bài viết trong chuyên mục "an lạc"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn an lạc. Hiển thị tất cả bài đăng

 

Áo cà sa là gì? Mấy ai hiểu được giá trị tâm linh ẩn sau tấm áo giản dị?

Nguồn gốc của áo cà sa sẽ được hé lộ khi bạn tìm hiểu áo cà sa là gì và bạn càng hiểu thêm phần nào về vẻ đẹp của nó cũng như giá trị lịch sử của chiếc áo qua thời gian.

1. Áo cà sa là gì?


Cà sa - dịch từ tiếng Phạn là Kasaya tên đầy đủ là cà sa duệ. Sách chữ Hán dịch Kasaya là đạm (màu nhạt), trọc hay trược (đục, dơ bẩn, ô nhiễm, rác bẩn), hoặc còn dịch chữ này là hoại sắc, bất chính sắc, hư nát, dính bẩn…

Vì thế Kasaya không chỉ có ý nghĩa là y áo, y phục mà có nghĩa là bạc màu - ý nói lên rằng những người khoác tấm áo này có một đời sống khiêm tốn nhất, đơn sơ nhưng nhất mực cao quý và giá trị.

Tóm lại, chiếc áo cà sa của người Phật tử xuất gia tượng trưng cho những gì nghèo nàn, thô sơ, giản dị và khiêm nhường nhất.
 
ao ca sa la gi
 
 

2. Câu chuyện về nguồn gốc của chiếc y cà sa

 
Khi tìm hiểu về áo cà sa là gì chúng ta tạm hiểu rằng "Cà sa" là tên gọi chung các loại y phục dành riêng cho hàng Phật tử xuất gia nhưng về hình dáng, màu sắc là khác nhau giữa các tông môn, hệ phái Phật giáo là do tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, môi trường, khí hậu, phong tục, tập quán… Ngày nay tùy theo truyền thống của từng pháp phái, địa phương, phong tục, khí hậu… mà chiếc áo cà-sa cũng phần nào có sự cải biến, từ cách may cho đền màu sắc.
 

Câu chuyện 1:


Theo kinh điển thì y phục của người khất sĩ thời bấy giờ được may bằng những mảnh vải vụn bị vứt bỏ, có thể là do lửa cháy, bị quào rách, hoặc là vải quấn thây người chết,… Những mảnh vải vụn đó được may lại thành một tấm hình vuông hay chữ nhật đủ để quấn thân, rồi được nhuộm bằng màu từ các loại thảo mộc, tạo nên một loại màu tạp, nhìn không được sạch sẽ.

Khi Đức Phật rời bỏ hoàng cung để tìm đạo, theo truyền thống, Ngài đổi bộ đồ sang quý của Ngài để nhận lấy bộ đồ của người khất sĩ. Đó là chiếc áo mà Đức Phật đã mặc trải qua nhiều năm tìm đạo trước khi Ngài chứng quả Phật.

Bởi vậy, chiếc y cà sa mới mang hình của các mảnh vải vụn được ráp nối với nhau.  Điều đó cho thấy chiếc áo cà sa là biểu tượng của những gì khiêm tốn, đơn sơ và giản dị nhất mà ta có thể tưởng tượng ra. Nhưng đồng thời điều đó cũng toát lên một ý nghĩa hết sức lớn lao của chiếc áo cà sa trong đạo Phật, đó là để nhắc nhở các nhà tu hành Phật giáo về tấm thân vô thường của họ tại thế gian. 
 
Câu chuyện 2: Theo Luật tạng, quá trình chiếc áo cà sa ra đời do lúc ban đầu, Tăng đoàn của Phật y áo không khác biệt gì với những người tu hành thuộc các truyền thống tôn giáo khác và họ đề xuất muốn có tấm áo để mọi người dễ nhận ra.

Vào thời điểm ấy, Phật và người đệ tử thân cận nhất là A-nan-đà (Ànanda) đang trên đường du hành phương Nam để thuyết giảng, Phật thấy những thửa ruộng lúa hình chữ nhật, chia cắt bởi những đoạn bờ thẳng tăm tắp.

Người nảy ra ý định dùng hình ảnh này cho chiếc áo của Tăng đoàn, Phật liền bảo A-nan-đà cứ theo mẫu ấy mà làm. Kể từ đó, chiếc y cà sa mang hình những thửa ruộng được ghép từ các mảnh lại với nhau trông như những thửa ruộng nối nhau đều tăm tắp. Trong tiếng Hàn, chiếc áo cà-sa còn được gọi là cát triệt y, điền tướng y tức là áo hình thửa ruộng.
 
Màu sắc của chiếc y cà sa không nhuộm hẳn bằng một màu nào cả, tránh không dùng năm màu chính là xanh, vàng, đỏ, trắng và đen, vì vậy, chiếc y cà sa được pha trộn nhiều màu để tạo ra một màu sắc thật giản dị, đúng theo ý nghĩa nguyên thủy của chữ Kasaya trong tiếng Phạn. 
 

3. Giá trị tâm linh của chiếc y cà sa:

 
Chiếc y cà sa, từ tác dụng ban đầu là vật thiết yếu của mỗi người tu sỹ trong cuộc sống tu hành, dùng để phân biệt người tu sỹ Phật giáo với các tôn giáo khác, đã được hình tượng hóa và mang một ý nghĩa thiêng liêng:

- Chiếc y cà sa là biểu tượng cho đạo Phật, cho sự màu nhiệm của Phật pháp. Chiếc y cà sa không chỉ mang ý nghĩa vật chất mà đã chuyên chở các ý nghĩa tinh thần, trở thành pháp bảo độ trì cho những người con Phật tu hành theo đúng chánh pháp.

