bài viết trong chuyên mục "Trang Văn"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang Văn. Hiển thị tất cả bài đăng

BÀI KỆ LỤC NHƯ 
Huỳnh Ngọc Chiến

Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào, ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán.
(Tất cả các pháp hữu vi
Như bóng, bọt nước có gì khác đâu
Như sương, như điện lóe mau
Hãy xem như giấc chiêm bao mơ màng
).

Trên đây là bài kệ nổi tiếng trong kinh Kim cương, thường được gọi là bài kệ Lục Như. Bài kệ này nổi tiếng không phải chỉ vì diệu nghĩa, mà nổi tiếng cả vì văn từ. Trong kinh điển Phật giáo thuộc Hán tạng, có nhiều bài kệ tuy thâm huyền uyên áo nhưng lại quá khô khan vì thiếu chất văn, cũng như có nhiều bài thơ của các thiền sư làm khi chứng ngộ, do văn từ không đạt phần tinh nhã, nên lắm khi nghe như một bài kệ. Dịch kinh Phật mà đạt đến trình hạn như Pháp sư Cưu Ma La Thập dịch bài kệ Lục như quả là toàn bích. Cả bốn câu toàn vần trắc (pháp, ảnh, điện, quán), nhưng chúng ta có cảm tưởng như không phải đang đọc một bài kệ, mà là một bài thơ ngũ ngôn của Thi Phật Vương Duy.

Bài kệ Lục như có thể được xem là bản tóm tắt tư tưởng của Phật giáo Đại thừa khi quán chiếu thế gian như huyễn mộng. Xem cõi đời như giấc mộng, như cơn gió thoảng qua, như giọt sương rơi chóng tan trên chiếc lá cũng là những hình tượng thường thấy trong văn hóa phương Đông, đặc biệt là nền văn học Ấn Độ và Trung Quốc. 
Hãy quán chiếu thế gian Như mộng

Nhà thơ Lý Bạch bảo: “Xử thế nhược đại mộng, Hồ lao vi kỳ sinh?” (Chuyện đời như mộng lớn. Việc gì phải nhọc lòng?). Đó là cõi-đời-mộng dưới mắt một thi tiên. 
Nhà thơ Tô Đông Pha bảo: “Nhân tự thu hồng lai hữu tín; Sự như xuân mộng liễu vô ngân” (con người như chim hồng mùa thu bay đến mang theo tin tức; chuyện đời ngắn ngủi như giấc mộng đêm xuân, trôi qua mất mà chẳng để lại dấu vết nào). Đó là cõi-đời-mộng trong tiếng thở dài minh triết của con người tài hoa khoáng đạt nhưng lại nổi chìm trong hoạn lộ. 

Còn cõi mộng trong bài kệ Lục như là cõi-đời-mộng dưới sự quán chiếu của một bậc đại giác. 

Nhưng nếu đọc bài kệ trên mà chỉ để cảm nhận rằng trần gian là giấc mộng hư ảo, không có thật - như chúng ta thường hiểu - thì có lẽ chưa đúng với tinh thần của bài kệ. Quán tưởng được cuộc đời là mộng, là bào ảnh theo tinh thần bài kệ không phải là chuyện mà chúng ta cảm nhận một cách hời hợt, như những lúc chúng ta rơi vào tâm trạng chán chường, thất vọng vì đột nhiên chịu sự mất mát to lớn về tài sản hoặc tinh thần, để rồi cảm nhận ra sự phù du của cõi thế theo kiểu “Giấc Nam Kha khéo bất bình, Bừng con mắt dậy, thấy mình tay không” (Cung oán ngâm khúc) mà ta thường thấy trong văn học Việt Nam và Trung Quốc.

Những sự chán nản tuyệt vọng đó, sự chán nản tuyệt vọng gây nên khi ta buộc phải đối mặt với những thảm họa bất ngờ, hoặc những mất mát lớn lao trong cuộc sống hoàn toàn không liên quan gì đến sự quán chiếu thế gian là giấc mộng bằng tuệ giác, hoặc sự cảm nhận được cõi đời là cõi mộng bằng hồn thơ.

Có lẽ chúng ta ai cũng đã từng nằm mơ và luôn bị ám ảnh bởi những giấc mơ. Ai lại không từng băn khoăn tự hỏi biết đâu chúng ta lại chẳng đang tồn tại trong giấc mơ của một người nào đó? Sau khi ta tỉnh, giấc mơ tan về đâu? Mà cái tỉnh của ta chắc gì đã không là mộng? Ai dám chắc rằng những điều ta thấy trong giấc mơ đều là không thực, khi mà cõi đời tự bản chất đã là sắc sắc, không không?

Lý Bạch ôm trăng chết theo sông nước có gì là không thực? Trăng đó đâu phải là vầng trăng trên cõi không bao la, mà là vầng trăng trong cõi mộng của nhà thơ. Trong thiên Tề vật luận của Nam hoa kinh, Trang Chu kể lại chuyện ông nằm mơ thấy mình hóa bướm, vui thú bay lượn cùng cánh bướm, không còn biết mình là Chu nữa, khi tỉnh ra thì lại thấy mình rành rành là Chu, nên không biết là bướm hóa làm mình hay mình hóa làm bướm. Và ông gọi đó là “Vật hóa”.

Tinh thần Như mộng đã giúp cánh bướm Trang Chu bay mãi trong cõi tư tưởng hơn mấy ngàn năm, và đem lại cho nền văn hóa phương Đông những đỉnh cao tuyệt diệu. Ta cũng có thể cảm nhận được cảnh giới của cõi mộng này qua nhà thơ Hàn Mặc Tử, người đã sống trọn vẹn trong cõi mộng để đem về cho cõi thực vô vàn châu ngọc của thơ ca. Hãy thử đọc cảnh giới mộng của ông trong bài tản văn Chiêm bao với sự thực: 

“Như có ma lực vô song xô tôi đến bờ huyền diệu. Đêm nay là một đêm hào hoa nên mùa trăng bát ngát, giờ bốn phương thôi không cầu nguyện nữa mà lòng tôi rực lên cảm hứng. 

… Nhỡn tuyến đưa tới đâu, cũng gặp chói lói, cũng gặp hào quang. Nên trí tôi rất ngợp, miệng lưỡi tôi không phải bối rối nhưng tựa hồ như mới nếm xong khí vị thanh tao của muôn điệu nhạc,…
Từ sự thực đi tới bào ảnh, từ bào ảnh đi tới huyền diệu, và từ huyền diệu đi tới chiêm bao. Mông lung đã trùm lên sự vật và cõi thực, bị ánh sáng của chiêm bao vây riết… 
 ... Tôi cảm thấy sự khoái lạc vô biên cũng như tôi cảm thấy sự sợ hãi vô cùng…
Tôi đang đi trên con đường xán lạn tìm lấy Chân lý ngàn năm, mà hào quang của tinh tú, của những ngọc ngà, châu báu, trời tuôn xuống không biết hằng hà sa số nào nữa…”.
Cõi mộng của nhà thơ chan hòa ánh sáng thuần khiết và âm nhạc thanh tao, dễ làm ta liên tưởng đến cõi Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà. Phải có một tâm hồn trong suốt như pha lê mới có thể cảm nhận được những rung động vô cùng vi tế dường kia. Trong không gian cực kỳ thanh khiết đó, nắng sẽ thơm, gió sẽ ngọt, trăng sẽ mênh mang, và con người sẽ mở rộng hồn ra để hòa nhập vào diệu cảnh. Một cành lá rung cũng vang thành giai điệu, một tiếng chim hót cũng biến thành diệu âm thuyết pháp, một ánh trăng sáng cũng hóa thành vô lượng quang trong cõi Tịnh độ.
Tôi tin rằng đó cũng là cảnh giới mà các Bồ tát, khi soạn những khán thư Đại thừa thâm áo như kinh Lăng già hay kinh Kim cương, đều đã trải qua. Các Bồ tát đều là những thi sĩ lớn nên dễ dàng để tâm hồn hòa điệu cùng những rung động cực kỳ vi tế trước những cảnh tượng kỳ diệu mà họ đã trực ngộ. Nếu nhà thơ cảm nhận được diệu cảnh trong cõi mộng bằng hồn thơ, thì các Bồ tát đạt đến cảnh giới đó bằng cách quán chiếu thế gian bằng Diệu quán sát trí, bằng nội lực của thiền quán và còn đạt đến trình hạn thâm huyền hơn nữa, vì quán chiếu thế gian như là mộng để đạt được trạng thái an lạc tâm linh, cũng là tinh thần của Phật giáo Đại thừa.

Minh họa cho ý tưởng này có lẽ không gì bằng phẩm mở đầu của kinh Lăng già. Phẩm này không có trong bản dịch của Cầu Na Bạt Đa La vốn là bản cổ nhất còn giữ được. Tôi xin trích dịch theo bản tiếng Anh trong “Studies in the Lankavatra Sutra” của đại sư Suzuki. 
Sau khi Đức Phật hiện ra vô số cảnh giới thù thắng để thuyết pháp cho vua quỷ Râvana về thánh trí tự chứng, đột nhiên Ngài biến mất cùng với tất cả Phật tử, để một mình vua quỷ Râvana đứng trơ trọi giữa lâu đài và hoang mang suy tưởng về những cảnh tượng vừa diễn ra. 
“… 39. Ràvana suy tưởng: "Thế này là sao? Điều này có nghĩa gì? Ai đã thuyết pháp? Cảnh vừa hiện ra là gì? Và ai là người trông thấy? Thành phố ở đâu? Phật ở đâu?

