bài viết trong chuyên mục "chúng A-La-Hán"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn chúng A-La-Hán. Hiển thị tất cả bài đăng



Phật Sống Tế Công người đời Nam Tống (1150-1209) nguyên quán thuộc huyện Thiên Thai, tỉnh Triết Giang, họ Lý tên Tu Duyên quy y tại chùa Linh Ẩn ở Tây Hồ thuộc Hàng Châu, pháp danh Đạo Tế, vì thường dùng kế giả điên để cứu đời nên thế nhân thường gọi đùa là Tế Điên. Thân Phật Sống là Kim Thân La Hán hóa thân, là Giáng Long Tôn Giả, thông hiểu sâu xa tam muội, tức là chính định, điều tâm tĩnh tọa để đạt trạng thái trực giác vô tư lự hầu thấu triệt cùng liễu ngộ Phật pháp, ý là: “Muôn pháp vốn xuất hiện bởi tâm” (Vạn pháp duy tâm sở hiện). Và tu thẳng tâm Phật không nhờ phương tiện, nên nói: “Tu tâm không tu miệng để trở thành Phật sống” (Tu tâm bất tu khẩu, tố cá tự tại Phật) vì lẽ các tăng ni thời đó chỉ “giới khẩu” không “giới tâm” cho nên Phật Sống nói lên tiếng cảnh tỉnh để giúp họ giác ngộ. Ngài thần thông quảng đại, cứu nhân độ thế, trượng nghĩa phò nguy, đối với bọn giả thiện chuyên làm điều ác ngài thường giễu cợt để khiến bọn đó giác ngộ. Nhưng riêng đối với lũ làm ác không biết hối cải ngài thẳng tay đả kích không ngần ngại, khiến người đời rất ư khoái trá, bởi vậy mọi người gọi ngài là thánh tăng, tôn ngài là Phật Sống hẳn chẳng phải do sự ngẫu nhiên. 

Phật Sống từng ở chùa Tịnh Từ, chùa gặp hỏa hoạn, cần gỗ để trùng tu, Phật Sống hành hóa tới Nghiêm Lăng, dùng áo cà sa trùm các núi, nhổ trụi cây đem thả sông cho trôi về Hàng Châu. Ngài về báo cho chúng tăng trong chùa là “gỗ ở trong giếng Hương Tích” chúng tăng chạy ra coi thì quả nhiên có thực, những chuyện lạ như vậy đời truyền tụng rất nhiều.

Khoảng năm Gia Định (1209) ngài viên tịch, an táng tại tháp Hổ Bào, phút lâm chung có làm một bài hát:

Ca viết

Lục thập niên lai lang tạ
Đông bích đả đảo tây bích
Ư kim thu thập quy lai
Y cựu thủy liên thiên bích.

Hát rằng

Sáu mươi năm đời ta tan tác
Tường phía đông xô tường phía tây
Góp nhặt mãi vẫn về tay trắng
Nước liền trời biếc một màu mây.

Sau khi nhập diệt, có vị tăng gặp Phật Sống dưới chân
tháp Lục Hòa, trong thư gởi về có đính kèm một bài thơ
như sau:

Thơ

Ức tích diện tiền đương nhất tiễn
Chí kim do giác cốt mao hàn
Chỉ nhân diện mục vô nhân thức
Hựu vãng Thiên Thai tẩu nhất phiên.

Dịch

Nhớ xưa trước mắt chắn tên bay
Xương thịt cớ sao lạnh lúc này
Mặt mũi hỏi ai còn nhớ nổi
Thiên Thai ta lại tới vui vầy.