- Áo có nhiều mảnh cũng là sự biểu trưng cho con đường tu tập hướng đến giác ngộ có nhiều thứ lớp, giai đoạn. Đức Phật đã trải qua vô lượng kỳ kiếp để đạt đến chứng quả Bồ đề. Mỗi hành giả đời sau phải liên tục tích lũy công đức, tạo phúc, sửa chữa lỗi lầm, làm cho tâm trong sạch, bảo vệ tăng đoàn trước những nghiệp chướng, biết chờ đợi đủ nhân duyên, đúng thời kỳ mới có được thành tựu. 

- Mỗi lần nhìn thấy chiếc y cà sa của mình vị tỳ kheo đều nhớ biết mình là người xuất gia mà lo tinh tấn với đạo nghiệp, nếu bỏ qua điều đó sẽ làm uổng phí đời sống xuất gia, uổng phí thiện tâm của đàn thí.Không như pháp phục của những tôn giáo khác, chiếc áo cà sa của đạo Phật không thuần túy chỉ là chiếc y che mình mà đã trở thành một hình ảnh mang tính biểu trưng của Phật giáo.  Chiếc cà sa của đạo Phật ngoài tác dụng để che thân còn có tác dụng như một tấm chăn đắp hay dụng cụ để ngồi, vì vậy, chiếc y cà sa còn có tên gọi là phu cụ (dụng cụ để đắp) hay tọa cụ (dụng cụ để ngồi). 

- Đối với hàng phật tử xuất gia, được khoác trên mình chiếc y cà sa để hoằng dương chánh pháp, lợi lạc quần sinh là một hạnh duyên thù thắng mang lại nhiều hạnh phúc, an lành và thành tựu.

-  Ý nghĩa khiêm nhường và giản dị của chiếc y cà sa: Áo được may bằng cách ráp nối những mảnh vải vụn lượm lặt lại với nhau sẽ tiết kiệm vải rất nhiều và có thể thay các miếng khác nhau khi có miếng nào bị rách, hỏng. Và hơn thế, khi chư tăng nhận phẩm vật cúng dàng của phật tử, tùy khả năng của phật tử cúng dàng những mảnh vải lớn hay nhỏ, đều được sử dụng, mang lại lợi ích và không lãng phí. 
 
- Chiếc y cà sa khi xuất gia đủ được khoác lên mình chiếc y cà sa sẽ có thêm sức mạnh để ngăn ngừa những tội lỗi, đoạn trừ những phiền não, làm cho những điều xấu không thể xâm nhập vào thân thể.

- Áo cà sa như là lời nhắc nhở để nhà tu hành tránh được tham sân si cám dỗ, tác động, làm nảy sinh trong lòng những điều thiện và sự từ bi. Đó cũng chính là những giá trị tinh thần tốt đẹp mà đạo Phật đang vun bồi và hướng tới.

- Tăng đoàn mang trên mình bộ y cà sa như một sự nhắc nhở phải luôn nhớ đến công ơn sâu dày của đàn tín. Các nhà tu hành được thụ thí từ sự cúng dường của phật tử để thanh thản, an tâm lo tu học đó là nhờ công lao khó nhọc biết bao người. Vậy mỗi tỳ kheo phải luôn niệm tưởng và làm sao cho xứng đáng với công ơn đó.

- Người xuất gia khoác lên người chiếc áo cà sa cũng là để tự kiểm chứng bản thân mình, giúp họ luôn giữ giới, nhắc nhở họ không được tà dâm, sát sinh, trộm cắp, không sân si, bám níu… Chiếc áo ấy đem đến sự an lạc, giúp họ phát lộ lòng từ bi, giúp tăng trưởng trong tâm thức sự can đảm, tinh tấn, sức mạnh và trí tuệ để tu tập

bước vào sự thinh lặng

Mấy ngày nay trời trở lạnh.  Lại thêm cơn mưa ướt át luồn trong gió, thấm vào không gian làm mình cảm thấy lạnh hơn.  Tối qua trời có gió thật lớn, tôi nghe tiếng lá ào ạt nổi lên từng đợt ngoài sân, gió lùa ập mạnh vào khung cửa sổ.  Sáng bước ra ngoài, sân nhà đêm trước phủ đầy lá, giờ sạch không!  Khu rừng nhỏ sáng nay cũng đã rụng gần hết lá.