40. Cung điện đâu? Chư Phật, các đấng Thiện thệ sáng ngời như châu ngọc đâu? Mộng chăng? Ảo ảnh chăng? Hay là lầu các do các Gandharva dùng pháp thuật hóa ra chăng? 
41. Những gì ta thấy đây có phải là do bụi vướng vào trong mắt chăng? Hay đó chỉ là đứa con của người đàn bà vô sinh chăng? Hay là khói của vòng xe [do đốm] lửa [tạo ra] chăng?
42. Rồi Ràvana lại suy tưởng: "Đây là pháp tính (Dharmatâ) của vạn pháp do tâm biến hiện; kẻ ngu không thể hiểu được điều này vì họ bị điên đảo trong vọng tưởng phân biệt.
43. Không có người thấy cũng không có vật bị thấy; không có người thuyết pháp cũng không có pháp được thuyết; tướng và dụng của các Phật sự cũng chỉ là vọng tưởng phân biệt.
44. Kẻ nào thấy mọi vật như đã thấy trước kia sẽ không thấy được Phật, không còn khởi vọng tưởng phân biệt thì mới thực sự thấy được Phật, Phật là đấng Toàn giác; kẻ nào thấy được Phật là thấy trong cảnh giới vô tướng..."
Vua thành Lăng Già hoát nhiên đại ngộ. Do có sự chuyển ý (paràvritti) trong tâm và hiểu rằng thế gian không gì khác hơn là tự tâm của mình, nên ông ta an trụ trong cảnh giới vô phân biệt, hứng khởi từ kho công đức tích nhóm trong quá khứ, đạt được trí huệ thấu hiểu kinh điển, đạt được khả năng nhìn thấy vạn pháp y như thực, vô ngại tự tại, dùng trí tuệ quán tưởng muôn vật, đạt được tri kiến vượt ngoài hý luận phân biện, vô ngại tự tại; trở thành bậc đại hành giả; có thể hóa thân thành mọi hình tướng; thông đạt mọi phương tiện thiện xảo, đạt được trí huệ về đặc tướng của từng địa, nhờ đó mà khéo vượt qua các địa; vui mừng quán sát tự tánh của Tâm (Citta), Ý (Manas), Ý thức (Manovijnàna), thoát ly được sự luân hồi trong ba cõi, đạt được trí tuệ bác bỏ tà kiến của ngoại đạo, thấy hiểu được Như Lai tạng (Tathàgata-garba), các Phật địa, Tự ngã, an trụ trong Phật trí”(1). 
Đạt đến cảnh giới tự chứng mới thực sự là mục đích của sự quán chiếu thế gian Như mộng. Theo tinh thần Đại thừa, khi cả cõi thế hiện ra như giấc mộng thì toàn thể vạn hữu đều hòa nhập vào bản giao hưởng vô cùng huyền diệu của cảnh giới Hoa Nghiêm. Khi quán tưởng được thế gian là Như mộng thì cõi đời sẽ hiện ra trong vẻ đẹp rực rỡ và bi tráng của cảnh giới vô tướng, để con người có thể mở rộng tâm thức mà chứng nhập được Như huyễn tam muội. Có lẽ đó mới thực sự là ý nghĩa của chữ “Mộng” trong bài kệ Lục như. 
Trong Tam quốc chí diễn nghĩa có một đoạn có thể được xem như là phần minh họa cho cảnh giới được mô tả trong kinh Lăng già, theo tinh thần của bài kệ Lục như.
Sau khi thất thủ Kinh Châu, Quan Vân Trường bị vua Ngô là Tôn Quyền chém đầu. Linh hồn ông cứ cưỡi ngựa Xích Thố bay phiêu diêu khắp nơi, kêu gào “Trả đầu cho ta”. Khi đến núi Ngọc Tuyền, sư Phổ Tĩnh nghe tiếng kêu trên không, liền bước ra khỏi am, cầm cây phất trần gõ vào cửa mà hỏi “Vân Trường an tại?” Câu hỏi đơn giản đó lại giống tiếng hét của Lâm Tế, cây gậy của Đức Sơn, khiến hồn ông sực tỉnh, liền hạ ngựa xuống trước am để nghe thuyết pháp và quy y cửa Phật. Câu này thường được dịch là “Vân Trường ở đâu?”, mà lẽ ra nên hiểu là “Vân Trường có chăng?” nghĩa là “Vân Trường có thực sự tồn tại chăng?” mới đúng tinh thần của sư Phổ Tĩnh muốn điểm hóa cho vị danh tướng huyền thoại này.
Nhà phê bình Mao Tôn Cương cho rằng chỉ một câu đó của sư Phổ Tĩnh cũng bao hàm cả diệu nghĩa của cuốn kinh Kim cương. Nhận xét đó quả vô cùng sâu sắc. Chính tại sát na thù thắng mà vị danh tướng đó nhận ra diệu nghĩa của chữ Mộng, chữ Không, và tạo được sự chuyển y trong tâm thức. Lúc đó, ắt hẳn anh hồn Vân Trường, như vua quỷ Râvana hoang mang trước cảnh tượng tất cả đều đột nhiên biến mất, cũng hoang mang trước câu hỏi “Vân Trường an tại?”. Đó là một công án giúp Quan Công hoát nhiên đốn ngộ - “Quan Công anh hồn đốn ngộ”. Chuyện thành bại thị phi đáo cùng cũng chỉ là hư không mộng ảo. Kinh Châu chỉ là mộng. Thục cũng chỉ là mộng. Ngụy hay Ngô cũng chỉ là mộng. Tham vọng tranh bá đồ vương cũng chỉ là mộng. Mà cả đến bản thân của Vân Trường cũng là mộng nốt. Vân Trường an tại? Có nghĩa là “Nhất thiết Ngụy Ngô Thục, như mộng huyễn bào ảnh, như lộ diệc như điện, ưng tác như thị quán”. Bởi vậy, sau khi nghe sư Phổ Tĩnh thuyết pháp, Quan Công mới đại ngộ rồi cúi đầu làm lễ quy y mà đi - “mang nhiên đại ngộ, khể thủ quy y nhi khứ” (Tam quốc chí diễn nghĩa, hồi 77).

Trong Tam quốc chí diễn nghĩa, đoạn văn tả lại cảnh trên chỉ ngắn ngủi có vài dòng nhưng đó mới chính là chỗ mà ngọn bút của La Quán Trung đã đạt đến mức “đăng phong tháo cực, lô hỏa thuần thanh”, giúp người đọc liên hệ đến bài kệ Lục như.

Hãy quán chiếu thế gian Như lộ
So sánh thế gian như hạt sương rơi cũng là hình ảnh thường thấy trong thi ca Thiền tông. Phật tử Việt Nam không mấy ai là không thuộc bài thơ nổi tiếng của Thiền sư Vạn Hạnh:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
(Thân như bóng chớp chiều tà
Cỏ xuân tươi tốt thu qua rụng rời
Sá chi suy thịnh việc đời
Thịnh suy như hạt sương rơi đầu cành)

(HT.Thích Mật Thể dịch)
Câu thứ ba “Thịnh suy như lộ thảo đầu phô” là sự quán chiếu thế gian Như lộ. Thịnh hay suy rồi cũng đều như hạt sương phô mình trên ngọn cỏ. Nắng lên nó sẽ tan. Sự tồn tại đó quá đỗi phù du. Phù du như cõi thế. Tất cả những thứ được coi là giá trị trong thế gian như của cải, danh lợi, kiến thức… chỉ là hạt sương long lanh trên ngọn cỏ trong đôi mắt của bậc chân nhân đạt ngộ. Nhưng khi những đôi mắt phàm phu nhìn vào thì những hạt sương kia lại biến thành những viên kim cương vô giá. Và cả thế gian trở thành cõi tranh chấp hỗn loạn để giành giật những viên kim cương ấy. 

Trong tác phẩm Buddhism and science (Đạo Phật và khoa học), tác giả Paul Dahlke trình bày về điểm này bằng một đoạn văn lý thú: 

“Khi nào tôi còn ngỡ hạt sương long lanh trên cỏ là viên kim cương thì tôi sẽ giành giật và liều mạng để cướp lấy nó cho bằng được. Nhưng đến khi tôi hiểu rằng: ‘À! Đó chỉ hạt sương lấp lánh dưới ánh nắng thôi mà’, thì tôi sẽ không tự làm khổ mình về điều đó nữa. Tôi biết: ‘Như một cơn gió thoảng, mọi thứ đều sẽ qua đi hết’. 

Nhà tư tưởng chân chính cũng suy nghĩ như vậy khi đối mặt với thế giới và những giá trị của nó, cho dù các giá trị đó được gọi tên là vợ con, của cải, lợi danh, gia đình. Một nhãn quan thấu suốt, sắc bén sẽ có ý nghĩa nhiều hơn giá trị đó. Đối với một trí tuệ thấu suốt thì những cảnh khổ não vô thường bày ra ở khắp mọi nơi, và ông ta sẽ ngoảnh mặt đi - vì chúng chẳng có giá trị gì!”(2).

Tinh thần Như lộ của bài kệ Lục như dạy ta quán chiếu vào thực tướng của vạn pháp để “Ưng tác Như thị quán” rằng cái mà ta ngỡ là những viên kim cương trên thế gian thực ra chỉ là những hạt sương rơi trên lá cỏ. Những hạt sương đó vẫn đẹp và vẫn hoàn toàn có lý do để tồn tại, nhưng chúng chỉ đẹp khi ta ngắm nhìn chúng lấp lánh dưới ánh nắng ban mai bằng cái tâm thanh thản “vô bố úy”. Đó là sự quán chiếu thế gian theo tinh thần Như lộ một cách chân chính. 
Hãy quán chiếu thế gian Như điện

Nhà thơ Tô Đông Pha, khi được một sư trụ trì ở chùa Cát Tường xin đặt tên cho một căn gác, đã làm bài thơ Cát Tường tự tăng cầu các danh như sau:

Quá nhãn vinh khô điện dữ phong
Cửu trường na đắc tự hoa hồng
Thượng nhân yến tọa Quán Không các
Quán sắc quán không, sắc tức không.
(Tạm dịch: Chuyện thịnh suy thành bại lướt qua trước mắt nhanh như tia điện chớp hoặc như ngọn gió bay. Sự lâu bền của nó chẳng được như màu hồng của đóa hoa. Bậc thượng nhân ngồi yên lặng trên căn gác quán Không; quán tưởng Sắc, quán tưởng Không rồi ngộ ra rằng Sắc chính là Không). 

Quán chiếu thế gian thoáng qua nhanh như tia điện chớp để hiểu rằng vạn pháp đang tồn tại trước mắt ta đều không thực hữu. Có đấy rồi lại mất đấy. Sắc mà lại Không! 
Quán chiếu thế gian “Như mộng” để thấy thế gian hiện ra trong tất cả vẻ đẹp rực rỡ bi tráng. Quán chiếu thế gian “Như lô” để thấy thế gian hiện ra trong tất cả vẻ đẹp diễm ảo long lanh. Quán chiếu thế gian “Như điện” để thấy thế gian tồn tại nhưng không thực hữu; vạn pháp chỉ là bào ảnh, Sắc chính là Không, và giữa đại dương sinh tử, sự tồn tại của chúng ta chỉ là “Chiếc thuyền bào ảnh lô xô mặt ghềnh” (Cung oán ngâm khúc).
Kinh Kim cương dạy chúng ta quán chiếu thế gian bằng tinh thần của bài kệ Lục như là để “Nhậm vận thịnh suy vô bố úy” như Thiền sư Vạn Hạnh, và để đạt đến cảnh giới “vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo, mộng tưởng, cứu cánh Niết Bàn” của Bát nhã Tâm kinh. 
Mấy ngàn năm qua, tinh thần bài kệ Lục như đã mở rộng tâm thức nhân gian ra với những chân trời bao la trong tư tưởng Phật giáo, và giúp chúng ta, trong những phút linh cầu, tìm được một chút giao tình với những tâm hồn tiêu dao thế ngoại, khi một mình tĩnh tâm nhìn lại thế gian trong ánh sáng của bài kệ Lục như. 
Mùa Phật đản 2553
Huỳnh Ngọc Chiến
(1) Suzuki, Studies in the Lankavatra Sutra, NXB Routledge & Kegan Paul Ltd., London, 1968. tr.72. (2) Paul Dahlke, Buddhism & Science, translated from the German by Bhikkhu Sllacara, Macmillan & Co., Limited, 1913, tr.73-74.

