chánh như sau: ta không còn làm việc nhiều, sức khỏe yếu đi, những thú vui vật chất giảm sút, và cái chết gần kề. Nhưng theo ông thì thật ra những vấn đề ấy không nhất thiết sẽ làm giảm đi hạnh phúc trong cuộc sống.
Cicero viết, người lớn tuổi tuy không còn khả năng làm nhiều việc, nhưng họ có những kinh nghiệm và tuệ giác mà tuổi trẻ không có. Và vì vậy khi làm việc gì, tuy ít, nhưng nó có hiệu quả hơn. Cơ thể và tâm trí người già không nhất thiết phải suy giảm, nếu như ta biết thường xuyên tập luyện. Và có thể ta không còn hưởng những thú vui về vật chất nhiều như xưa, nhưng người già có nhiều thì giờ cho nhau hơn, cho bè bạn hơn, mà tự chính chúng là những thú vui rất sâu sắc trong cuộc sống. Và về cái chết thì ông Cicero tin rằng sẽ không có gì là mất đi hết, nên ta cũng không cần phải lo sợ. Theo ông thì tuổi già chỉ là một tiến trình tự nhiên của đời sống.
Trăng hay trời đã sáng?
Và có lẽ, kết quả của nghiên cứu này chỉ trình bày cho chúng ta điều mà ta vẫn biết, là hạnh phúc một phần là do hoàn cảnh chung quanh, nhưng phần lớn là do ở thái độ của mình.
    Thiền sư Basho có viết một bài Haiku cuối năm,
Trăng hay trời đã sáng?
Sống lười, theo ý mình
Thế là đã hết năm.
(Thái Bá Tân dịch)
    Trăng hay trời đã sáng là cũng tùy ở cái nhìn của ta, nhưng đừng bao giờ “sống lười theo ý mình” bạn hả! Cuộc sống, như biểu đồ của mối liên hệ giữa tuổi tác và hạnh phúc, sẽ là một nụ cười, a smile, nếu như ta biết học bài học của cuộc đời và tiếp nhận nó một cách sáng suốt. Và ta cũng có thể tập cho mình có một thái độ hạnh phúc ấy vào bất cứ ở lứa tuổi nào, phải không bạn?
nguyễn duy nhiên