Vào những ngày được nghỉ, chúng ta thường có thì giờ dành riêng cho chính mình.  Nhưng bạn biết không, giữa một cuộc sống quen với những bận rộn và vội vã, đôi khi có dịp ngồi yên lại, dường như người ta lại cảm thấy rất xa lạ trước sự có mặt của một không gian lặng yên.
Bước Vào Sự Thinh Lặng
Ngày xưa tôi có xem một cuốn phim với tựa đề “Into the Great Silence.”  Đây là một cuốn phim tài liệu về đời sống trong tu viện cổ Grande Chartreuse trên vùng núi Alps ở Pháp.  Cuốn phim quay lại những sinh hoạt hằng ngày trong hoàn toàn thinh lặng của các tu sĩ thuộc dòng tu kín Carthusian.
Người đạo diễn của cuốn phim đã phải sống trong tu viện nửa năm, và chỉ quay phim bằng ánh sáng của thiên nhiên.  Và để tránh ảnh hưởng đến đời sống thinh lặng của các tu sĩ, ông ta không được phép tiếp xúc, nói chuyện với bất cứ ai trong tu viện, và cũng không được mang theo một người nào khác trong đoàn làm phim.
Lẽ dĩ nhiên là sự thinh lặng trong tu viện không phải hoàn toàn tuyệt đối.  Cũng có lúc các vị tu sĩ nói chuyện và phát biểu, như trong các buổi lễ, khi sinh hoạt chấp tác, hay vào mỗi cuối tuần khi cùng đi dạo bên ngoài.  Nhưng tinh yếu của sự thực tập vẫn đặt trên nền tảng của một sự thinh lặng.
Cuốn phim mở đầu bằng một cảnh mùa đông, khi cả vùng núi Alps và tu viện phủ tuyết trắng xoá, vạn vật như đông đá.  Giữa khung cảnh thinh lặng, ngồi trong tu viện nhìn ra khung cửa sổ, ta dường như nghe được âm thanh của từng bông tuyết rơi.  Trong thinh lặng, ta có thể cảm nhận được sự có mặt của những sự kiện tầm thường chung quanh mình, một cách thật sâu sắc.  Thời gian từ tốn xoay không gian, tiếng cây lá chuyển mùa, giọt nước đá tan trên cỏ, áng mây trôi ngang qua, bầu trời khuya vụn vỡ ngàn sao… tất cả đều đang vận hành tự nhiên trong một thế giới lặng yên.
Điều ta cần lắng nghe là chính mình
Cuộc sống hằng ngày của chúng ta, so với cuốn phim ấy, là một thế giới hoàn toàn khác hẳn.  Những bận rộn chung quanh khiến ta không có thì giờ để ngồi yên, để thật sự tiếp xúc được với những gì đang có mặt.
Trên con đường đi, bạn có bao giờ nghe được âm thanh của một chiếc lá rơi, hay một khuya bước qua cửa sổ chợt dừng yên nhìn sân cỏ trước nhà ngập ánh trăng...  Thật ra, trong cuộc sống ngày nay chúng ta ít khi có cơ hội để sống với thinh lặng, mà tôi nghĩ dẫu có đi chăng nữa, ta có khả năng tiếp xúc được với nó chăng?
Tôi được nghe một người quen kể rằng có lần anh đi ăn trưa với một nguời bạn.  Anh chọn một quán ăn nhỏ vắng người, để hai người có dịp nói chuyện.  Trong tiệm ít khách, chỉ có những âm thanh hỗn tạp bình thường của tiếng chén dĩa trong nhà bếp, tiếng máy tính tiền, vài người khách nói chuyện ở dãy bàn bên kia, tiếng nhạc êm nhẹ…  Bất chợt điện trong phòng bị cúp!  Không gian chung quanh như đứng dừng hẳn lại, căn phòng đột nhiên trở nên im phăng phắc một cách lạ kỳ.  Anh bạn nói, sự thinh lặng bất chợt ấy thật khó chịu và như điếc cả tai It’s deafening!  
Nhưng giây phút ấy đã khiến anh chợt dừng lại và ý thức được rằng, sự ồn ào trong cuộc sống đã giúp chúng ta tạm làm khỏa lấp một khoảng trống trong chính mình.  Có lẽ vì vậy mà người ta lại thường tìm cách trốn tránh sự yên lặng, để khỏi phải đối diện với một sự trống vắng trong ta…
Tôi nhớ có một đoạn trong cuốn phim, vào một ngày cuối tuần đi ra ngoài, họ cùng ngồi với nhau bàn thảo về một vài nghi thức trong buổi lễ ban sáng.  Một vị tu sĩ phát biểu, “Không phải mục đích của những biểu tượng là để chúng ta tìm hiểu về ý nghĩa của chúng, mà chính ta mới là điều cần phải được tìm hiểu.”  Thật ra, những lễ nghi hình thức chung quanh chỉ để giúp ta quay lại và thấy ra được chính mình mà thôi.  Các tu sĩ ấy không hề đặt câu hỏi về sự thinh lặng, mà chính sự thinh lặng đã đặt ra câu hỏi về chính họ.   
Và bạn cũng đừng nghĩ rằng thinh lặng có nghĩa là ta không làm gì cả, mà khi ta có một sự thinh lặng, ta sẽ tiếp xúc được với những yếu tố mầu nhiệm tự nhiên đang có mặt chung quanh mình, với một cái nhìn sâu sắc.
Vẫn là nhiệm mầu
Nhưng mầu nhiệm không có nghĩa là sự việc sẽ xảy ra theo ý mình muốn, mà mầu nhiệm có nghĩa là vì nó trong sáng tự nhiên.  Có thể đối với ta thì trời xanh mây trắng mới là mầu nhiệm, nhưng đối với người khác có thể trong cuộc đời họ đang cần một ngày mưa mát.  Một buổi sáng bước ra ngoài, dưới nắng ấm, thân ta vui khoẻ, hoặc một chiều bước chân ở sở về, tâm ta đầy những lo lắng và mệt mỏi.  Cả hai giây phút ấy có thật sự là nhiệm mầu như nhau không bạn hả? 
Tôi nhớ có một vị thiền sư thường ca ngợi giây phút hiện tại nhiệm mầu.  Có một thiền sinh phát biểu, trong giây phút này anh ta đang gặp những vấn đề khó khăn và có nhiều đau đớn, đời sống đâu có gì là nhiệm mầu?  Vị thiền sư đáp, tuy cuộc sống có những lúc khó khăn, không dễ chịu, nhưng nó vẫn là nhiệm mầu.  It’s not pleasant, but it’s still wonderful!
Nó nhiệm mầu là vì ta vẫn có điều kiện để tiếp xúc được với thực tại, để thấy được những gì thật sự đang xảy ra, để buông bỏ những dính mắc của mình, để thấy sự vận hành của pháp, để biết được sự có mặt của tuệ giác và tình thương chung quanh ta.  Mà tất cả những điều ấy chỉ có thể xảy ra trong giây phút này mà thôi!
Thênh thang như bầu trời
Hạnh phúc không phải là vì sự việc xảy ra theo ý mình, mà do ở thái độ buông xả của ta.  Trong một khoá tu tôi được học một bài kệ về hạnh phúc, và tôi vẫn thường thầm ghi nhớ nó vào mỗi buổi sáng, trưa, chiều, tối, trong những ngày bên ngoài nhiều mưa gió hoặc vào những hôm trời đầy nắng ấm.
Mong cho trong tôi không có sự thù nghịch nào
Mong cho tâm tôi được an vui và hạnh phúc
Mong cho thân tôi được an ổn và nhẹ nhàmg
Mong cho tôi được thảnh thơi
Nhưng bạn cũng đừng nghĩ đó là một sự mong cầu nào hết, vì mục tiêu của nó là cả một bầu trời rộng mênh mông!  Thật ra những lời kệ ấy không phải là một sự tập luyện hay mong muốn nào mà chỉ để nhắc nhở cho ta có một thái độ buông bỏ, và trở về lại với những gì trong lành đang có mặt sẵn trong ta.