BÀI KỆ CỦA TRƯỞNG LÃO MÃN GIÁC 
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Đăng Na
Khoa Ngữ Văn Đại Học Sư Phạm Hà Nội

Bài viết này trình bày 2 vấn đề chính trong bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác. Đó là: Vài nét về loại hình kệ và nội dung chính về bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác
Bài viết này chúng tôi muốn trình bày 2 vấn đề chính trong bài kệ (偈) của Trưởng lão Mãn Giác (長老滿覺). Đó là:
- Vài nét về loại hình kệ
- Nội dung chính về bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác
I.VÀI NÉT VỀ THỂ LOẠI KỆ
1.Khái niệm về kệ
Kệ là loại hình văn học chức năng lễ nghi, ra đời từ Ấn Độ, gắn liền với nghi thức truyền thừa đạo Phật và có 2 nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
- Nghĩa rộng, gồm kệ Già đà (伽陀) và kệ Kì dạ (祇夜) trong 12 giáo bộ. Cả 2 loại này đều là kệ Tụng (頌). Tuy nhiên, giữa chúng có sự khác biệt: nếu trước bài kệ không có phần văn xuôi mà người viết trực tiếp văn vần để ghi lại giáo lí nhà Phật, gọi là kệ Cô khởi (孤起), nghĩa là Già đà; nếu trước bài kệ có phần văn xuôi rồi, nhưng người viết lại dùng văn vần để nhắc lại nghĩa của phần văn xuôi ở trên thì gọi là kệ Trùng tụng (重頌) - tụng lại, là kệ Kì dạ. Tuy nhiên, trong kinh và luận của Phật, người ta vẫn dùng hỗn hợp cả 2 Kệ đó.
- Nghĩa hẹp, chỉ dùng riêng về kệ Già đà mà thôi.
2.Cấu trúc hình thức kệ
Kệ có nhiều loại, nhưng người ta thường dùng kệ 2 dòng (gồm 16 âm tiết, mỗi câu 8 âm tiết), cũng gọi là kệ Thông (通). Ngoài ra, có kệ 2 dòng dài từ 22 đến 24 âm tiết (mỗi câu từ 11 đến 12 âm tiết), hoặc không hạn chế số âm tiết. Khi thể loại kệ của Ấn Độ chuyển qua Hán ngữ văn ngôn thì người ta hay dùng hình thức tứ ngôn (4 chữ), ngũ ngôn (5 chữ), đều có 2 câu, giống kiểu thơ tứ cú Trung Hoa nhưng không cần vần luật. Trong kinh Phật, khi dịch ra văn ngôn, phần nhiều người ta dùng kệ Tụng từ 2 đến 6 câu(1), cốt sao ngắn gọn, có nhịp điệu và dùng hình ảnh so sánh, tượng trưng mang tính ẩn dụ để dễ hiểu, dễ nhớ, dễ truyền... Chẳng hạn, bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác.
3.Kệ của Việt Nam
·Các Thiền sư Việt Nam thường viết kệ dưới nhiều hình thức đa dạng. 
Có Ngài viết kệ 2 câu, mỗi câu 5 hoặc 7 âm tiết, như các vị Đại sư: Khuông Việt (匡越), Thiền Lão (禪老), Viên Chiếu (圓照),...; có vị lại viết kệ không vần như Thiền sư Cứu Chỉ (究旨); có vị viết kệ 6 câu, mỗi câu 4 âm tiết như Thiền sư Bản Tịnh (本淨); có vị dùng hình thức thơ ngũ ngôn tứ tuyệt hoặc thất ngôn tứ tuyệt để viết kệ, như Đại sư Khuông Việt và các vị Thiền sư: Định Hương (定香), Không Lộ (空路), Ngộ Ấn (悟印), Bảo Giám (寶鑑);... có điều cần chú ý là, các bài kệ Việt Nam đa phần được trình bày trong sách Phật học Việt Nam, như trong Thiền uyển tập anh Ngữ lục(2), Khóa hư lục,... Hơn nữa, chúng thường được dùng kệ Vấn và kệ Đáp - Cô khởi kệ để diễn đạt những vấn đề cốt tủy về triết học Thiền tông, như sinh tử(生子) - niết bàn (涅槃), sắc (色) - không (空), tâm (心) - thân (身), phàm (凡) - thánh (聖), hữu (有) - (無),... Loại này đều do nhà sư Việt Nam vừa viết ra, vừa tạo dựng nội dung cũng như hình thức biểu đạt của chúng.
·Trong Ngữ lục có bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác (1052-1096) thuộc Cô khởi kệ được diễn đạt hình thức độc đáo, gồm 6 câu: 4 câu đầu dưới hình thức thơ ngũ ngôn (tứ tuyệt, cách vần, thanh bằng) và 2 câu cuối là hình thức thơ thất ngôn. Dưới đây là nguyên văn bài kệ đó:
春去百花落
春到百花開
事逐眼前過
老從頭上來
莫謂春殘花落盡
庭前昨夜一枝梅
Xuân khứ: bách hoa lạc,
Xuân đáo: bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tòng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
II.NỘI DUNG CHÍNH VỀ BÀI KỆ CỦA TRƯỞNG LÃO MÃN GIÁC
Khi khảo sát bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác, xin chú ý 4 vấn đề:
-Một là, kệ thường diễn đạt dưới hình thức thơ, nhưng về bản chất, chúng không phải là thơ - loại hình văn học nghệ thuật, mà là văn học chức năng lễ nghi. Nếu lẫn loại hình thể loại, ta sẽ bị lạc hướng.
-Hai là, về văn học chức năng lễ nghi có một nguyên tắc tuyệt đối là, phải đặt các bài kệ vào môi trường chúng đang thực hành nghi lễ thì mới hiểu đúng nội dung của chúng. Nếu tách khỏi môi trường đang thực hành lễ nghi cụ thể của chúng, bài kệ sẽ bị chệch nghĩa.
-Ba là, kệ bao giờ cũng gắn với triết học Phật. Do vậy, ta phải trình bày nội dung của chúng bằng những khái niệm, thuật ngữ, điển cố... của Phật học. Nếu không, ta sẽ giải thích không đúng nội dung của chúng.
-Bốn là, về cơ bản, kệ không nhan đề. Điều này rất quan trọng. Tất cả các nhan đề của những bài kệ trongNgữ lục nói chung, bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác nói riêng, đều do người sau đặt tên. Nhưng khi đặt nhan đề cho các bài kệ này - văn học chức năng lễ nghi, người ta lại đặt chúng thành loại hình nghệ thuật - thơ ca. Chẳng hạn họ đặt tên Ngôn hoài của Không Lộ, Cáo tật thị chúng của Mãn Giác(3),...
Với tinh thần 4 điểm trên, chúng tôi sẽ khảo sát nội dung chính về bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác.
1. Ngữ lục
Muốn hiểu giá trị đích thực của bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác, trước hết, ta đọc về hoàn cảnh ra đời và mục đích thực hành lễ nghi của bài kệ này(4).
2. Nhan đề
Ta không thể đặt bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác là Cáo tật thị chúng (告疾示眾). Tại sao?
a. Cáo tật
Cáo tật còn gọi là cáo bệnh (告病), chỉ các vị quan lại thời xưa khi bị ốm, xin vua ban cho nghỉ hưu và được trí sĩ.
Sách Ngữ lục kể rằng, thời Lý Thánh Tông (1054-1072), thân phụ của Ngài đang giữ chức Trung thư Viên ngoại lang(5). Lúc đó, Ngài được dự kỳ tuyển để phụng hầu cung vua(6). Đến năm Anh Vũ Chiêu Thắng 1077 triều Lý Nhân Tông, Ngài xin xuất gia. Vua chấp nhận. Sau khi Ngài đắc đạo, vua Nhân Tông mời Ngài đến Nhập nội Đạo tràng(7) đứng đầu Thiền viện Giáo Nguyên với danh nghĩa Tứ tử Đại sa môn được thực ấp 50 hộ và giao cho Ngài nắm Tam ti công sự - chức Tam ti Phó sứ(8).
Xin nói thêm: ban đầu, vua Nhân Tông ban tên cho Ngài là Hoài Tín. Sau, vì kính trọng Ngài, từ đó, vua gọi Ngài là Trưởng lão (長老). Khái niệm Trưởng lão lại có 2 nghĩa: một là, chỉ người có trí tuệ, có uy quyền trong chính phủ; hai là, trong Thiền lâm, những vị Thượng tọa Tì khưu đứng đầu về sự hiểu biết sâu sắc và có năng lực giảng giải kinh Phật mới được gọi là Trưởng lão. Rồi khi Trưởng lão mất, đức vua sắc cho Ngài thụy là Mãn Giác.
Như vậy, Trưởng lão vừa trong chính phủ, vừa đứng đầu Thiền gia. Vì thế, khi bị ốm, “ngày 30 tháng 11 niên hiệu Hội Phong thứ 5, (Trưởng lão) cáo tật”.
Vậy Trưởng lão cáo tật với ai? Trước hết, Ngài cáo tật với đức vua Lý Nhân Tông và cuối cùng, Ngài cáo tật với Tam ti, vì Ngài chỉ dưới vua và dưới Tam ti mà thôi. Tuy nhiên, với tư cách người đứng đầu Thiền viện Giáo Nguyên - trung tâm Phật học Thăng Long nên khi thị tịch, Ngài muốn trao truyền Tông yếu Thiền tông cho đệ tử và cần Thị chúng kệ.
b. Thị chúng
Hầu như người ta đều giải thích: thị chúng (示眾) là “bảo mọi người”(9). Không phải. Thị chúng là một thuật ngữ triết học Thiền tông, dùng để chỉ khai thị tông yếu (開示宗要) mà mở ra then chốt giáo tông cho môn đệ(10). Cho nên, khi thị chúng, các tì khưu thường dùng kệ. Chẳng hạn, các vị Thiền sư Trung Hoa từ Tùy - Đường đến Tống,... vẫn để lại Thị chúng kệ, như Tuệ Viễn Đại sư(11) (慧遠大師), Vân Môn Văn Yển(12) (雲門文偃), Thiền sư Từ Minh(13) (禪師慈明), ... đã làm. Ở Việt Nam, Trưởng lão đã để lại Thị chúng kệ. Bởi thế, cái gọi là Cáo tật thị chúng kia sẽ ngắt thành 2 phần:
-Câu 1: “Ngày 30 tháng 11 niên hiệu Hội Phong thứ 5, (Trưởng lão) cáo tật”.
- Câu 2, đều có thể đọc:
+ (Sau khi cáo tật, Trưởng lão) thị chúng. (Ngài đọc) Kệ như sau:...
+ (Sau khi cáo tật, Trưởng lão đọc bài) Thị chúng kệ như sau:...
Riêng Thiền Tông từ Vô Ngôn Thông (? - 826) đến năm 1096 trước khi Mãn Giác mất, chưa có Thiền sư nào có Thị chúng kệ ngoài Trưởng lão.
Đấy là lí do không thể đặt kệ của Trưởng lão là Cáo tật thị chúng.
3. Nội dung chính
Một trong những then chốt của tông phái Vô Ngôn mà Trưởng lão muốn khai mở cho môn đệ hiểu sinh - tử. Trong mê giới của Lục đạo(14), sinh - tử nối nhau vô cùng vô tận. Đối lập với Niết bàn là thế giới khổ não. Tuy nhiên, sinh - tử với Niết bàn chỉ là 1, không phải là 2. Nếu sinh - tử là phi xả (非捨) - không thể bỏ được, phi phi xả (非非捨) - không phải không thể bỏ được,... thì, Niết bàn cũng vô đắc (無得) - không thể được, vô bất đắc (無不得) - không phải không thể được. Đấy là tư tưởng chi phối bài kệ của Trưởng lão.
Để hiểu bài kệ của Trưởng lão, chúng tôi sẽ trình bày 2 phần:
a.Bốn câu đầu
·Câu 1 - 2:
Thoạt nghe, 2 câu đầu tưởng như Trưởng lão đưa ra quy luật tất yếu của tự nhiên:
Xuân đi trăm hoa rụng (Xuân khứ bách hoa lạc),
Xuân đến trăm hoa nở(Xuân đáo bách hoa khai).
Mỗi năm, Xuân đều một lần về. Xuân đi (khứ), rồi Xuân đến (đáo). Sự luân hồi này, con người cảm nhận được qua hình ảnh trăm hoa tàn (bách hoa lạc), trăm hoa nở (bách hoa khai). Bởi vậy, khi nhắc tới “trăm hoa tàn”, “trăm hoa nở”, Trưởng lão muốn thị chúng cho môn đệ hiểu rằng, quy luật này phổ quát chẳng trừ ai. Nghĩa là, ai cũng có thể đến khởi điểm nhập vào vũ trụ: lạc (rụng - chết). Đấy là quy luật khách quan. Vì thế, Ngài ung dung nhập Niết bàn và cũng ung dung biết trăm hoa - chỉ môn đệ, nhất định nở (khai), nhất định bừng lên, đẹp hơn. Và rồi, các thế hệ sau, thế hệ 1, thế hệ 2, thế hệ 3,... sẽ bước theo: Xuân khứ bách hoa lạcLạc (rụng) và khai (nở), khứ (đi) và đáo (đến) đều vô thường!
Vũ trụ là thế, giới tự nhiên là thế! Còn xã hội con người?
·Câu 3 - 4:
Việc đời chạy nhanh trước mắt(Sự trục nhãn tiền quá),
Tuổi già theo đến trên đầu (Lão tòng đầu thượng lại).
Hai khái niệm sự (事) và lão (老) mà Trưởng lão muốn thị chúng cho môn đệ nắm được then chốt Thiền tông.