free hit counter

buộc mái chèo vào hoàng hôn

Trời mùa thu dường như có thật nhiều những ngày mưa lang thang. Lá rơi phủ đầy trên con suối nhỏ, cạnh khu rừng mỗi ngày tôi vẫn thường đi qua. Những chiếc lá thu ướt nằm dưới ánh nắng sớm, màu sắc như sáng hơn lên. Thời gian vào lúc chuyển mùa, với những đổi thay đang có mặt chung quanh, thường khiến ta bước chậm lại.
    Mà trong cuộc đời cũng vậy, những thăng trầm, biến đổi cũng thường khiến ta bớt đi những hối hả. Đôi khi, những khó khăn bất ngờ trong cuộc sống cũng giúp ta dừng lại và ý thức được những tạm bợ và đổi thay của cuộc đời, và có một cái nhìn sâu sắc hơn.
Cái khăn sạch
Chúng ta bước chân vào con đường tu học thường với một mong muốn chuyển hóa được những phiền não, khó khăn của mình, và nếu như có thể thay đổi được chút gì cuộc sống chung quanh. Làm sao cho mỗi bước chân ta đi khởi lên những làn gió nhẹ làm mát cuộc đời, cho nơi này trở thành một cõi tịnh độ…
    Nhưng nếu như ta không nhìn thấy được gốc rễ của khổ đau, thì những gì ta làm, cho dù có hay đẹp đến đâu, cũng khó thật sự chuyển hóa được điều gì phải không bạn? Mà nhiều khi còn khiến cho cuộc đời này rắc rối thêm...
Tôi có đọc một câu truyện ngắn về chiếc khăn sạch của nhà văn Trần Quốc Tiến.  Có một ông bác bảo đứa cháu trai sáu tuổi lấy khăn lau cho sạch cái bàn để ông chuẩn bị tiếp khách. Thằng bé vâng lời, mang khăn lên lau bàn. Nhưng sau mỗi lần nó lau xong ông đều kiểm tra lại, và thấy cái bàn bẩn vẫn hoàn bẩn.  Người bác xem lại và hiểu ra nguyên do khiến thằng bé lau mãi mà cái bàn vẫn không thể sạch. 
    Ông hỏi: “Cháu có biết tại sao không?”, thằng bé thật thà bảo: “Dạ không ạ.”  Người bác đưa cho nó xem cái khăn rất bẩn, ôn tồn bảo: “Cái khăn này quá bẩn, cháu thấy không, cho nên cháu lau mãi mà bàn vẫn chưa sạch được là phải. Muốn lau bàn thật sạch, trước hết cháu phải giặt cái khăn cho sạch đi đã”.  Thằng bé vâng lời rồi đi giặt khăn.
    Chuyện đơn sơ thôi nhưng sâu sắc. Dùng cái khăn dơ để lau chùi thì vật được lau chùi ấy không thể nào sạch được, mà nhiều khi còn lại dơ hơn lúc chưa lau chùi.
    Cũng vậy, tôi nghĩ chúng ta cần một cái nhìn rộng lớn và sâu sắc hơn để thấy rõ được nguyên nhân của khổ đau. Trên con đường tu học ngày nay, chúng ta có rất nhiều những phương tiện hay mới để giúp mình an tâm, để nuôi dưỡng an lạc, để có sự vững vàng… Nhưng bạn biết không, nếu như ta không cẩn trọng thì sẽ không có gì thay đổi hết, nếu như mình không ý thức được những gì đang thật sự xảy ra, và thấy rõ nguyên nhân của chúng.
Ngày là ngày và đêm là đêm
Khi đứng trước một cây khô héo với những chiếc lá vàng úa, nếu ta biết chăm sóc cho gốc rễ của nó, thay vì chỉ tưới nước vào những chiếc lá, thì cây ấy sẽ dễ được xanh tươi hơn. Và thấy rõ được thực tại của mình như-nó-là, là một phương cách nhiệm mầu để chuyển hóa những khổ đau của mình.
     Trong Kinh Tương Ưng, Phật có dạy rằng chúng ta chỉ có thể chuyển hóa những lo âu, buồn giận, sợ hãi, khổ đau của mình bằng cách trở về và nhìn thấy rõ nó một cách chân thật.
Ngày xưa Phật thường đi vào những nơi rừng vắng để tham thiền. Vào những đêm khuya tối trời, mỗi tiếng động, mỗi cành cây khô gẫy, mỗi tàng lá lung lay, mỗi bóng một con thú đều có thể làm phát sinh lên trong ta một sự tưởng tượng, một nỗi khiếp sợ.
     Phật kể, nếu như nỗi sợ ấy phát sinh Ngài sẽ tĩnh lặng quan sát nó cho đến khi nào nỗi sợ ấy qua đi.
"Này Janussoni, lúc ta đang đi, nỗi sợ hãi kinh hoàng lại phát sanh. Biết vậy, ta không dừng bước, không ngồi xuống, không nằm, sáng suốt cương quyết đương đầu với thử thách và chế ngự nó.