Như vậy là Bồ Tát đã hứa hẹn sẽ trở lại trần gian. Phật Sống suốt đời cứu độ hành hóa, dạo cõi nhân gian để chọc tức chọc cười, không lo lắng ngại ngùng tu “hạnh đầu đà” tức là tu khổ hạnh, hành đạo Bồ Tát, một manh áo cà sa rách rưới, vui cảnh đời thoát tục. Đôi giày rách sũng nước ngập bùn, tay cầm quạt Bồ chẳng sợ trên cao dưới thấp, đỉnh đầu sáng chói hào quang, gió chẳng dập, mưa chẳng vùi há còn cần nón lá? Chân không, lạnh nóng chẳng xâm phạm, cần chi áo mặc? Không khất thực vì chẳng đói khát. Lười trang nghiêm vì thiếu da lông, khôi hài cười cợt, kết thiện duyên rộng rãi, trần thế chẳng lánh mặt, tìm tiếng cứu khổ, trăm họ giành nhau tôn kính, từ bi vô lượng, thánh đức tuyệt vời, không một tăng sĩ lánh đời ẩn tu nơi chốn thâm sơn cùng cốc nào sánh nổi. Mỗi lời mỗi tiếng như gai nhọn dao sắc châm chọc, lìa nhà từ miền Ngũ Nhạc tri thức vốn khoan dung, cho nên đời sau chốn cửa Phật nào tự cho mình là thanh cao ắt tránh né không bàn tới. Vì vậy mà một bực cao tăng thánh đức bị mai một không hiển lộ nổi, may mà Phật tôi từ bi không than oán, không chán nản, sống siêu thoát ngoài vòng tục lụy, thể hiện pháp thiền khắp chốn, thực hành Phật pháp mang đầy sắc thái vui tươi, cho nên đại danh “thiền sư” vang dội khắp nơi. Tinh thần xuất thế vĩ đại chuyển thành công lao nhập thế tích cực, thực quả là gương sáng cho những ai ngày nay học Phật tu đạo, cho nên khi được đời tặng thánh danh “Phật Sống” kể cũng hữu lí lắm vậy. Nay gặp thời mạt pháp, chúng sinh bị lửa dục thiêu đốt, đắm chìm biển khổ, Phật Sống quyết tâm cứu độ người đời cho nên diệu pháp thần thông ngày trước lại tỏ ngời, phát nguyện hiện thân trở lại, giáng lâm Thánh Hiền Đường, hướng dẫn nguyên linh Dương Sinh dạo thăm âm phủ, sưu tầm những bằng chứng xác thực để răn đời. Từ đấy những điều bí mật tại địa ngục được tiết lộ, tạo thuyền từ để cứu độ chúng sinh. Những ai có phước được tắm mưa pháp, vĩnh viễn xa lìa đường ác. Vĩ đại thay, tác phẩm lớn lao đã hoàn thành, còn lưu lại muôn đời, ghi nhớ hoài đức lớn.

TỤNG VIẾT

Đương đầu hát bổng, hoán hồi thế thượng mê đồ
Nhất tiếu niêm hoa, bản thuộc thiền môn diệu quyết
Nhân sinh như hí, diễn đắc xuất thần nhập hóa
Vạn pháp quy tâm, biến du địa ngục thiên đường.

LỜI TỤNG

Đem đạo vào đời, kêu gọi mọi người tỉnh ngộ
Cầm hoa mỉm cười, cửa thiền diệu pháp bí truyền
Một vở tuồng đời, đóng vai vào Thần ra Phật
Nhập tâm muôn pháp, dạo khắp địa ngục thiên đường.


Tại Trung Quốc và Nhật Bản có truyền thuyết cho rằng Bồ Tát Quán Thế Âm hiển thị qua 33 hình tướng. Trên thực tế, Ngài còn mang rất nhiều hình tướng hơn thế nữa, nếu như người ta đếm được tất cả những hình tướng đã nhận được tên gọi đặc thù, hoặc là do nguồn gốc của chúng, hoặc bởi những phẩm chất riêng được gán cho chúng, hoặc ngay cả tùy theo những phương diện khác nhau mà Ngài đảm nhận cho từng trường hợp đặc thù.Ba mươi ba hình tướng là những Ứng Thân (nirmāṇa-kāya) liên quan đến những truyền thuyết Trung Hoa và Nhật Bản và rất thường được liên kết với những hình tượng về các hình tướng chính của Quán Thế Ân, điều này đã dấy lên phong trào hành hương đến 33 đạo tràng của Quán Âm ở các tỉnh phía Tây Nhật Bản, với niềm tin rằng người nào đã hoàn thành trọn vẹn cuộc hành hương đến tất cả những đạo tràng này thì vĩnh viễn được giải thoát khỏi nỗi lo sợ bị đày địa ngục (vì vậy Quán Âm cũng được gọi là Thí Vô Úy Bồ Tát ). Những hình tướng khác nhau của 33 ứng thân Ngài Quán Thế Âm tương đối xuất hiện hơi muộn, và phần lớn chỉ hiện thị sau thời kỳ Kamakura (1333). Có một số hình tướng thường được biểu thị, nhất là trong hội họa, trong khi nhiều hình tướng khác lại không gợi hứng cho bất kỳ nghệ sĩ nào. Danh xưng của những hình tướng đó cũng biến thiên tùy theo tác giả và bản văn. Một số phát sinh danh xưng từ những truyền kỳ, số khác từ những thần linh Ấn giáo. Theo kinh văn Butsuzo-zu-i, sau đây là 33 hình tướng của Sho Kannon Bosatsu (Thánh Quán Âm Bồ tát).