Hãy buông bỏ đi những khổ đau không cần thiết, vì trong ta không có một sự thù nghịch nào, chỉ là an vui và hạnh phúc, là an ổn và nhẹ nhàng.  Mỗi niệm như một mũi tên buông thả, bay thong dong vào bầu trời cao rộng thênh thang, nơi nào nó đến cũng là mục đích.  Vì trong một sự tĩnh lặng lớn mọi việc đều có mặt trong sáng và tự nhiên.
Nguyễn Duy Nhiên



free hit counter

buông xả mới có chánh niệm

Ngày nay trong sự tu học, chúng ta thường được hướng dẫn áp dụng chánh niệm (mindfulness) vào trong mọi vấn đề.  Như mỗi khi có một cơn giận hay buồn lo nào, chúng ta thường được nhắc nhở hãy dùng chánh niệm để tiếp xúc với cơn giận ấy.  Và rồi với năng lượng của chánh niệm, những khó khăn ấy sẽ được chuyển hóa.
Nhưng theo ông Andrew Olendzki điều đó có thể sẽ dẫn đến một sự hiểu lầm về chánh niệm.  Vì chánh niệm không phải chỉ đơn giản là một sự chú ý đơn thuần, mere attentionvề đối tượng của nó.  Ông viết “Khi ta giận ta có thể biết rõ là mình đang giận.  Nhưng cái biết ấy sẽ không hề mang lại một sự chuyển hóa nào…  Bạn có thể chú ý đến cơn giận của mình cả ngày, và cho phép nó có mặt ‘mà không phê phán’, trong khi nó vẫn cứ thiêu đốt sâu vào con tim mình.”
Chánh niệm là một tâm hành, mental formation, và theo ông thì muốn chánh niệm có được công năng chuyển hóa ta phải hiểu rõ về sự vận hành của nó.  Xin chia sẻ với bạn bài viết dưới đây của ông Andrew Olendzki, giới thiệu về một phương pháp sử dụng chánh niệm thế nào cho có hiệu quả để chuyển hóa khổ đau.
--- oOo ---
Hai quan niệm về chánh niệm
Một trong những vấn đề của chánh niệm, mà vẫn còn nhiều sự bàn cãi, là chúng ta có thể nào có chánh niệm về những trạng thái bất thiện lành (unwholesome states), như là sân hận và thù ghét hay chăng?
Một quan niệm thì cho rằng ta có thể có chánh niệm về bất cứ một việc gì.  Và nhờ vậy mà khi ta có chánh niệm về một trạng thái bất thiện lành nào đó, ta có thể có mặt với trạng thái ấy mà không phê phán, không đè nén và cũng không bị nó sai xử.
Và có một quan niệm khác lại cho rằng, vì chánh niệm là một trạng thái thiện lành, và sân hận là một trạng thái bất thiện, mà tâm ta thì không thể nào kinh nghiệm hai trạng thái trái nghịch nhau trong cùng một giây phút tâm được (in the same mind-moment).  Thế cho nên, khi ta có chánh niệm về một cơn giận, thật ra là tâm ta đang chuyển đổi thật nhanh giữa hai trạng thái ấy mà thôi – giây phút của chánh niệm và giây phút của sân hận.
Không thể có hai tâm hành cùng một lúc
Theo tôi thì quan niệm thứ hai đúng hơn.  Và tôi cũng muốn làm sáng tỏ thêm quan điểm này, cũng như muốn chia sẻ với bạn một phương cách rất hiệu quả, có thể giúp chúng ta chuyển hóa được những trạng thái bất thiện, và hướng tâm mình đến sự chấm dứt khổ đau.  Thật ra thì dù ta có quan điểm nào về cơ cấu của phương cách giải thoát đi nữa, cuối cùng rồi thì nó cũng không quan trọng lắm.  Điều thiết yếu là làm sao ta có khả năng ứng dụng được chúng vào với kinh nghiệm của chính mình, để mang lại một sự chuyển hóa.
Khi nhìn sâu sắc ta sẽ thấy rất rõ điều này, là một người không thể nào giữ hai việc trong tâm trong cùng một lúc được.  Nếu như ta có cảm nhận như mình làm được việc ấy, thật ra ta đang sử dụng một tư tưởng toàn diện rộng lớn (peripheral thought).  Ta chỉ đang tạm giữ những dữ kiện ấy trong ký ức ngắn hạn hoặc ở bên dưới phần ý thức của mình mà thôi.  Vì khi nhìn sâu hơn vào kinh nghiệm ấy ta sẽ thấy rằng, nếu muốn biết được một việc gì cho thật rõ, ta phải thu hồi lại sự chú ý của mình trên những sự việc khác.  Cũng như đức Phật có dạy trong bài kinh Song Tầm, Dvedhavitakka Sutta, “Này các Thầy, một vị Tỳ kheo suy tư quán sát nhiều về sự sân hận, vị ấy từ bỏ ý nghĩ về vô sân, và tâm vị ấy có khuynh hướng thiên về sự sân hận”  “If one frequently thinks and ponders upon thoughts of ill will, one has abandoned the thought of non–ill will and one’s mind inclines to thoughts of ill will.
Chánh niệm không chỉ là sự chú ý đơn thuần
Và một điều nữa cũng rất rõ ràng, chánh niệm là một trạng thái rất thiện lành.  Nó là một tâm hành, sankhara, một thái độ hay phản ứng có ý thức về một đối tượng tâm thức nào đó.  Chánh niệm là một thái độ trong sáng tĩnh lặng, nó có mặt với đối tượng mà không hề có một sự ưa thích hay ghét bỏ nào.  Sân và hận cũng là những tâm hành, giống như những trạng thái bất thiện khác, nhưng chúng là những phản ứng có tính cách ghét bỏ và ác cảm.  Chúng hoàn toàn khác biệt lại với chánh niệm. 