Sự là thuật ngữ triết học Thiền tông, chỉ tất cả hữu vi pháp (有為法) do nhân duyên sinh ra, là những hiện tượng vô cùng khác biệt trong vũ trụ, đối lập với  (理) của pháp môn bình đẳng; nghĩa là, sắc tướng vô thường có muôn hình vạn trạng biến đổi diễn ra trong cuộc sống mà nhục nhãn thấy được. Đúng như Tăng Triệu (僧肇) kết luận: “Sự tuy vô cùng, nhưng lí chung quy chỉ một đường”(15). Tiếp theo, ta gặp chữ lãovới nghĩa đen: già. Nhưng ở đây ta lại gặp khái niệm triết học Thiền tông: Lão. “Lão” là một trong 24 hành pháp không tương ứng của Duy thức tông. Các sắc tâm nối nhau biến đổi, gọi là lão. Sinh, lão, trú, vô thường, gọi là tứ tướng. “Lão” tương đương với dị tướng của hữu bộ. Sinh khổ (生苦), lão khổ (老苦),bệnh khổ (病苦), tử khổ (死苦) gọi là tứ khổ (四苦). Có 4 loại khổ của nhân gian: Sinh khổ (từ hoài thai đến xuất sinh). Lão khổ (suy tàn biến thành lão). Bệnh khổ (tứ đại tăng tổn thành bệnh, khi bệnh thì khổ). Tử khổ(khi ngũ uẩn hỏng lìa, hoặc thọ mệnh hết). Sinh tử luân hồi trong mê giới nối nhau vô cùng, vô tận và đối lập với Niết bàn (Bồ đề). Duy thức luận (quyển 8) đưa ra 4 loại tướng trong một chu kì của chúng sinh, cũng gọi là tứ tướng (4 khổ). Gồm: sinhlãobệnhtử. Tướng mà chúng sinh xuất sinh gọi là sinh tướng (生相); tướng của tuổi già là lão tướng (老相); tướng của bệnh tật là bệnh tướng (病相); tướng của chết là tử tướng (死相),... Sự sinh tử trói buộc con người. Tham, sân, si cùng với sinh tử phiền não trói buộc con người không được tự tại, giống như lưới võng trói buộc chúng sinh, không giải thoát được. Lời Thị chúng ở đây như lời trăng trối về tông yếu Thiền tông của Ngài.
·Bốn câu đầu, Trưởng lão dùng văn vần loại ngũ ngôn, thể tứ tuyệt, vần bằng (khai 開, lai 來nhưng cách dòng (câu 2 - 4) để thị chúng theo thời gian: đương thời (xuân đang khứ, hoa đang lạc) --> tương lai (xuân sẽ đáo, hoa sẽ lai); rồi quá khứ (sự đã quá) --> hiện tại (lão đang tòng).
Hai câu đầu, Trưởng lão hoàn toàn ứng khẩu. Đến câu 3 - 4, Ngài dùng thi liệu của tiền nhân. Đó là từ bàiThủy biên ngẫu đề (水邊偶題) của La Ẩn(16) thời Đường mà Ngài mượn để diễn đạt giáo lí Thiền tông:
只知事逐眼前去
不覺老從頭上來
Chỉ triSỰ TRỤC NHÃN TIỀN KHỨ,
Bất giác LÃO TÒNG ĐẦU THƯỢNG LAI.
“Dòng sông vô tình đi không về; bên sông, hoa đẹp nở vì ai? Nhưng chỉ biết sự (vô vàn sắc tướng) đang ruổi trước mắt con người mà bất giác nhận thấy tuổi già đã trèo lên đầu mình. (Thi nhân) thở than cuộc đời cực cùng như Khổng (Tử), Mạnh (Tử) và ai (hiển) đạt như Chu(17) (周) - Triệu (召) cũng bị trần ai. Nghĩ xem, cái lí kia thì ai gặp may, chỉ thầy Trang Tử là người giỏi nhất”(18). Đó là tâm trạng cô đơn, bị cuộc đời ném ra bên bờ sông và mỉa mai ai may, ai tài mà thi nhân La Ẩn thở than qua thơ thất ngôn bát cú.
Nhưng, Trưởng lão không cảm nhận cuộc đời như vậy. Ngài hiểu con người luôn luôn vận hành theo vũ trụ, biến đổi vô thường. Cho nên, dù dùng thi liệu tiền nhân, mỗi người không chỉ diễn đạt khác nhau, viết thể loại khác nhau mà mỗi người lại đi con đường khác nhau: La Ẩn là thi sĩ nhà Nho viết thơ Đường 7 chữ 8 câu, còn Trưởng lão là Thiền sư Vô Ngôn, đọc khẩu ngữ Cô tụng kệ theo cách riêng để giảng giải cho môn đệ về quy luật muôn đời!
Nếu so sánh câu 3-4 thất ngôn của La Ẩn với câu 3-4 ngũ ngôn của Trưởng lão ta thấy, 2 vị tư tưởng hoàn toàn khác nhau. Một bên là thi nhân hốt hoảng, bất ngờ cuộc đời: “Chỉ tri sự trục nhãn tiền quá, Bất giác lão tòng đầu thượng lai”; còn một bên là Thiền sư ung dung, tự tại trước việc tịch diệt: “Sự trục nhãn tiền quá, Lão tòng đầu thượng lai”.
b.Hai câu cuối:
·Để kết thúc bài kệ, Trưởng lão đưa ra phân biệt các phái Thiền tông:
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết(Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận),
Đêm qua trước sân có một cành mai (Đình tiền tạc dạ nhất chi mai).
Xuân khứ và xuân lai đều vô thường. Hoa lạc và hoa khai cũng vậy, đều vô thường. Nhưng có tuệ nhãn, Phật nhãn mới nhận được cái hằng thường. Đến (đáo) và đi (khứ), tàn và nở đều là hiện tượng muôn hình vạn trạng đang diễn ra trước mắt con người và đều vô thường, nhất thời. Sự hằng thường thuộc bản thể vũ trụ. Hôm qua mai nở, hôm nay mai tàn; hôm qua thấy Thầy (chỉ Trưởng lão) đang giảng truyền cho môn đệ; đêm nay ngày 30 tháng 11 năm Bính Tý 1096 Thầy nhập Niết bàn. Môn đệ tuy không thấy hình hài sắc tướng của Thầy nhưng Thầy để lại hằng thường vô sắc tướng thành biểu tượng vĩnh hằng: Nhất chi mai. Đó là lời trăng trối mà Trưởng lão khẳng định:
"Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua trước sân có một cành mai!"
·Lần theo thời gian từ năm 1096 khi Trưởng lão nhập Niết bàn về trước, thi nhân thường sáng tác thơ và từđể thở than cuộc đời ngắn ngủi, đặc biệt khóc than số phận người đàn bà sớm nở tối tàn, hoa héo xuân phai,... Ấy thế, chưa thấy một câu nào dù là thơ hoặc từ tương tự kiểu 5 chữ Xuân tàn hoa lạc tận (春殘花落盡) của Trưởng lão. Có lẽ phải tới thế kỷ XVIII ta mới thấy xuất hiện cụm từ na ná Xuân tàn hoa lạc tận:
試看春殘花盡落
但是紅顏老死時
"Thí khán xuân tàn hoa tận lạc,
Đãn thị hồng nhan lão tử thì"(19)
Nghĩa là, “thử xem xuân tàn hoa hết rụng, nhưng hồng nhan đâu được sống đến lúc già”. Nếu để ý, cụm từ trên được đảo chữ tận (hết) lên trên chữ lạc để nhấn mạnh tất cả hoa đã rụng: xuân tàn hoa tận lạc. Sau, người Trung Hoa khi làm thơ vẫn quen viết Xuân tàn hoa tận lạc:
一朝夢醒吾何往
只似春殘花盡落
"Nhất triêu mộng tỉnh ngô hà vãng,
Chỉ tự xuân tàn hoa tận lạc".
Nghĩa là, “một sớm mộng tỉnh, ta đi về đâu? Chỉ như xuân tàn hoa hết rụng”.
Riêng câu cuối Cô tụng kệ, Trưởng lão đã sử dụng thi liệu từ câu 3 - 4 trong bài Tảo mai (早梅) của Tề Kỉ (齊己):
Tiềnthôn thâm tuyết lí (前村深雪裡),
Tạc dạnhất chi khai (昨夜一枝開)(20).
Nghĩa là, trước thôn trong tuyết thẳm, đêm qua một nhành (mai) nở”. Nếu lại so sánh Tảo mai của Tề Kỉ (860 - 937) với Cô tụng kệ của Trưởng lão, ta lại thấy 2 bài khác nhau về tư tưởng. “Vạn cây (mai) bị cóng đến muốn chết, nhưng hơi ấm riêng rễ trở về. Trước thôn trong tuyết thẳm, đêm qua một nhánh (mai) nở. Hương thầm gió đưa qua, con chim nhìn thấy hoa trắng đang đến. Năm tới như phù hợp với thời tiết, nên hoa mai đầu tiên báo Xuân Đài”(21). Rõ ràng, thi sĩ Tề Kỉ ngạo cao vì chỉ mình chàng báo trước cho muôn loài biết xuân đang về và cũng mình chàng chịu được cóng rét: "đêm qua trong tuyết thẳm, có một nhánh mai nở hoa". Cụm từ nhất chi khai khoa trương, còn cụm từ nhất chi mai thì thầm kín và tế nhị. Tuy vậy, ta cũng nên khen hình tượng của nhà thơ Tề Kỉ thời Đường khá độc đáo.
·Gần trăm năm sau, Diêu Thuật Nghiêu (姚述堯) - người Trung Hoa lại dùng thi liệu của Trưởng lão Việt Nam để sáng tác từ (詞) nổi tiếng theo điệu Nguyễn Lang quy (阮 郎歸). Và dĩ nhiên xin nói thêm: Diêu Thuật Nghiêu(22) là người Tiền Đường (錢塘) thuộc Bách Việt, đỗ Tiến sĩ năm 1154, làm quan 21 năm (1168-1188). Câu đầu, Tiến sĩ Diêu viết: Giang thôn tạc dạ nhất chi mai (江村昨夜一枝梅). Riêng hình tượng nhất chi mai trong kệ được nhiều Thiền sư Trung Hoa dùng. Như Tục đăng lục năm 1097 có nhất chi mai. Rồi năm Gia Định 1208 có câu Tuyết trung sơ trán nhất chi mai (雪中初綻一枝梅) của Định Tuệ Hải Ấn Tín Thiền sư, thời Thanh có câu Đình tiền tiên trán nhất chi mai (庭前先綻一枝梅) của An Tịnh Chu Thiền sư(23) thị tịch năm Thuận Trị 1648, ...
Trên đây là 2 vấn đề chính mà chúng tôi đã trình bày.
Phụ lục
1.Ngữ lục(Câu chuyện về Đại sư Mãn Giác)
Đại sư Mãn Giác chùa Giáo Nguyên, Cứu Liên; người Lũng Triền, An Cách, họ Nguyễn, húy Trường (長); cha là Hoài Tố (懷素), làm quan tới chức Trung thư Viên ngoại lang(24).
Khi Lý Nhân Tông còn ở tiềm để(25), bấy giờ có chiếu chỉ cho con em các nhà danh gia vào hầu trong cung. Ngài - chỉ Mãn Giác, vì học rộng, nhớ nhiều, đọc thông Nho - Thích(26), nên được dự kì tuyển này. Những lúc rảnh việc công, Ngài thường đem thiền na(27) ra niệm. Khi Nhân Tông lên ngôi, bởi quý trọng mà ban cho Ngài là Hoài Tín.
Năm Anh Vũ Chiêu Thắng(28), Ngài dâng biểu xin xuất gia. Khi được ấn chứng của sư Quảng Trí chùa Quán Đính, Ngài bèn mang bình tích đi vân du tìm khắp đạo hữu. Khi Ngài tới đâu, người theo học rất đông. Ngài đọc Đại tạng kinh đạt tới vô sư trí(29) và là lãnh tụ pháp môn một thời.
Đế cùng Cảm Linh Nhân Hoàng Thái hậu lưu tâm đến Thiền học, bèn dựng chùa này cạnh cung Cảnh Hưng, mời Ngài tới đó trụ trì để tiện việc tham vấn. Khi tham vấn, Đế không dùng tên Ngài để gọi, mà thường gọi Ngài là Trưởng lão.
Một hôm, Đế nói:
Bậc chí nhân(30) thị hiện, ắt phải tế độ chúng sinh, không hạnh nào là không đủ, không sự nào là không tu, chẳng phải chỉ do sức định tuệ(31), mà cũng có công giúp đỡ, nên phải kính nhậm(32) lấy.
Bèn trao Thiền viện Giáo Nguyên cho Hoài Tín Đại sư để truyền tâm ấn vô tu vô chứng(33) của Tổ và phụng mệnh Nhập nội Đạo tràng(34), ban cho Tứ tử Đại sa môn, cùng với quan Tam ti bàn việc công và cho 50 hộ miễn thuế để cung đốn việc chùa.
Ngày 30 tháng 11, niên hiệu Hội Phong thứ 5, (Trưởng lão) cáo tật. (Trưởng lão) Thị chúng. Kệ rằng:
春去百花落
春到百花開
事逐前眼過
老從頭上來
莫謂春殘花落盡
庭前昨夜一枝梅
"Xuân khứ: bách hoa lạc,
Xuân đáo: bách hoa khai.
Sự trục tiền nhãn quá,
Lão tòng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai".
Đêm đó, Ngài ngồi kiết già ra đi, thọ 45 tuổi đời, 19 tuổi hạ. Đế dùng hậu lễ để ban tặng. Các bậc công khanh ai cũng dâng hương, trà tỉ, thu xá lị, xây tháp ở chùa Sùng Nham, An Cách. (Vua Lý Nhân Tông) sắc (phong Ngài) thụy hiệu Mãn Giác.
2.Bài thơ của La Ẩn (羅隱):
La Ẩn (833-909), thi nhân nổi tiếng cuối thời Đường, người Tân Thành (新城), tỉnh Chiết Giang (浙江), tự là Chiêu Gián (昭諫). Hiện người ta giữ được gần 500 bài thơ của ông và vẫn có nhà bia về ông. Toàn bàiThủy biên ngẫu đề (水邊偶題) của La Ẩn như sau:
野水無情去不回
水邊花好為誰開
只知事逐眼前去
不覺老從頭上來
窮似丘軻休嘆息
達如周召亦塵埃
思量此理何人會
蒙邑先生最有才
"Dã thủy vô tình khứ bất hồi,
Thủy biên hoa hảo vị thùy khai.
Chỉ tri sự trục nhãn tiền khứ,
Bất giác lão tòng đầu thượng lai.
Cùng tự Khâu, Kha hưu thán tức,
Đạt như Chu, Triệu diệc trần ai.
Tư lường thử lí hà nhân hội,
Mông ấp Tiên sinh tối hữu tài".
3.Bài thơ của Tề Kỉ (齊己):
Tề Kỉ (860 - 937) họ Hồ (胡), tên là Đắc Sinh (得生), người Ích Dương (益陽), xuất gia. Ngài nghiên cứu đạo Phật, nổi tiếng sáng tác thơ, hiện còn hơn 800 bài. Dưới đây là bài thơ Tảo mai (早梅) của Ngài:
萬木凍欲折
孤根暖獨回
前村深雪裡
昨夜一枝開
風遞幽香去
禽窺素艷來
明年如應律
先發映春台
"Vạn mộc đống dục chiết,
Cô căn noãn độc hồi.
Tiền thôn thâm tuyết lí,
Tạc dạ nhất chi khai .
Phong đệ u hương khứ,
Cầm khuy tố diễm lai.
Minh niên như Ứng Luật,
Tiên phát ánh Xuân Đài"(35).
4.Bài từ (詞) của Diên Thuật Nghiêu (姚述堯) theo điệu Nguyễn Lang quy (阮郎歸) như sau:
Diêu Thuật Nghiêu(36) không rõ năm sinh và mất, chỉ biết tác giả đỗ Tiến sĩ năm Thiệu Hưng thứ 24 (1154), làm quan đến 1188.
江村昨夜一枝梅
先傳春信回
非煙非霧下瑤台
香風拂面來
云幕卷日華開
祥光映上台
安與從此步天街
君王賜壽杯
"Giang thôn tạc dạ nhất chi mai,
Tiên truyền xuân tín hồi.
Phi yên phi vụ há Dao Đài,
Hương phong phất diện lai.
Vân mạc quyển, nhật hoa khai,
Tường quang ánh thượng Đài.
An dữ tòng thử bộ thiên nhai.
Quân vương tứ thọ bôi".