1.- Dương Liễu Quán Âm/Dược Vương Quán Âm (Yoryu Kannon/Yaku-o Kannon)




Còn có tên gọi khác là Dược Vương Quán Âm, bổn nguyện của Ngài là bạt trừ cứu độ những bệnh khổ của chúng sanh, vì chúng sanh thân nhiều khổ nạn nên Ngài cầm cành dương. Dương liễu mềm mại biểu trưng cho đức tướng ôn hòa nhẫn nhục của Quán Thế Âm Bồ tát. Thân mặc y màu trắng ngà, hình tượng của Ngài biểu hiện sự kỳ nguyện phước đức.

2.- Long Kỵ Quán Âm (Ryuzu Kannon)



Là Quán Thế Âm Bồ tát ngồi trên lưng rồng. Rồng là vua trong các loài thú để biểu thị cho uy lực của Quán Thế Âm Bồ tát; Long Vương đến mang mây mưa sấm chớp chiếu diệu khắp trời đất, thấm nhuần muôn vật, tất cả đều tán thán uy lực của Long vương. Ngài hiện thân ngồi kết già trên mình rồng thuyết pháp cho chúng sanh. 

3.- Trì Kinh Quán Âm (Jikyo Kannon)



Còn gọi là Thanh Văn Quán Âm. Thanh Văn là nghe Phật thuyết pháp được khai ngộ mà xuất gia. “Người đáng dùng thân Thanh Văn được độ thoát Ngài liền hiện thân Thanh văn mà vì đó nói pháp”. Hình tượng của Ngài biểu hiện sự an tường.

4.- Viên Quang Quán Âm (Enko Kannon)



Đây là Quán Thế Âm Bồ tát lòng từ ái viên mãn, biểu trưng bằng ánh quang minh quanh thân. “Sáng thanh tịnh không nhơ, huệ nhật phá các tối, hay tiêu tai khói lửa, khắp soi sáng thế gian”. Thân Ngài được cảm thọ qua đoạn kinh này, hiện tướng thuyết pháp.

5.- Du Hí Quán Âm (Yuge Kannon)



Quán Thế Âm Bồ tát giáo hóa chúng sanh viên thông vô ngại, không câu nệ vào thời gian và nơi chốn, biểu hiện tướng du hý tự tại. Thân màu hồng, Ngài ngoảnh mặt chăm chú nhìn chúng sanh.

6.- Bạch Y Quán Âm (Byakue Kannon)



Ngài Quán Thế Âm áo trắng tương ứng với Pandaravasini. Hình tướng nữ nhân này qua nhiều biểu tượng, thường ngồi trong thế Padmasana (Liên hoa tọa) với tay phải cầm một cuộn kinh Prajnaparamita (Bát nhã Ba la mật) hoặc đôi khi là viên Như Ý Bảo Châu ((Cintamani - viên ngọc ước) ép vào ngực, tay trái để lên chỗ ngồi và cầm một tràng hạt hay sợi dây. Ngài thường được trình bày với một chéo áo trùm tóc, giống như Long Kỵ Quán Âm. Đôi khi ngài ngồi trên hai đóa sen, trên bờ biển sát mép nước, đôi tay làm thủ ấn Dhyana. Đây có lẽ là một hình tướng được gọi là Quá Hải Quán Âm (Guohai Gunyin) ở Trung Quốc. Ngài thường cầm một tràng hạt nơi tay phải, nhưng trong một vài hình tướng Mật Tông, Ngài cầm cổ tay phải trong bàn tay trái. Mẫu Quán Âm này được tìm thấy trên một bệ đá ở Thiểm Tây, Trung Quốc, hình như đã gợi hứng cho biểu tượng Nhật Bản và Như Ý Luân Quán Âm (Cintamanicakra; tiếng Nhật: Nyoirin Kannon). Còn gọi là Bạch Y Quán Tự Tại Mẫu. Toàn thân Ngài mặc y trắng, ngồi kết già trên hoa sen trắng, đầu đội khăn, tay trái cầm hoa sen, tay phải kết dữ nguyện ấn. Màu trắng biểu ý Thanh Tịnh và Tâm Bồ đề, xưa nay mọi người lễ bái Ngài để cầu tiêu tai, trường thọ.