Vì vậy mà một người không thể nào kinh nghiệm sự ghét bỏ và tĩnh lặng trong cùng một lúc được, chúng là hai trạng thái tâm thức khác nhau rất xa.  Nhưng dù vậy, ta vẫn có thể thay đổi tới lui thật nhanh giữa hai trạng thái này, mà đó là cũng là một tiến trình vận hành rất quen thuộc của tâm.
Ví dụ, khi ta nói là mình đang có chánh niệm về cái giận, thật ra là ta chỉ có ý thức về cái giận, hoặc là ta đang chú ý đến trạng thái giận của mình mà thôi.  Ngày nay, sự thành công của chánh niệm áp dụng vào trong lãnh vực tâm lý trị liệu, và qua những khám phá mới của khoa học, cũng gây nên một sự mất mát là người ta thường nhầm lẫn chánh niệm chỉ là một sự chú ý đơn thuần mà thôi.  Và theo môn tâm lý học Phật giáo ngày nay thì ta lại còn có thể đem tâm chú ý đến những trạng thái bất thiện của một kinh nghiệm, và ngay cả làm việc ấy một cách có chủ ý và theo một phương pháp cụ thể nữa.
Phương cách mà tôi muốn chia sẻ
Nhưng thật ra sự chú ý chỉ có thể trở nên chánh niệm khi nào nó vắng mặt những trạng thái bất thiện.  Khi ta giận ta có thể biết rõ là mình đang giận.  Nhưng cái biết ấy sẽ không hề mang lại một sự chuyển hóa nào.  Chúng ta chỉ có chánh niệm về cơn giận khi nào nó đã trở thành bóng dáng, tiếng vang của chính nó trong giây phút tâm kế tiếp.  Và khi đó cơn giận ấy mới có thể được quan sát như là một đối tượng của tâm, với một thái độ chú ý và không dính mắc – nói một cách khác, bằng chánh niệm.
Và đây là phương cách mà tôi muốn chia sẻ: Khi có một sự giận dữ nổi lên, ta không thể nào chuyển hóa được nó bằng cách “có chánh niệm về cơn giận của mình.”  Năng lượng của cơn giận quá mạnh, và xung lực cảm xúc của nó cũng rất mãnh liệt, tâm ta không đủ trong sáng trong giây phút ấy để cho phép một chánh niệm thật sự khởi lên.
Nhưng dù vậy ta vẫn có thể chú ý đến sự biểu hiện của cơn giận ấy trong thân ta – cơ thể của mình cảm thấy như thế nào khi ta nổi giận?  Và khi ta nhìn sâu và khám phá những dấu hiệu này nơi thân một cách chi tiết và sâu sắc hơn, một thái độ thận trọng quan sát sẽ dần dà được phát triển.  Ví dụ, bạn có thể thử ghi nhận cái sắc thái, sự co thắt của những bắp thịt ở quai hàm trên mặt đang thay đổi một cách vi tế, từ giây phút này sang giây phút kế.
Chánh niệm trên đối tượng của tâm
Với phương pháp này, ta có thể buông xả được cái ý nghĩ và ký ức về những gì đã làm kích động nên cơn giận ấy, và kinh nghiệm được những giây phút chánh niệm trên cơ thể mình.  Và khi ta thiết lập được một số năng lực của thiện lành, ta có thể từ từ chuyển sự chú ý của mình sang để quán sát cảm xúc của ngay chính cơn giận ấy.
Bây giờ, cơn giận không còn là một cảm xúc bừng cháy và thiêu đốt bất cứ những gì nó kinh nghiệm nữa, mà đã trở thành một tư tưởng hay ký ức về cảm xúc ấy.  Cơn giận lúc này đã trở thành một đối tượng của tâm, không còn là một tâm hành, và nó có thể được quán chiếu bằng sự tĩnh lặng và với chánh niệm.  Cơn giận không còn trói buộc và sai xử tâm mình nữa, mà chỉ còn là một đối tượng của sự chú ý, nằm ngoài xa mà thôi.
Có buông xả mới có chánh niệm
Và chỉ trong tình trạng ấy, chánh niệm mới có được năng lượng chuyển hóa.  Bạn có thể chú ý đến cơn giận của mình cả ngày, và cho phép nó có mặt “mà không phê phán”, trong khi nó vẫn cứ thiêu đốt sâu vào con tim mình.  Nhưng chỉ khi nào ta có thể buông bỏ được cơn giận ấy, dù chỉ trong một giây phút ngắn, thì chánh niệm mới có điều kiện để có mặt. Và đến khi nào chánh niệm có cơ hội thấm nhập sâu xa vào thói quen, tập quán và cá tính của mình, thửa đất tâm của ta sẽ dần dà bớt nuôi dưỡng những hạt giống của sân hận, và trở nên mầu mỡ cho sự phát triển của những cây trái tuệ giác.
Và rồi ta sẽ thấy rằng, mỗi lúc một rõ rệt hơn, cái giận cũng chỉ là một trạng thái biến đổi và nó không thuộc về của ai, nó được khích động do bởi một cái tôi nhỏ nhen và đầy sợ hãi, rồi làm phát sinh lên khổ đau.  Với một cái thấy ấy, những trạng thái bất thiện lành sẽ bớt khởi lên hơn và cũng trở nên bớt mãnh liệt hơn.
Sự chú ý cần phải được phát triển để trở thành chánh niệm, nếu như chánh niệm muốn được phát triển để thành tuệ giác.
Nguyễn Duy Nhiên