Chú thích:
(1) Phật Quang đại từ điển, Phật Quang xuất bản 1988 - 1999, tr.4383.
(2) Thiền uyển tập anh ngữ lục, khắc in Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715). Từ đây viết tắt là Ngữ lục.
(3) Hoàng Việt thi tuyển, Sđd, tr.10.
(4) Xem phần Phụ lục 1.
(5),(24) Trung thư Viên ngoại lang: Trung thư thuộc Bộ Lại, từ trên xuống gồm Thượng thư, Thị lang, Lang trung. Thời Lý Nhân Tông (1072-1128) chức Trung thư Viên ngoại lang tương đương Tam phẩm.
(6) Khi đó, nhà Lý chưa mở thi Hội.
(7),(34) Chỉ Đạo tràng trong Đại nội (cung vua); nơi thờ Phật và tu hành đặt ở trong cung.
(8) Tam ti: gồm Thái úy, Tư đồ, Tư không. Tam ti Phó sứ tương đương tể tướng, chỉ dưới Tam ti.
(9) Xin xem các sách Thơ văn Lí - TrầnNgữ văn 10Ngữ văn sách giáo viên 10Phân tích tác phẩm văn học trung đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại,...
(10) Phật Quang đại từ điển: Sđd, tr.2145. Thị chúng còn có tên thùy thuyết (垂說), thùy ngữ (垂說), thùy thị (垂示),...
(11) Tuệ Viễn Đại sư (334-416): người Lâu Phiền (樓煩), Nhạn Môn (雁門), họ Giả (賈).
(12) Vân Môn Văn Yển (864-949): họ Trương (張), người Gia Hưng (嘉興), Chiết Giang (浙江).
(13) Thiền sư Từ Minh (986 - 1039).
(14) Lục đạo: gồm Thiên, Nhân, A tu la, Nga quỷ, Súc sinh, Địa ngục.
(15) Bảo tạng luận (寶藏論) của Tăng Triệu (384 - 414), họ Trương, người Kinh Triệu (京兆), thời Đông Tấn.
(16) La Ẩn (833 - 909): tự là Chiêu Gián (昭諫), người Tân Thành (新城), Chiết Giang (浙江). Hiện người Trung Hoa đã lưu trữ gần 500 bài thơ của La Ẩn.
(17) Chu (khoảng từ 369-286 TCN): tên là Chu, gọi là Trang Tử; chưa rõ nhân vật tên là Triệu.
(18) Dịch nghĩa toàn bài Thủy biên ngẫu đề của La Ẩn.
(19) Theo Hồng lâu mộng, thơ do nhân vật Đại Ngọc viết, gồm 6 câu.
(20) Theo Tống Cao tăng truyện (宋高僧傳), Q.30. Xem thêm Đường thi kỉ sự (唐詩紀事) và Ngũ đại sử bổ(五代史補).
(21) Xem toàn bài Tảo mai trong Phụ lục.
(22) Diêu Thuật Nghiêu: tự là Đạo Tiến (道進), người Hàng Châu. Xem Nguyễn Quy lang trong Phụ lục.
(23) An Tịnh Chu Thiền sư (1597-1648): thụy là Thụy bạch tuyết tự (瑞白雪嗣).
(25) Tiềm để: khi chưa lên ngôi.
(26) Nho, Thích: đạo Nho và đạo Phật.
(27) Thiền na: là thiền định, tĩnh lự.
(28) Anh Vũ Chiêu Thắng: niên hiệu vua Lý Nhân Tông những năm 1076-1084.
(29) Vô sư trí: chỉ trí tuệ không do lực ngoài sách vở, không nhờ người khác dạy mà tự nhiên thành tựu. Nghĩa thứ hai là, trí tuệ không phải do thầy dạy, mà tự đạt được.
(30) Chí nhân (至人): người mà tư tưởng, đạo đức... đạt tới độ tối cao.
(31) Định tuệ: trí tuệ tập trung vào một vấn đề gì đó, không bị phân tán.
(32) Kính nhậm: kính cẩn gánh vác công việc.
(33) Vô tu vô chứng: chỉ việc đạt tới cảnh giới tận cùng. Việc tu hành siêu việt, đối lập với thể ngộ; nghĩa là, bậc chân nhân vô vi chứng, vô sở chứng, tu vô sở tu.
(35) Theo Tống Cao tăng truyện (宋高僧傳), quyển 30.
(36) Diêu Thuật Nghiêu: tự là Tiến Đạo (進道), người Tiền Đường (前塘), Hàng Châu (杭州), Chiết Giang (浙江)./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 4 (107) 2011, Tr.28 - 36)