7.- Liên Tọa Quán Âm (Renga Kannon)



Là Quán Thế Âm Bồ tát ứng hiện tọa ngọa trên lá sen. Ngài hiện thân Tiểu Vương trong phẩm Phổ Môn, để thí dụ cho thân Tiểu Vương tôn quý ngồi trên lá sen. Quán Thế Âm Bồ tát ngồi kết già hiệp chưởng, đầu đội mão hoa, hiện tướng từ bi nhu hòa, cổ đeo anh lạc, mặc thiên y, bi nhãn nhìn chúng sanh.

8.- Lung Kiến Quán Âm (Takimi Kannon)



 Còn gọi là Phi Bộc Quán Âm. Nước là vật mềm mại nhất nhưng có thể đối trị sự cứng chắc của đá, từng giọt nước có thể xuyên thủng đá. Sức nước suối từ trên cao chảy xuống rất lớn, tuy nhỏ cũng có thể chảy thành sâu rộng. Quán Thế Âm Bồ tát ngồi nhìn dòng thác, nhưng tâm tư Ngài như tinh thần của dòng nước.

9.- Thí Dược Quán Âm (Seyaky Kannon)



Ngoài việc trị bệnh khổ của chúng sanh về thân và tâm, Quán Thế Âm Bồ tát còn ban bố cho chúng sanh lương dược. Bài kệ trong phẩm Phổ Môn ghi rằng: “Quán Âm bậc Tịnh Thánh, nơi khổ não nạn chết, hay vì làm nương cậy”. Hình tượng Quán Thế Âm Bồ tát nhìn hoa sen cảm thương chúng sanh nhiều bệnh khổ.

10.- Ngư Lam Quán Âm (Gyoran Kannon)



Là Quán Thế Âm tay cầm giỏ cá và nhánh lá. Do Ngài thấy con sông không có cầu, người qua sông rất dễ ngã xuống. Vì vậy Ngài hóa thân thành một mỹ nữ bán cá, nhưng có điều kiện rằng ai có nhiều tiền ném vào trong giỏ cá thì sẽ cưới làm chồng, nếu ném không trúng thì phải bỏ ra khoản tiền để xây cầu, kết quả chẳng có ai ném trúng. Những người không ném trúng đều phải mang tiền đến, tiền chất thành đống che khuất không còn nhìn thấy Ngài, khi nhìn lại thì mọi người thấy Ngài hóa thân đứng trên sông.

11.- Đức Vương Quán Âm (Toku-o Kannon)



Trong phẩm Phổ Môn chép rằng: “người đáng dùng thân Phạm Vương đặng độ thoát, Ngài liền hiện thân Phạm Vương mà vì đó nói pháp”. Phạm Vương là chủ cõi trời sắc giới, công đức rất lớn, nên còn gọi là Đức Vương. Hình tượng thông thường trong nhân gian là đầu đội bảo quan, ngồi kết già, tay phải cầm nhánh lá, tay trái để trên đầu gối.

12.- Thủy Nguyệt Quán Âm (Suigetsu Kannon)



Tức là Thủy Cát Tường Quán Thế Âm Bồ tát trong Thai Tạng Mạn trà la, mật hiệu của Ngài là Nhuận Sanh Kim Cang, Quán Thế Âm Bồ tát nhất tâm quán thủy tướng, nhập thủy định. Vì vậy hình tượng của Ngài ngồi kết già trên hoa sen nổi trong đại hải, tay trái cầm hoa sen, tay phải kết thí vô úy ấn, trong lòng bàn tay chảy xuống một dòng nước có hình mặt trăng nên gọi là Thủy Nguyệt Quán Âm.

13.- Nhất Diệp Quán Âm (Ichuyo Kannon)



Ngồi hay đứng trên một lá sen trôi trên đại dương. Hình tướng kiểu Trung Quốc này cũng được gọi là Quá Hải Quán Âm (hình tướng 6). Nếu bị nước lớn cuốn trôi, xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát, liền được đến chỗ cạn. Có thể thấy hình tượng Quán Thế Âm Bồ tát hiện trên nước. Ngài ngồi trên hoa sen nổi trên mặt nước, ngắm nhìn nước tâm suy nghĩ sâu sắc đến những nơi tối tăm không ánh sáng (địa ngục).