free hit counter

có thấy gì không?

Tôi nhớ trong kinh kể lại sau khi thành đạo dưới cội bồ đề, đức Phật đã do dự không muốn đi truyền dạy, vì nghĩ rằng có lẽ sẽ ít ai hiểu được con đường giải thoát mà Ngài vừa tìm ra.  Ngày xưa tôi nghĩ, có lẽ đức Phật do dự là vì giáo lý của Ngài quá uyên thâm, với những lý Bát nhã, Trung quán, tánh Không, hay Bất nhị… thâm sâu quá, nên chắc khó ai có thể hiểu thấu được.
    Nhưng bạn biết không, bây giờ tôi nghĩ khác.  Đức Phật do dự có lẽ vì biết rằng giáo lý của Ngài tuy rất giản dị, nhưng có mấy ai thật sự hiểu được và chịu thực hành theo. Mấy ai chịu nhìn lại để thấy được nguyên nhân của khổ đau là do từ những ham muốn, sân hận và cố chấp của chính mình mà thôi.
    Mấy ai có thể thấy được những lỗi lầm của mình để buông bỏ, mặc dù nó vẫn ngay trước mắt.  Cái khó là ở chỗ ta biết quay nhìn lại, thay vì cứ mãi mê tìm kiếm xa xôi.  Và với một tình thương lớn, Phật đã rời cội Bồ đề bước chân vào cuộc đời để giúp chúng ta thấy rõ được điều ấy.
Có lần tôi đọc một câu chuyện vui về ông Nasrudin, một nhà hiền triết Trung Đông.  Ông thường hay làm những việc có vẽ như dại khờ để dạy người khác.  Một hôm ông và người bạn rủ nhau đi cắm trại ngoài sa mạc.  Tối đến, cả hai chun vào chiếc lều nhỏ nằm ngủ.
    Đến nửa khuya người bạn đánh thức ông dậy và nói: “Này anh, nhìn lên trên kìa, anh có thấy gì không?”  Nasrudin nói: “À, bầu trời ngoài sa mạc đầy sao sáng, đẹp tuyệt vời!”  Anh bạn hỏi, “Anh thấy như vậy là có nghĩa gì không?”  “Nhìn vô số những vì tinh tú trên bầu trời đêm, tôi thấy chúng ta quá nhỏ nhoi, kiếp người thật ngắn ngủi và vô nghĩa làm sao...” Nasrudin đáp.
    Người bạn hỏi tiếp, “Nhưng anh không thấy gì nữa sao?”  “Nếu mà theo chiêm tinh học, thì nhìn vị trí của các vì sao tôi có thể đoán là bây giờ khoảng hơn nửa khuya.  Vậy thì theo anh thì nó có nghĩa là gì?”  Người bạn đáp, “Tôi thấy là ai đã đánh cắp chiếc lều của chúng ta mất rồi!”
    Mà trên con đường tu học cũng vậy, nhiều khi chúng ta mãi lo tìm kiếm cao xa quá mà quên thấy được những gì đang có mặt, những nguyên nhân của khổ đau, ngay trước mắt mình.
Trích trong “Hơi thở của Phật” nguyễn duy nhiên

free hit counter




Giai điệu ánh trăng

nguyễn duy nhiên
Moonlight's melody

Translated into English
by nguyễn hồ kim ngân

Tôi không nghe nhiều nhạc cổ điển Tây phương, nhưng một trong những bài tôi thích nhất có lẽ là bài Moonlight Sonata, của Beethoven.  Bài này là piano sonata số 14 của ông, và Beethoven đề tặng cho cô học trò của mình là nữ bá tước Julie Guicciardi.
Sau khi Beethoven qua đời được vài năm, một nhà thơ người Đức, Ludwig Rellstab, đã so sánh những giai điệu mượt mà trong phần đầu của bài nhạc sonata ấy với ánh trăng trên mặt hồ Lucerne, Thụy Sỹ.  Và từ đó bản nhạc này đã được mọi người biết đến dưới cái tên Moonlight Sonata, Sonata ánh trăng.
Và cũng có nhiều giai thoại về sự ra đời của bài sonata này.




Nữ bá tước Guicciardi
Một giai thoại là lúc ấy Beethoven đang sống ở thành phố Vienna, nước Áo.  Để mưu sinh, ngoài việc sáng tác, Beethoven còn dạy nhạc cho con gái của các nhà quý tộc. 
Beethoven xấu trai nhưng lại mang một trái tim nghệ sĩ và đa tình.  Ông đem lòng yêu thương một người học trò của mình là nữ bá tước Julie Guicciardi.  Cô thiếu nữ dường như cũng biết tình cảm của Beethoven dành cho mình, nhưng cô chỉ im lặng, khiến Beethoven càng thêm hy vọng.  
Một hôm, Beethoven lấy can đảm và ngỏ lời với Julie dưới vòm hoa nhà cô vào một buổi tối sau khi dạy xong.  Nhưng cô đã từ chối tình cảm của ông.