(Khoa Ngữ văn ĐH Sư phạm Hà Nội)
Tác giả: PGS. TS Nguyễn Đăng Na
Khoa Ngữ Văn Đại Học Sư Phạm Hà Nội

Bài viết này trình bày 2 vấn đề chính trong bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác. Đó là: Vài nét về loại hình kệ và nội dung chính về bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác
Bài viết này chúng tôi muốn trình bày 2 vấn đề chính trong bài kệ (偈) của Trưởng lão Mãn Giác (長老滿覺). Đó là:
- Vài nét về loại hình kệ
- Nội dung chính về bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác
I.VÀI NÉT VỀ THỂ LOẠI KỆ
1.Khái niệm về kệ
Kệ là loại hình văn học chức năng lễ nghi, ra đời từ Ấn Độ, gắn liền với nghi thức truyền thừa đạo Phật và có 2 nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
- Nghĩa rộng, gồm kệ Già đà (伽陀) và kệ Kì dạ (祇夜) trong 12 giáo bộ. Cả 2 loại này đều là kệ Tụng (頌). Tuy nhiên, giữa chúng có sự khác biệt: nếu trước bài kệ không có phần văn xuôi mà người viết trực tiếp văn vần để ghi lại giáo lí nhà Phật, gọi là kệ Cô khởi (孤起), nghĩa là Già đà; nếu trước bài kệ có phần văn xuôi rồi, nhưng người viết lại dùng văn vần để nhắc lại nghĩa của phần văn xuôi ở trên thì gọi là kệ Trùng tụng (重頌) - tụng lại, là kệ Kì dạ. Tuy nhiên, trong kinh và luận của Phật, người ta vẫn dùng hỗn hợp cả 2 Kệ đó.
- Nghĩa hẹp, chỉ dùng riêng về kệ Già đà mà thôi.
2.Cấu trúc hình thức kệ
Kệ có nhiều loại, nhưng người ta thường dùng kệ 2 dòng (gồm 16 âm tiết, mỗi câu 8 âm tiết), cũng gọi là kệ Thông (通). Ngoài ra, có kệ 2 dòng dài từ 22 đến 24 âm tiết (mỗi câu từ 11 đến 12 âm tiết), hoặc không hạn chế số âm tiết. Khi thể loại kệ của Ấn Độ chuyển qua Hán ngữ văn ngôn thì người ta hay dùng hình thức tứ ngôn (4 chữ), ngũ ngôn (5 chữ), đều có 2 câu, giống kiểu thơ tứ cú Trung Hoa nhưng không cần vần luật. Trong kinh Phật, khi dịch ra văn ngôn, phần nhiều người ta dùng kệ Tụng từ 2 đến 6 câu(1), cốt sao ngắn gọn, có nhịp điệu và dùng hình ảnh so sánh, tượng trưng mang tính ẩn dụ để dễ hiểu, dễ nhớ, dễ truyền... Chẳng hạn, bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác.
3.Kệ của Việt Nam
·Các Thiền sư Việt Nam thường viết kệ dưới nhiều hình thức đa dạng. 
Có Ngài viết kệ 2 câu, mỗi câu 5 hoặc 7 âm tiết, như các vị Đại sư: Khuông Việt (匡越), Thiền Lão (禪老), Viên Chiếu (圓照),...; có vị lại viết kệ không vần như Thiền sư Cứu Chỉ (究旨); có vị viết kệ 6 câu, mỗi câu 4 âm tiết như Thiền sư Bản Tịnh (本淨); có vị dùng hình thức thơ ngũ ngôn tứ tuyệt hoặc thất ngôn tứ tuyệt để viết kệ, như Đại sư Khuông Việt và các vị Thiền sư: Định Hương (定香), Không Lộ (空路), Ngộ Ấn (悟印), Bảo Giám (寶鑑);... có điều cần chú ý là, các bài kệ Việt Nam đa phần được trình bày trong sách Phật học Việt Nam, như trong Thiền uyển tập anh Ngữ lục(2), Khóa hư lục,... Hơn nữa, chúng thường được dùng kệ Vấn và kệ Đáp - Cô khởi kệ để diễn đạt những vấn đề cốt tủy về triết học Thiền tông, như sinh tử(生子) - niết bàn (涅槃), sắc (色) - không (空), tâm (心) - thân (身), phàm (凡) - thánh (聖), hữu (有) - (無),... Loại này đều do nhà sư Việt Nam vừa viết ra, vừa tạo dựng nội dung cũng như hình thức biểu đạt của chúng.
·Trong Ngữ lục có bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác (1052-1096) thuộc Cô khởi kệ được diễn đạt hình thức độc đáo, gồm 6 câu: 4 câu đầu dưới hình thức thơ ngũ ngôn (tứ tuyệt, cách vần, thanh bằng) và 2 câu cuối là hình thức thơ thất ngôn. Dưới đây là nguyên văn bài kệ đó:
春去百花落
春到百花開
事逐眼前過
老從頭上來
莫謂春殘花落盡
庭前昨夜一枝梅
Xuân khứ: bách hoa lạc,
Xuân đáo: bách hoa khai.
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tòng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
II.NỘI DUNG CHÍNH VỀ BÀI KỆ CỦA TRƯỞNG LÃO MÃN GIÁC
Khi khảo sát bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác, xin chú ý 4 vấn đề:
-Một là, kệ thường diễn đạt dưới hình thức thơ, nhưng về bản chất, chúng không phải là thơ - loại hình văn học nghệ thuật, mà là văn học chức năng lễ nghi. Nếu lẫn loại hình thể loại, ta sẽ bị lạc hướng.
-Hai là, về văn học chức năng lễ nghi có một nguyên tắc tuyệt đối là, phải đặt các bài kệ vào môi trường chúng đang thực hành nghi lễ thì mới hiểu đúng nội dung của chúng. Nếu tách khỏi môi trường đang thực hành lễ nghi cụ thể của chúng, bài kệ sẽ bị chệch nghĩa.
-Ba là, kệ bao giờ cũng gắn với triết học Phật. Do vậy, ta phải trình bày nội dung của chúng bằng những khái niệm, thuật ngữ, điển cố... của Phật học. Nếu không, ta sẽ giải thích không đúng nội dung của chúng.
-Bốn là, về cơ bản, kệ không nhan đề. Điều này rất quan trọng. Tất cả các nhan đề của những bài kệ trongNgữ lục nói chung, bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác nói riêng, đều do người sau đặt tên. Nhưng khi đặt nhan đề cho các bài kệ này - văn học chức năng lễ nghi, người ta lại đặt chúng thành loại hình nghệ thuật - thơ ca. Chẳng hạn họ đặt tên Ngôn hoài của Không Lộ, Cáo tật thị chúng của Mãn Giác(3),...
Với tinh thần 4 điểm trên, chúng tôi sẽ khảo sát nội dung chính về bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác.
1. Ngữ lục
Muốn hiểu giá trị đích thực của bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác, trước hết, ta đọc về hoàn cảnh ra đời và mục đích thực hành lễ nghi của bài kệ này(4).
2. Nhan đề
Ta không thể đặt bài kệ của Trưởng lão Mãn Giác là Cáo tật thị chúng (告疾示眾). Tại sao?
a. Cáo tật
Cáo tật còn gọi là cáo bệnh (告病), chỉ các vị quan lại thời xưa khi bị ốm, xin vua ban cho nghỉ hưu và được trí sĩ.
Sách Ngữ lục kể rằng, thời Lý Thánh Tông (1054-1072), thân phụ của Ngài đang giữ chức Trung thư Viên ngoại lang(5). Lúc đó, Ngài được dự kỳ tuyển để phụng hầu cung vua(6). Đến năm Anh Vũ Chiêu Thắng 1077 triều Lý Nhân Tông, Ngài xin xuất gia. Vua chấp nhận. Sau khi Ngài đắc đạo, vua Nhân Tông mời Ngài đến Nhập nội Đạo tràng(7) đứng đầu Thiền viện Giáo Nguyên với danh nghĩa Tứ tử Đại sa môn được thực ấp 50 hộ và giao cho Ngài nắm Tam ti công sự - chức Tam ti Phó sứ(8).
Xin nói thêm: ban đầu, vua Nhân Tông ban tên cho Ngài là Hoài Tín. Sau, vì kính trọng Ngài, từ đó, vua gọi Ngài là Trưởng lão (長老). Khái niệm Trưởng lão lại có 2 nghĩa: một là, chỉ người có trí tuệ, có uy quyền trong chính phủ; hai là, trong Thiền lâm, những vị Thượng tọa Tì khưu đứng đầu về sự hiểu biết sâu sắc và có năng lực giảng giải kinh Phật mới được gọi là Trưởng lão. Rồi khi Trưởng lão mất, đức vua sắc cho Ngài thụy là Mãn Giác.
Như vậy, Trưởng lão vừa trong chính phủ, vừa đứng đầu Thiền gia. Vì thế, khi bị ốm, “ngày 30 tháng 11 niên hiệu Hội Phong thứ 5, (Trưởng lão) cáo tật”.
Vậy Trưởng lão cáo tật với ai? Trước hết, Ngài cáo tật với đức vua Lý Nhân Tông và cuối cùng, Ngài cáo tật với Tam ti, vì Ngài chỉ dưới vua và dưới Tam ti mà thôi. Tuy nhiên, với tư cách người đứng đầu Thiền viện Giáo Nguyên - trung tâm Phật học Thăng Long nên khi thị tịch, Ngài muốn trao truyền Tông yếu Thiền tông cho đệ tử và cần Thị chúng kệ.
b. Thị chúng