14.- Thanh Cảnh Quán Âm (Shokyo Kannon/Seitsu Kannon)



Biểu thị Nilakantha, Quán Âm với cổ màu xanh, chủ yếu được biểu thị trong hội họa. Hình thức Mật Tông này được so sánh với thần Siva của Ấn giáo, khi thần đã uống dược trích ly từ biển sữa sau khi được khuấy lên, và từ đó cổ của thần biến thành màu xanh. Hình tướng này được cho là có khả năng khu trừ khó khăn hay bĩ vận.Ngài được trình bày ngồi trên đóa sen hay trên tảng đá. Màu da ngài xanh đen. Những hình tượng của ngài có hai phương diện: với hai tay, tay phải bắt ấn Abhaya, tay trái cầm một đóa sen, dựa trên một tảng đá, một bình nước để gần, hoặc với ba đầu bốn tay, cầm một thiền trượng, hoa sen, một pháp luân và một ốc tù và, chính diện biểu tượng lòng từ bi, đầu bên phải là đầu sư tử, đầu bên trái là đầu lợn lòi. Hình tướng này có lẽ là một phương diện của Marici.


15.- Uy Đức Quán Âm (Itoku Kannon)



Quán Âm uy nghiêm ngồi trong tư thế đường bệ vương giả, một cành hoa sen trong tay trái. Đây là hình tướng được biểu thị phổ biến nhất ở Trung Quốc.
Quán Thế Âm Bồ tát có đầy đủ uy đức để chiết phục và hộ trì chúng sanh. Trong phẩm Phổ Môn có đoạn: “người đáng dùng thân Thiên Đại Tướng Quân đặng độ thoát, Ngài liền hiện thân Thiên Đại Tướng Quân mà vì đó thuyết pháp”. Thiên Đại Tướng Quân có đầy đủ uy đức nên được gọi là Uy Đức Quán Âm. Hình tượng của Ngài là tay trái cầm kim cang xử biểu hiện uy thế để chiết phục tâm cang cường của chúng sanh, tay phải cầm hoa sen ngồi trên bệ đá.

16.- Diên Mệnh Quán Âm (Enmei/Enmyo Kannon)



Quán Âm bảo vệ sinh mệnh của tín đồ. Là Quán Thế Âm Bồ tát bảo hộ thọ mạng chúng sanh. Phẩm Phổ Môn chép: “nguyền rủa các thuốc độc, muốn hại đến thân đó, do sức niệm Quán Âm, trở hại nơi bổn nhơn”. Có thể tiêu trừ chú thuật nguyền rủa và độc dược thêm tuổi thọ, cho nên gọi là Diên Mạng Quán Âm. Ngài đội bảo quan, mặc Thiên y, anh lạc trang nghiêm, 20 cánh tay để dìu dắt và cứu hộ chúng sanh.

17.- Chúng Thực Quán Âm (Shuhu Kannon)



Là hình tượng Quán Thế Âm Bồ tát tay cầm vàng bạc vật báu. Nếu có chúng sanh vì tìm cầu báu vật như vàng bạc, lưu ly, mã não, san hô, hổ phách, trân châu... vào trong thâm sơn đại hải, giả sử gió lớn thổi trôi dạt đến nước quỷ La Sát, nếu có một người xưng danh hiệu Ngài, thì đều được giải thoát. Hình tượng của Quán Thế Âm Bồ tát biểu hiện sự an ổn.

18.- Nham Hộ Quán Âm (Iwato Kannon)



Là hình tượng Quán Thế Âm Bồ tát ngồi trong hang đá. phẩm Phổ môn chép: "Rắn độc cùng bò cạp, hơi độc khói lửa đốt, do sức niệm Quán Âm, theo tiếng tự bỏ đi". Thường trong hang động có nhiều chướng khí và trùng độc, là chỗ có nhiều nguy hiểm đối với những người qua núi, Quán Thế Âm hiện ra thì mọi nguy hiểm đều tiêu tan hết. Quán Thế Âm Bồ tát hiệp chưởng tĩnh tọa trên hoa sen, trong hang hiểm tối tăm hiện ra ánh sáng.

19.- Năng Lĩnh Quán Âm (Nojyo/Nosho Kannon)



Ngài Quán Âm đem lại bình yên tĩnh lặng. Dựa vào một tảng đá. Quán Thế Âm Bồ tát cứu giúp thủ hộ những người gặp nạn được an ổn. Hoặc trôi dạt biển lớn, các nạn quỷ cá rồng, do sức niệm Quán Âm, sóng mòi chẳng chìm đặng. Quán Thế Âm Bồ tát là thần thủ hộ trên biển. Hình tượng của Ngài biểu hiện tướng tĩnh lặng.