    "Khi ta đang đứng, nỗi lo sợ cũng phát sanh. Biết vậy, ta không đi, không ngồi, không nằm, sáng suốt cương quyết đương đầu với thử thách và chế ngự nó.
    "Này Janussoni, có nhiều đạo sĩ cho rằng ngày và đêm cũng như nhau, Như Lai lại nói: 'Ngày là ngày và đêm vẫn là đêm' ".
Với một thái độ ôn hòa, tĩnh lặng và trong sáng
Trong khi những đạo sĩ khác nói với Phật rằng phương cách của họ là quán tưởng rằng ban đêm cũng giống như ban ngày, tuy trong đêm tối họ vẫn cảm thấy như ban ngày, nên không có một nỗi sợ hãi nào hết. 
    Nhưng Phật không đồng ý với điều ấy. Đối với Ngài thì ta chỉ cần quay về và đối diện với thực tại để thấy được gốc rễ của vấn đề, “ngày là ngày và đêm vẫn là đêm.” Phật không tránh né, cũng không tưởng tượng thêm gì khác, Ngài chỉ đơn giản thấy được những gì đang xảy ra như đang-là, và có mặt với nó một cách trọn vẹn.
    Và đức Phật đối diện với những nỗi sợ không phải bằng một sự tìm hiểu, phân tích, hay chịu đựng, mà bằng một thái độ từ tốn và ôn hòa. Ngài chuyển hóa chúng với một thái độ tĩnh lặng, trong sáng, không vội phản ứng. Mà sự tĩnh lặng, trong sáng ấy cũng đang có sẵn trong ta, nếu như mình biết buông bỏ để quay về nương tựa vào nó. Khi ta biết quay về để có mặt trọn vẹn, tuy không làm gì hết, mà những khổ đau lại tự nhiên được chuyển hóa.
    Bạn biết không, trên con đường tu học nhiều khi chúng ta vẫn mong tìm một phương pháp mới lạ nào đó để chuyển hóa khổ đau. Nhưng nếu như ta không trở về để thấy rõ được sự vận hành và sinh diệt tự nhiên của chúng, thì có lẽ sẽ khó có một phương pháp nào khác lại có thể giúp ta chuyền hóa chúng được. Đôi khi ta cũng giống như các vị đạo sĩ kia, lại vô tình chỉ muốn biến "ngày và đêm cũng như nhau"...
Buộc mái chèo vào hoàng hôn
Bầu trời hoàng hôn của một ngày thu có một vẽ đẹp rất riêng. Có những buổi chiều trên con đường về nhà, tôi nhìn những áng mây pha lẫn màu vàng tím nhuộm thẩm chân trời, thật đẹp. Dường như những sắc màu của mùa thu cũng đang vướng quyện trong áng mây cuối trời trong một không gian hoàng hôn. 
   Tôi nhớ đến một bài thơ của cụ Nguyễn Trãi viết trong một buổi chiều tà, khi ông lên thăm một ngôi chùa nằm trên núi cao,
Du Sơn Tự
Đoản trạo hệ tà dương
Thông thông yết thượng phương
Vân quy thiền tháp lãnh
Hoa lạc giản lưu hương
Nhật mộ viên thanh cấp
Sơn không trúc ảnh trường
Cá trung chân hữu ý
Dục ngữ hốt hoàn vương
Lên chùa trên núi
Buộc chèo vào hoàng hôn
Lên lễ Phật bước dồn
Mây về giường thiền lạnh
Hoa rụng suối đưa hương
Trời lặn, tiếng vượn gấp
Núi không, bóng trúc trườn
Trong cảnh thật có ý
Định nói, bỗng quên luôn.
Phạm Thảo Nguyên (dịch)
    Tôi thích câu thơ dịch ấy "Buộc chèo vào hoàng hôn."  Chiếc thuyền nhỏ trên sông dưới bóng chiều tà. Không gian trôi chạm nhẹ vào với thời gian. Ta có mặt ngay nơi đây rất tự nhiên mà không thấy một sự cố gắng nào hết. Chiếc mái chèo ngắn gác vào với bầu trời hoàng hôn, yên nghỉ. Không còn gì xao động. Nước sông tĩnh lặng.
    Trên con đường lên núi, mây trôi ngang qua một am thiền trống không, hoa rụng bên bờ suối hương tỏa ngát núi rừng, vạt ánh nắng vàng vắt ngang cuối chân mây, đâu đây tiếng vượn kêu giữa núi vắng không, bóng trúc đổ vươn dài theo ánh hoàng hôn.  Và giữa một hiện hữu trong sáng ta chợt ý thức rằng đâu có gì để thêm bớt, có một lời nào cần để nói nữa đâu...
Nguyễn Duy Nhiên

free hit counter

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.