Đêm hôm đó Beethoven đã lang thang một mình trong thành Vienna.  Ông đứng trên cây cầu bắt ngang trên dòng sông Danube.  Trăng đêm ấy rất sáng.  Beethoven như tỉnh giấc khi một mình đứng yên trong một không gian tĩnh lặng ngập tràn ánh trăng lấp lánh trên dòng sông Danube huyền ảo.  Và ông đã viết bài sonata ấy tặng cho Julie Guicciardi.


Một cô gái nhà nghèo
Và cũng có một giai thoại khác về xuất xứ của bài nhạc này.  Một buổi tối mùa đông, Beethoven cùng đi dạo với một người bạn.  Thành phố nhỏ với những con đường lát đá như huyền ảo dưới ánh trăng thật sáng.  Đang đi, hai người bổng nghe thoáng có tiếng đàn piano thanh thoát vang ra từ hướng một ngôi nhà nhỏ, trong một xóm tối tăm và nghèo nàn.  Beethoven dừng lại, lắng nghe một hồi rồi nói với người bạn, "Bài ấy là một bài nhạc sonata của tôi.  Người nhạc sĩ nào đang chơi bài ấy cũng khá giỏi đó!"
Đột nhiên tiếng đàn im bặt và có giọng nói của một người con gái trẻ, "Em không chơi nữa đâu.  Bài nhạc tuyệt hay mà em không thể nào diễn đạt được.  Em ước gì mình được một lần đi nghe buổi hòa nhạc do ông Beethoven trình diễn!"  Một giọng nam của người anh nói với em gái mình, "Em cũng biết là chuyện đó sẽ không bao giờ có thể xảy ra.  Chúng mình nghèo quá mà.  Tiền có đâu mà lấy đi xem!"
Beethoven quay sang nói với người bạn mình, "Tôi sẽ xin vào và chơi nhạc cho họ nghe.  Người con gái ấy là một nhạc sĩ rất có tài."  Nói xong ông đến gỏ cửa và xin vào.  Căn phòng bên trong nhỏ và tăm tối, trên bàn chỉ có một ngọn nến nhỏ cháy leo lét.  Người con gái dáng xanh xao và gầy yếu ngồi bên chiếc piano, người anh trẻ ngồi làm việc ở chiếc bàn gần bên.
"Xin lỗi anh," Beethoven nói, "Ta đi ngang qua đây và nghe tiếng piano đàn rất hay.  Ta cũng là một nhạc sĩ.  Ta muốn được chơi vài bài để tặng mọi người có được không?"
Người anh ngại ngùng nói, "Chiếc piano của chúng tôi quá cũ, và mình cũng không có một tập nhạc nào cho ông chơi."  Beethoven ngạc nhiên, "Không có tập nhạc?  Thế làm sao em của anh lại có thể..."  Ông dừng lại vì chợt khám phá ra rằng người con gái ấy bị mù.  Người con gái hổ thẹn đáp, "Cháu chỉ lắng nghe người ta tập nhạc mỗi ngày rồi cứ bắt chước theo.  Cháu yêu nhạc lắm."



Beethoven nghe vậy, bước đến bên chiếc piano ngồi xuống và ông bắt đầu chơi.  Ông đàn theo ngẩu hứng của mình, những ngón tay tự tuôn theo cảm xúc trào dâng của một người nhạc sĩ thiên tài.  Tiếng nhạc rơi từng nốt, lúc nhẹ nhàng thanh thản như ánh trăng, lúc lại dào dạt, mênh mông như dòng sông Danube.  Tiếng đàn nhẹ bổng bay cao vượt lên trên mọi vất vả, lo toan, muộn phiền của cuộc sống, không còn những mảnh đời khổ lụy, không có số phận bi thương, không còn những nỗi tuyệt vọng.  Tất cả bây giờ là một thế giới lung linh, kỳ ảo như trong một trang truyện cổ tích thần tiên.  Ánh trăng như đọng lại rơi xuống trong không gian tĩnh lặng thành những giọt sáng.
Hai anh em lặng yên say mê lắng nghe tiếng đàn huyền diệu của Beethoven.  Bài nhạc vừa dứt, người con gái thốt lên, "Ông đàn hay quá!  Bài nhạc thật tuyệt vời!  Thưa ngài, ông là ai?"  "Cô hãy nghe bài này!"   Beethoven chơi một trong những bài sonata của mình.  Người con gái thốt lên mừng rở, "Cháu biết rồi!  Ông là ngài Beethoven.  Cháu sung sướng quá đi thôi!"
Lúc ấy ngọn nến trên bàn cũng cháy hết và tắt ngúm.  Người bạn của Beethoven bước đến cửa sổ và vén chiếc màn ra, ánh trăng ngoài sân lùa vào ngập tràn căn phòng nhỏ.  Beethoven tiếp tục chơi một bài nhạc khác với tất cả tâm hồn mình, những nốt nhạc tuông chảy nhẹ nhàng, mượt mà và trong sáng như ánh trăng.  Và rồi ông dừng lại.
"Cháu thành thật cám ơn lòng tốt của ông," người con gái mù nói, "xin ông lại ghé qua chơi với chúng cháu."  "Ta sẽ trở lại thăm và dạy cho cô chơi đàn,"  Beethoven đáp.
Beethoven giả từ ra về.  Trên đường đi ông quay sang nói với người bạn, "Tôi cần về nhà ngay bây giờ để ghi chép lại bài sonata mới ấy."