20.- A Nậu Quán Âm (Anoku Kannon)



Ngồi trên một tảng đá de ra trên mặt biển, ôm gối, hoặc cầm cuộn kinh hay như ý bảo châu (cintanami) trong tay. Ngài bảo vệ các loài thủy tộc và cứu vớt tín đồ khỏi chết đuối. Quán Thế Âm Bồ tát ngồi trên bệ đá quán sát mọi động tĩnh của đại hải. Thệ nguyện của Ngài như bài kệ:“ông nghe hạnh Quán Âm, khéo ứng các nơi chỗ, thệ rộng sâu như biển, nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn”. Hình tượng của Ngài đầu búi tóc thiên kế, mặc Thiên y màu vàng, tay trái cầm mảnh y trước bụng, tay phải thả trên gối phải, mắt nhìn đại hải, hạnh nguyện của Ngài xua tan những hiểm nạn trên biển làm cho tất cả định tĩnh không còn tai ương.

21.- Vô Uý Quán Âm (Amadai Kannon)



Hình tượng của Ngài rất đặc thù có ba mắt bốn tay, ngồi trên lưng sư tử trắng, đội bảo quan, hai tay bên phải, một tay cầm hoa sen trắng, một tay cầm con chim cát tường trắng; hai tay bên trái, một tay cầm pháp khí hình con phượng 3 đầu, một tay cầm con cá. Khắp thân có ánh sáng, mặc thiên y đeo anh lạc, diên mạo rất đoan nghiêm.

22.- Diệp Y Quán Âm (Hae/Hiyoe Kannon)



Hình tướng này của Quán Âm mang lá có lẽ có thể đồng hóa với Parnasabari "người thầy thuốc dùng lá cây" trong thần phổ Ấn giáo. Trong Mạn đà la Garbhadhatu, hình tướng này có hai cánh tay và cầm một viên ngọc vây quanh với những ngọn lửa hoặc một sợi dây trong tay phải, và tay trái cầm một đóa sen. Được biểu thị với một làn da thật xanh xao nhợt nhạt, đôi khi bằng ngoại hình nữ nhân với bốn cánh tay: hai tay phải trong thủ ấn Varada và giữ viên ngược ước trên ngực, hai tay trái cầm một cái trục xe và một sợi dây. Khi ngồi trên chiếu hoa hay trên tảng đá, đôi tay dấu trong các ống tay áo. Mật danh của hình tượng này là Jogyo Kongo.
Ngài hiện thân Thiên nữ, đội bảo quan, trên bảo quan có hóa thân Vô Lượng Thọ Phật. Quanh thân có vòng lửa, ánh sáng trong suốt khắp thân. Có bốn tay, hai tay bên phải, một tay cầm quả cát tường để trước ngực, một tay kết thí nguyện ấn; hai tay bên trái, một tay cầm rìu, một tay cầm sợi dây, ngồi trên hoa sen. Diệp Y Quán Âm là vị Bồ tát của nông dân cầu nông cụ và cầu không bệnh dịch, tai nạn, trùng độc.

23.- Lưu Ly Quán Âm (Ruri Kannon)



Ngài Quán Âm với ngọc lưu ly xanh biếc trong suốt. Cầm một viên bảo châu tròn và đứng trên chiếc lá trôi trên nước. 
Tương truyền vào thời Bắc Ngụy, Tôn Kính Đức trấn giữ biên cương, ông tạo tượng Quán Thế Âm Bồ tát để tôn thờ. Sau bị Di Địch bắt xử cực hình. Ông nằm mộng thấy thầy Sa Môn dạy phải trì tụng một ngàn biến kinh “Diên Mạng Thập Cú Quán Âm”, lúc tử hình ông ba lần chém nhưng không chút thương tích, nên ông được tha chết. Vì phụng thờ lễ bái Quán Thế Âm Bồ tát mà đầu ông còn hiện ba vết sẹo. Hình tượng Ngài cầm bình lưu ly xanh, đứng trên cánh hoa sen du hóa trên mặt nước.

24.- Đa La Tôn Quán Âm (Tarason Kannon)



Đây là một Tara, nữ thần của Quán Âm đã được nhắc đến trong thế kỷ thứ 7 bởi Huyền Trang. Hình tướng nữ nhân này được sinh ra từ tia sáng trong đôi mắt của Quán Thế Âm. Một vài kinh văn đồng hóa Ngài với Maya, mẹ của Thích Ca Cồ Đàm; trong Mạn đà la Garbhadhatu, Ngài được biểu thị như một người phụ nữ đã trưởng thành.
 Dùng vật báu vô giá trang nghiêm thân để trừ khổ não cho chúng sanh, tất cả chúng sanh vui ưa vào pháp giới chư Phật. Ngài hiện thân người con gái, tướng mạo từ bi, mặc y trắng, hai tay hiệp chưởng cầm hoa sen xanh; quanh thân có hào quang thanh tịnh, đầu búi tóc. Trước ngực đeo anh lạc ngồi trên bệ đá ngắm nhìn chúng sanh.

25.- Cáp Lỵ Quán Âm (Kori Kannon)



Chính là hình tướng của Ngài Quán Âm bên trong vỏ hàu. Tương truyền, vua Đường Văn Tông thích ăn thịt con hàu, một ngày nọ vua bắt được một con sò lớn, vua dùng dao mổ hoài mà không mở được vỏ sò, ông mới đốt hương cầu nguyện, con sò hóa thành Quán Âm Đại Sĩ. Nhà Vua triệu vị thiền sư đến nói: người đáng dùng thân đặng được độ, thì hiện thân này mà nói pháp. Hiện thân Đại Sĩ là việc hy hữu không tin hay sao. Nhà vua rất vui liền ban chiếu chùa chiền trong khắp thiên hạ tạo tượng Đại Sĩ để tôn thờ. Đây là sự tích của Cáp Lỵ Quán Âm.

26.- Lục Thời Quán Âm (Rokuji Kannon)



Quán Âm suốt sáu khắc trong ngày (mỗi khắc là hai giờ ngày nay). Ngài cầm quyển sách trong tay.  Là vị Bồ tát ngày đêm từ bi thủ hộ chúng sanh. Thời xưa miền Bắc Ấn Độ một ngày đêm chia làm sáu thời, một năm cũng chia làm sáu thời là: “nắng ít, nắng nhiều, mưa, mát, lạnh ít, lạnh nhiều”; Do đó mà nói thành “Quán Thế Âm thường trông chúng sanh”.

27.- Phổ Bi Quán Âm (Fuhi Kannon)



Quán Âm với lòng từ bi vô lượng muốn phổ độ tất cả chúng sinh. Đôi khi tay được phủ trong tà áo. Quán Thế Âm Bồ tát từ bi thương tất cả chúng sanh, khắp trong tam thiên đại thiên thế giới. “Người đáng dùng thân Đại Tự Tại Thiên được độ thoát, liền hiện thân Đại Tự Tại Thiên mà vì đó nói pháp”. Vì lòng từ bi và uy đức của Ngài rất lớn phổ chiếu tất cả tam giới cho nên có tên gọi là Phổ Bi Quán Âm.

28.- Mã Lang Phụ Quán Âm (Merofu Kannon)



Đời Đường có một mỹ nữ mà những người con trai đều tranh nhau cưới, nàng nói trong một đêm nếu đọc thuộc được phẩm Phổ Môn sẽ lấy làm chồng, đêm ấy có hai mươi người thuộc, lại một đêm tụng trọn bộ kinh Kim Cang cũng sẽ lấy làm chồng, đêm ấy còn lại mười người, sau ba ngày có thể tụng thuộc Kinh Pháp Hoa thì sẽ kết ước. Trong số đó chỉ có người thanh niên họ Mã được chọn. Ngày kết hôn người con gái bỗng dưng chết biến thành ánh sáng bay lên không trung biến mất. Hình tượng Ngài cầm quyển Kinh Pháp Hoa và cây gậy có hình đầu lâu.


29.- Hợp Chưởng Quán Âm (Gassho Kannon)



Chính là hình tượng Quán thế Âm Bồ tát chắp tay cung kính lễ biểu thị tu thiện tích đức. Nếu có chúng sanh nhiều lòng dâm dục, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát thì liền được ly dục, nếu người nhiều sân nhuế, thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát thì liền được ly sân, nếu người nhiều ngu si thường cung kính niệm Quán Thế Âm Bồ tát, thì liền được ly si.Tâm không vô niệm thì liền hiển hiện cảnh giới tam muội. Ngài mặc y trắng chấp tay ngồi trên bệ đá.