Mặt nước không xao
Giai thoại nào cũng hay phải không bạn.  Những tác phẩm lớn lại thường có những câu truyện cũng huyền thoại như chính nó.  Có lẽ những giai thoại ấy chỉ muốn nói rằng, giữa những hệ lụy, khổ đau của cuộc sống lại thường làm phát sinh nên những tác phẩm, những sáng tạo lớn.  Khổ đau không làm mờ nhạt đi những cái hay và chân thật của cuộc đời, mà nhiều khi lại còn giúp ta nhìn lại những cái đẹp của cuộc sống và làm chúng được tỏ sáng thêm hơn.  Như những ánh trăng rơi trên một mặt hồ lặng trong và chưa từng một lần bị xao động,

Trúc ảnh tảo giai trần bất động.
Nguyệt xuyên hải để thủy vô ngân

Bóng trúc quét sân trần chẳng động
Vầng trăng xuyên biển nước không xao 

I am not an avid listener of the classical compositions of the great European masters, but one of my favorite pieces is Beethoven's Moonlight Sonata. This piece is his piano sonata number 14 that he dedicated to his student, Countess Julie Guicciardi.
A few years after Beethoven had passed away, a German poet named Ludwig Rellstab compared the elegant melody in the first part of the sonata to the moonlight on Lucerne Lake in Switzerland.  Since then, this piece has been known by everyone as Moonlight Sonata.

There are many tales about the sonata's origin.

Countess Guicciardi
One story is that around that time Beethoven was living in Vienna, Austria.  Aside from composing, he made a living by teaching music for daughters of the aristocrats.
Beethoven was not an attractive man but he had an artist's heart and was a hopeless romantic.  He fell in love with one of his students, Countess Julie Guicciardi.  The girl seemed to know about his feelings for her, but she stayed silent.  This made Beethoven even more hopeful.
One day, after an evening lesson at her house, Beethoven gathered all his courage and confessed his love to Julie under the flowered arbor.  However, she rejected his love.
That night Beethoven wandered about Vienna.  He stood on the bridge which ran across the Danube River.  It was a moonlit night.  Standing alone in a silent space that was filled with silvery moonlight on the mystic Danube, Beethoven was like a person just awakened from a slumber.  He wrote the sonata and dedicated it to Julie Guicciardi.

The destitute girl
There is also another story about the sonata's origin.  One winter evening Beethoven was strolling with a friend.  The small town with stone paved streets seemed magical under the bright moonlight.  As they were walking, a graceful piano sound came from a small house, which stood in a dark and impoverished neighborhood.  Beethoven stopped.  He listened for a while, then told his friend, "It is the sonata that I composed.  Whoever this musician is, he plays fairly well!"

The piano sound suddenly stopped.  There was a voice of a young girl, "I am not playing anymore.  It is a wonderful piece and I don't perform it well.  If only I could watch a concert by Mr. Beethoven!"  Then the male voice of the brother spoke to his sister, "You know it will never happen.  We are very poor.  How do we have the money to go there?"


Beethoven turned to his friend, "I am going to play for them.  That girl is a talented musician."  He knocked on the door.  Inside, the room was small and dark.  There was only a small flickering candle.  The young girl was sitting by the piano, thin and pale.  Close by, was the brother working at a desk.


"Pardon me," Beethoven said, "I was passing by and heard a beautiful piano sound. I am also a musician.  May I play it for you?"

The brother replied reluctantly, "Our piano is very old, and we don't have the music sheets."  Beethoven was surprised, "No music sheets?  How could your sister..."  He stopped, realizing that the young girl was blind.  Shyly, she said, "I listen to people practicing music and play from memory.  I really love music."





Having heard this, Beethoven walked to the piano.  He sat down and began to play.  He played to his feelings.  The fingers flowed with rising emotions of the genius musician.  Note by note, the sound trickled, at times gentle and tranquil like the moon rays, at times undulating like the Danube River.  The sound transcended all life's worries and sadness - no more wretched souls, miserable fates, and despairs.  Everything at that moment was a twinkling, magical world like a fairy tale.  It was as if the moonlight was raining dazzling drops in the tranquil space.


The youngsters quietly listened to Beethoven's beautiful piano.  As the music stopped, the young girl exclaimed, "That was beautiful! Sir, who are you?"
"Listen to this one," Beethoven replied and played one of his sonata pieces.  The girl was ecstatic, "I know!  You are Sir Beethoven!  I am so happy!"

By then the candle burned out and extinguished itself.  Beethoven's friend walked to the window and drew the curtains.  The moonlight from outside played into the small room.  Beethoven played another piece from his heart.  The notes fell gently and clearly like the moonlight.  Then he stopped.


"Thank you for your kindness," the blind girl said.  "Please come again and play with us." "I will return and teach you to play piano," Beethoven replied and left.

On the way back he said to his friend, "I need to hurry home right away to write down that sonata."



The water unwavered
All tales are beautiful.  Great works often have their own stories, as legendary as themselves.  And perhaps these tales only want to say one thing: That among life's misery, pain, and suffering are seeds of great works and inventions.  Suffering does not obliterate meaningful and genuine things in life; on the contrary, it helps us to look back at many beautiful things and make them more radiant, just like the moon rays that fall on a silent, clear lake surface, which never once has wavered.

竹影掃階塵不動
月穿海底水無痕

Bamboo shadows sweep the veranda, the ground undisturbed
Moonlight shines through the ocean, the water unwavered.


free hit counter

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.