30.- Nhất Như Quán Âm (Ichinyo Kannon)



Quán Thế Âm Bồ tát cưỡi mây bay trong hư không chinh phục lôi điện sấm sét. Phẩm Phổ Môn chép: “mây sấm nổ sét đánh, tuông giá xối mưa xuống, do sức niệm Quán Âm, liền đặng tiêu tan cả”. Nhất như có nghĩa là bất nhị, bất dị; Bất Nhị Bất Dị là Chơn Như. Chơn Như là sự sự vô ngại biến mãn khắp pháp giới. Quán Âm diệu trí lực chính là pháp quán nhất như.

31.- Bất Nhị Quán Âm (Funi Kannon)



Là biểu tượng bổn và tích bất nhị của Quán Thế Âm. Phẩm Phổ Môn chép: “người đáng dùng thân chấp kim cang Thần đặng độ thoát, liền hiện Chấp Kim Thần mà vì đó nói pháp. Quán Thế Âm là vị thủ hộ cho Phật, cũng là ứng hóa thân của Phật, vì bổn và tích đều chẳng phải hai nên gọi là Bất Nhị Quán Âm. Hình tượng Ngài ngồi trên bệ đá hai tay chấp trì kim cang xử. 

32.- Trì Biên Quán Âm (Jiren Kannon)



Là Quán Thế Âm Bồ tát tay cầm hoa sen. Quán Thế Âm Bồ tát lấy hoa để biểu trưng cho bổn thệ, vì cầm hoa sen đã nở hay chưa nở nên còn gọi là liên hoa thủ. Vì hoa sen có nhiều nhơn duyên đặc thù nên cũng lấy hoa sen làm đài. Hình tượng Quán Âm đứng trên lá sen, hai tay cầm hoa sen, đầu đội bảo quan, mặc thiên y, viên mãn trang nghiêm.

33.- Sái Thủy Quán Âm (Shasui Kannon)



Là Quán Thế Âm Bồ tát đứng trên tường vân tay cầm chén nước rưới xuống. Lòng bi răn như sấm, ý từ diệu dường mây, như mưa pháp cam lộ, dứt trừ lửa phiền não. Sái thủy là rưới một loại nước thơm, là pháp tu tụng niệm gia trì làm cho thanh tịnh. Đây là bổn thệ của Quán Thế Âm để khai ngộ Phật tánh của tất cả chúng sanh.

~~ooo~~

*Danh sách này không tuyệt đối cố định và có thể tìm thấy nhiều dị bản. Tương tự như vậy, rất nhiều những hình tướng này cũng không rõ ràng dứt khoát và không phải lúc nào ta cũng có thể biết chính xác chúng tương ứng với cái gì. Hình tướng của Quán Thế Âm không giới hạn vào ba mươi ba hình tướng này. Bởi vì Quán Thế Âm, từ bản chất là một vị Bồ tát đầy lòng từ bi, nên ngài luôn luôn được sùng mộ sâu xa. Do vậy, dân chúng vào mọi thời, đã tạo ra những hình tướng khác nhau và đặt ở khắp nơi, những hình tướng thường mang sắc thái hòa đồng tôn giáo. Những phương diện của Quán Thế Âm đôi khi còn được bội nhân, như thể sự gia tăng số lượng có thể làm tăng thêm quyền năng nhìn thấy và phổ biến lòng từ bi. Chúng gồm "Bách Quán Âm" trong chùa Hojo, "Thiên Quán Âm" trong chùa Sanjusangendo ở Kyoto và "Tam thiên Quán Âm" ở Shizuoka cho Nhật Bản, những nhóm tám hay ba mươi hai Quán Âm ở Trung Quốc và "Thiên Quang Phật" trong nghệ thuật Khmer và Miến Điện.Ở Nhật, nơi những hình tướng này xuất hiện đông đảo nhất, còn gồm có Thủy Thượng Quán Âm (Nurete Kannon) nơi chùa Kiyomi-zu-dera ở Kyoto mà tín đồ có tập tục dìm mình xuống nước. Tuy nhiên Quán Âm được biểu thị nhiều nhất là trong những hình tượng Raigo, chân quỳ, hai tay đưa một đóa hoa sen (hay một khay đựng hoa sen) cho tín đồ đi đến trú xứ Sukhavati, Tĩnh Thổ của Phật A Mi Đà.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.