Hầu như người ta đều giải thích: thị chúng (示眾) là “bảo mọi người”(9). Không phải. Thị chúng là một thuật ngữ triết học Thiền tông, dùng để chỉ khai thị tông yếu (開示宗要) mà mở ra then chốt giáo tông cho môn đệ(10). Cho nên, khi thị chúng, các tì khưu thường dùng kệ. Chẳng hạn, các vị Thiền sư Trung Hoa từ Tùy - Đường đến Tống,... vẫn để lại Thị chúng kệ, như Tuệ Viễn Đại sư(11) (慧遠大師), Vân Môn Văn Yển(12) (雲門文偃), Thiền sư Từ Minh(13) (禪師慈明), ... đã làm. Ở Việt Nam, Trưởng lão đã để lại Thị chúng kệ. Bởi thế, cái gọi là Cáo tật thị chúng kia sẽ ngắt thành 2 phần:
-Câu 1: “Ngày 30 tháng 11 niên hiệu Hội Phong thứ 5, (Trưởng lão) cáo tật”.
- Câu 2, đều có thể đọc:
+ (Sau khi cáo tật, Trưởng lão) thị chúng. (Ngài đọc) Kệ như sau:...
+ (Sau khi cáo tật, Trưởng lão đọc bài) Thị chúng kệ như sau:...
Riêng Thiền Tông từ Vô Ngôn Thông (? - 826) đến năm 1096 trước khi Mãn Giác mất, chưa có Thiền sư nào có Thị chúng kệ ngoài Trưởng lão.
Đấy là lí do không thể đặt kệ của Trưởng lão là Cáo tật thị chúng.
3. Nội dung chính
Một trong những then chốt của tông phái Vô Ngôn mà Trưởng lão muốn khai mở cho môn đệ hiểu sinh - tử. Trong mê giới của Lục đạo(14), sinh - tử nối nhau vô cùng vô tận. Đối lập với Niết bàn là thế giới khổ não. Tuy nhiên, sinh - tử với Niết bàn chỉ là 1, không phải là 2. Nếu sinh - tử là phi xả (非捨) - không thể bỏ được, phi phi xả (非非捨) - không phải không thể bỏ được,... thì, Niết bàn cũng vô đắc (無得) - không thể được, vô bất đắc (無不得) - không phải không thể được. Đấy là tư tưởng chi phối bài kệ của Trưởng lão.
Để hiểu bài kệ của Trưởng lão, chúng tôi sẽ trình bày 2 phần:
a.Bốn câu đầu
·Câu 1 - 2:
Thoạt nghe, 2 câu đầu tưởng như Trưởng lão đưa ra quy luật tất yếu của tự nhiên:
Xuân đi trăm hoa rụng (Xuân khứ bách hoa lạc),
Xuân đến trăm hoa nở(Xuân đáo bách hoa khai).
Mỗi năm, Xuân đều một lần về. Xuân đi (khứ), rồi Xuân đến (đáo). Sự luân hồi này, con người cảm nhận được qua hình ảnh trăm hoa tàn (bách hoa lạc), trăm hoa nở (bách hoa khai). Bởi vậy, khi nhắc tới “trăm hoa tàn”, “trăm hoa nở”, Trưởng lão muốn thị chúng cho môn đệ hiểu rằng, quy luật này phổ quát chẳng trừ ai. Nghĩa là, ai cũng có thể đến khởi điểm nhập vào vũ trụ: lạc (rụng - chết). Đấy là quy luật khách quan. Vì thế, Ngài ung dung nhập Niết bàn và cũng ung dung biết trăm hoa - chỉ môn đệ, nhất định nở (khai), nhất định bừng lên, đẹp hơn. Và rồi, các thế hệ sau, thế hệ 1, thế hệ 2, thế hệ 3,... sẽ bước theo: Xuân khứ bách hoa lạcLạc (rụng) và khai (nở), khứ (đi) và đáo (đến) đều vô thường!
Vũ trụ là thế, giới tự nhiên là thế! Còn xã hội con người?
·Câu 3 - 4:
Việc đời chạy nhanh trước mắt(Sự trục nhãn tiền quá),
Tuổi già theo đến trên đầu (Lão tòng đầu thượng lại).
Hai khái niệm sự (事) và lão (老) mà Trưởng lão muốn thị chúng cho môn đệ nắm được then chốt Thiền tông.
Sự là thuật ngữ triết học Thiền tông, chỉ tất cả hữu vi pháp (有為法) do nhân duyên sinh ra, là những hiện tượng vô cùng khác biệt trong vũ trụ, đối lập với  (理) của pháp môn bình đẳng; nghĩa là, sắc tướng vô thường có muôn hình vạn trạng biến đổi diễn ra trong cuộc sống mà nhục nhãn thấy được. Đúng như Tăng Triệu (僧肇) kết luận: “Sự tuy vô cùng, nhưng lí chung quy chỉ một đường”(15). Tiếp theo, ta gặp chữ lãovới nghĩa đen: già. Nhưng ở đây ta lại gặp khái niệm triết học Thiền tông: Lão. “Lão” là một trong 24 hành pháp không tương ứng của Duy thức tông. Các sắc tâm nối nhau biến đổi, gọi là lão. Sinh, lão, trú, vô thường, gọi là tứ tướng. “Lão” tương đương với dị tướng của hữu bộ. Sinh khổ (生苦), lão khổ (老苦),bệnh khổ (病苦), tử khổ (死苦) gọi là tứ khổ (四苦). Có 4 loại khổ của nhân gian: Sinh khổ (từ hoài thai đến xuất sinh). Lão khổ (suy tàn biến thành lão). Bệnh khổ (tứ đại tăng tổn thành bệnh, khi bệnh thì khổ). Tử khổ(khi ngũ uẩn hỏng lìa, hoặc thọ mệnh hết). Sinh tử luân hồi trong mê giới nối nhau vô cùng, vô tận và đối lập với Niết bàn (Bồ đề). Duy thức luận (quyển 8) đưa ra 4 loại tướng trong một chu kì của chúng sinh, cũng gọi là tứ tướng (4 khổ). Gồm: sinhlãobệnhtử. Tướng mà chúng sinh xuất sinh gọi là sinh tướng (生相); tướng của tuổi già là lão tướng (老相); tướng của bệnh tật là bệnh tướng (病相); tướng của chết là tử tướng (死相),... Sự sinh tử trói buộc con người. Tham, sân, si cùng với sinh tử phiền não trói buộc con người không được tự tại, giống như lưới võng trói buộc chúng sinh, không giải thoát được. Lời Thị chúng ở đây như lời trăng trối về tông yếu Thiền tông của Ngài.
·Bốn câu đầu, Trưởng lão dùng văn vần loại ngũ ngôn, thể tứ tuyệt, vần bằng (khai 開, lai 來nhưng cách dòng (câu 2 - 4) để thị chúng theo thời gian: đương thời (xuân đang khứ, hoa đang lạc) --> tương lai (xuân sẽ đáo, hoa sẽ lai); rồi quá khứ (sự đã quá) --> hiện tại (lão đang tòng).
Hai câu đầu, Trưởng lão hoàn toàn ứng khẩu. Đến câu 3 - 4, Ngài dùng thi liệu của tiền nhân. Đó là từ bàiThủy biên ngẫu đề (水邊偶題) của La Ẩn(16) thời Đường mà Ngài mượn để diễn đạt giáo lí Thiền tông:
只知事逐眼前去
不覺老從頭上來
Chỉ triSỰ TRỤC NHÃN TIỀN KHỨ,
Bất giác LÃO TÒNG ĐẦU THƯỢNG LAI.
“Dòng sông vô tình đi không về; bên sông, hoa đẹp nở vì ai? Nhưng chỉ biết sự (vô vàn sắc tướng) đang ruổi trước mắt con người mà bất giác nhận thấy tuổi già đã trèo lên đầu mình. (Thi nhân) thở than cuộc đời cực cùng như Khổng (Tử), Mạnh (Tử) và ai (hiển) đạt như Chu(17) (周) - Triệu (召) cũng bị trần ai. Nghĩ xem, cái lí kia thì ai gặp may, chỉ thầy Trang Tử là người giỏi nhất”(18). Đó là tâm trạng cô đơn, bị cuộc đời ném ra bên bờ sông và mỉa mai ai may, ai tài mà thi nhân La Ẩn thở than qua thơ thất ngôn bát cú.
Nhưng, Trưởng lão không cảm nhận cuộc đời như vậy. Ngài hiểu con người luôn luôn vận hành theo vũ trụ, biến đổi vô thường. Cho nên, dù dùng thi liệu tiền nhân, mỗi người không chỉ diễn đạt khác nhau, viết thể loại khác nhau mà mỗi người lại đi con đường khác nhau: La Ẩn là thi sĩ nhà Nho viết thơ Đường 7 chữ 8 câu, còn Trưởng lão là Thiền sư Vô Ngôn, đọc khẩu ngữ Cô tụng kệ theo cách riêng để giảng giải cho môn đệ về quy luật muôn đời!
Nếu so sánh câu 3-4 thất ngôn của La Ẩn với câu 3-4 ngũ ngôn của Trưởng lão ta thấy, 2 vị tư tưởng hoàn toàn khác nhau. Một bên là thi nhân hốt hoảng, bất ngờ cuộc đời: “Chỉ tri sự trục nhãn tiền quá, Bất giác lão tòng đầu thượng lai”; còn một bên là Thiền sư ung dung, tự tại trước việc tịch diệt: “Sự trục nhãn tiền quá, Lão tòng đầu thượng lai”.
b.Hai câu cuối:
·Để kết thúc bài kệ, Trưởng lão đưa ra phân biệt các phái Thiền tông:
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết(Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận),
Đêm qua trước sân có một cành mai (Đình tiền tạc dạ nhất chi mai).
Xuân khứ và xuân lai đều vô thường. Hoa lạc và hoa khai cũng vậy, đều vô thường. Nhưng có tuệ nhãn, Phật nhãn mới nhận được cái hằng thường. Đến (đáo) và đi (khứ), tàn và nở đều là hiện tượng muôn hình vạn trạng đang diễn ra trước mắt con người và đều vô thường, nhất thời. Sự hằng thường thuộc bản thể vũ trụ. Hôm qua mai nở, hôm nay mai tàn; hôm qua thấy Thầy (chỉ Trưởng lão) đang giảng truyền cho môn đệ; đêm nay ngày 30 tháng 11 năm Bính Tý 1096 Thầy nhập Niết bàn. Môn đệ tuy không thấy hình hài sắc tướng của Thầy nhưng Thầy để lại hằng thường vô sắc tướng thành biểu tượng vĩnh hằng: Nhất chi mai. Đó là lời trăng trối mà Trưởng lão khẳng định:
"Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua trước sân có một cành mai!"
·Lần theo thời gian từ năm 1096 khi Trưởng lão nhập Niết bàn về trước, thi nhân thường sáng tác thơ và từđể thở than cuộc đời ngắn ngủi, đặc biệt khóc than số phận người đàn bà sớm nở tối tàn, hoa héo xuân phai,... Ấy thế, chưa thấy một câu nào dù là thơ hoặc từ tương tự kiểu 5 chữ Xuân tàn hoa lạc tận (春殘花落盡) của Trưởng lão. Có lẽ phải tới thế kỷ XVIII ta mới thấy xuất hiện cụm từ na ná Xuân tàn hoa lạc tận:
試看春殘花盡落
但是紅顏老死時
"Thí khán xuân tàn hoa tận lạc,
Đãn thị hồng nhan lão tử thì"(19)
Nghĩa là, “thử xem xuân tàn hoa hết rụng, nhưng hồng nhan đâu được sống đến lúc già”. Nếu để ý, cụm từ trên được đảo chữ tận (hết) lên trên chữ lạc để nhấn mạnh tất cả hoa đã rụng: xuân tàn hoa tận lạc. Sau, người Trung Hoa khi làm thơ vẫn quen viết Xuân tàn hoa tận lạc:
一朝夢醒吾何往
只似春殘花盡落
"Nhất triêu mộng tỉnh ngô hà vãng,
Chỉ tự xuân tàn hoa tận lạc".
Nghĩa là, “một sớm mộng tỉnh, ta đi về đâu? Chỉ như xuân tàn hoa hết rụng”.
Riêng câu cuối Cô tụng kệ, Trưởng lão đã sử dụng thi liệu từ câu 3 - 4 trong bài Tảo mai (早梅) của Tề Kỉ (齊己):
Tiềnthôn thâm tuyết lí (前村深雪裡),
Tạc dạnhất chi khai (昨夜一枝開)(20).
Nghĩa là, trước thôn trong tuyết thẳm, đêm qua một nhành (mai) nở”. Nếu lại so sánh Tảo mai của Tề Kỉ (860 - 937) với Cô tụng kệ của Trưởng lão, ta lại thấy 2 bài khác nhau về tư tưởng. “Vạn cây (mai) bị cóng đến muốn chết, nhưng hơi ấm riêng rễ trở về. Trước thôn trong tuyết thẳm, đêm qua một nhánh (mai) nở. Hương thầm gió đưa qua, con chim nhìn thấy hoa trắng đang đến. Năm tới như phù hợp với thời tiết, nên hoa mai đầu tiên báo Xuân Đài”(21). Rõ ràng, thi sĩ Tề Kỉ ngạo cao vì chỉ mình chàng báo trước cho muôn loài biết xuân đang về và cũng mình chàng chịu được cóng rét: "đêm qua trong tuyết thẳm, có một nhánh mai nở hoa". Cụm từ nhất chi khai khoa trương, còn cụm từ nhất chi mai thì thầm kín và tế nhị. Tuy vậy, ta cũng nên khen hình tượng của nhà thơ Tề Kỉ thời Đường khá độc đáo.
·Gần trăm năm sau, Diêu Thuật Nghiêu (姚述堯) - người Trung Hoa lại dùng thi liệu của Trưởng lão Việt Nam để sáng tác từ (詞) nổi tiếng theo điệu Nguyễn Lang quy (阮 郎歸). Và dĩ nhiên xin nói thêm: Diêu Thuật Nghiêu(22) là người Tiền Đường (錢塘) thuộc Bách Việt, đỗ Tiến sĩ năm 1154, làm quan 21 năm (1168-1188). Câu đầu, Tiến sĩ Diêu viết: Giang thôn tạc dạ nhất chi mai (江村昨夜一枝梅). Riêng hình tượng nhất chi mai trong kệ được nhiều Thiền sư Trung Hoa dùng. Như Tục đăng lục năm 1097 có nhất chi mai. Rồi năm Gia Định 1208 có câu Tuyết trung sơ trán nhất chi mai (雪中初綻一枝梅) của Định Tuệ Hải Ấn Tín Thiền sư, thời Thanh có câu Đình tiền tiên trán nhất chi mai (庭前先綻一枝梅) của An Tịnh Chu Thiền sư(23) thị tịch năm Thuận Trị 1648, ...
Trên đây là 2 vấn đề chính mà chúng tôi đã trình bày.
Phụ lục
1.Ngữ lục(Câu chuyện về Đại sư Mãn Giác)
Đại sư Mãn Giác chùa Giáo Nguyên, Cứu Liên; người Lũng Triền, An Cách, họ Nguyễn, húy Trường (長); cha là Hoài Tố (懷素), làm quan tới chức Trung thư Viên ngoại lang(24).
Khi Lý Nhân Tông còn ở tiềm để(25), bấy giờ có chiếu chỉ cho con em các nhà danh gia vào hầu trong cung. Ngài - chỉ Mãn Giác, vì học rộng, nhớ nhiều, đọc thông Nho - Thích(26), nên được dự kì tuyển này. Những lúc rảnh việc công, Ngài thường đem thiền na(27) ra niệm. Khi Nhân Tông lên ngôi, bởi quý trọng mà ban cho Ngài là Hoài Tín.
Năm Anh Vũ Chiêu Thắng(28), Ngài dâng biểu xin xuất gia. Khi được ấn chứng của sư Quảng Trí chùa Quán Đính, Ngài bèn mang bình tích đi vân du tìm khắp đạo hữu. Khi Ngài tới đâu, người theo học rất đông. Ngài đọc Đại tạng kinh đạt tới vô sư trí(29) và là lãnh tụ pháp môn một thời.
Đế cùng Cảm Linh Nhân Hoàng Thái hậu lưu tâm đến Thiền học, bèn dựng chùa này cạnh cung Cảnh Hưng, mời Ngài tới đó trụ trì để tiện việc tham vấn. Khi tham vấn, Đế không dùng tên Ngài để gọi, mà thường gọi Ngài là Trưởng lão.
Một hôm, Đế nói:
Bậc chí nhân(30) thị hiện, ắt phải tế độ chúng sinh, không hạnh nào là không đủ, không sự nào là không tu, chẳng phải chỉ do sức định tuệ(31), mà cũng có công giúp đỡ, nên phải kính nhậm(32) lấy.
Bèn trao Thiền viện Giáo Nguyên cho Hoài Tín Đại sư để truyền tâm ấn vô tu vô chứng(33) của Tổ và phụng mệnh Nhập nội Đạo tràng(34), ban cho Tứ tử Đại sa môn, cùng với quan Tam ti bàn việc công và cho 50 hộ miễn thuế để cung đốn việc chùa.
Ngày 30 tháng 11, niên hiệu Hội Phong thứ 5, (Trưởng lão) cáo tật. (Trưởng lão) Thị chúng. Kệ rằng:
春去百花落
春到百花開
事逐前眼過
老從頭上來
莫謂春殘花落盡
庭前昨夜一枝梅
"Xuân khứ: bách hoa lạc,
Xuân đáo: bách hoa khai.
Sự trục tiền nhãn quá,
Lão tòng đầu thượng lai.
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai".
Đêm đó, Ngài ngồi kiết già ra đi, thọ 45 tuổi đời, 19 tuổi hạ. Đế dùng hậu lễ để ban tặng. Các bậc công khanh ai cũng dâng hương, trà tỉ, thu xá lị, xây tháp ở chùa Sùng Nham, An Cách. (Vua Lý Nhân Tông) sắc (phong Ngài) thụy hiệu Mãn Giác.
2.Bài thơ của La Ẩn (羅隱):
La Ẩn (833-909), thi nhân nổi tiếng cuối thời Đường, người Tân Thành (新城), tỉnh Chiết Giang (浙江), tự là Chiêu Gián (昭諫). Hiện người ta giữ được gần 500 bài thơ của ông và vẫn có nhà bia về ông. Toàn bàiThủy biên ngẫu đề (水邊偶題) của La Ẩn như sau:
野水無情去不回
水邊花好為誰開
只知事逐眼前去
不覺老從頭上來
窮似丘軻休嘆息
達如周召亦塵埃
思量此理何人會
蒙邑先生最有才
"Dã thủy vô tình khứ bất hồi,
Thủy biên hoa hảo vị thùy khai.
Chỉ tri sự trục nhãn tiền khứ,
Bất giác lão tòng đầu thượng lai.
Cùng tự Khâu, Kha hưu thán tức,
Đạt như Chu, Triệu diệc trần ai.
Tư lường thử lí hà nhân hội,
Mông ấp Tiên sinh tối hữu tài".
3.Bài thơ của Tề Kỉ (齊己):
Tề Kỉ (860 - 937) họ Hồ (胡), tên là Đắc Sinh (得生), người Ích Dương (益陽), xuất gia. Ngài nghiên cứu đạo Phật, nổi tiếng sáng tác thơ, hiện còn hơn 800 bài. Dưới đây là bài thơ Tảo mai (早梅) của Ngài:
萬木凍欲折
孤根暖獨回
前村深雪裡
昨夜一枝開
風遞幽香去
禽窺素艷來
明年如應律
先發映春台
"Vạn mộc đống dục chiết,
Cô căn noãn độc hồi.
Tiền thôn thâm tuyết lí,
Tạc dạ nhất chi khai .
Phong đệ u hương khứ,
Cầm khuy tố diễm lai.
Minh niên như Ứng Luật,
Tiên phát ánh Xuân Đài"(35).
4.Bài từ (詞) của Diên Thuật Nghiêu (姚述堯) theo điệu Nguyễn Lang quy (阮郎歸) như sau:
Diêu Thuật Nghiêu(36) không rõ năm sinh và mất, chỉ biết tác giả đỗ Tiến sĩ năm Thiệu Hưng thứ 24 (1154), làm quan đến 1188.
江村昨夜一枝梅
先傳春信回
非煙非霧下瑤台
香風拂面來
云幕卷日華開
祥光映上台
安與從此步天街
君王賜壽杯
"Giang thôn tạc dạ nhất chi mai,
Tiên truyền xuân tín hồi.
Phi yên phi vụ há Dao Đài,
Hương phong phất diện lai.
Vân mạc quyển, nhật hoa khai,
Tường quang ánh thượng Đài.
An dữ tòng thử bộ thiên nhai.
Quân vương tứ thọ bôi".

Chú thích:
(1) Phật Quang đại từ điển, Phật Quang xuất bản 1988 - 1999, tr.4383.
(2) Thiền uyển tập anh ngữ lục, khắc in Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715). Từ đây viết tắt là Ngữ lục.
(3) Hoàng Việt thi tuyển, Sđd, tr.10.
(4) Xem phần Phụ lục 1.
(5),(24) Trung thư Viên ngoại lang: Trung thư thuộc Bộ Lại, từ trên xuống gồm Thượng thư, Thị lang, Lang trung. Thời Lý Nhân Tông (1072-1128) chức Trung thư Viên ngoại lang tương đương Tam phẩm.
(6) Khi đó, nhà Lý chưa mở thi Hội.
(7),(34) Chỉ Đạo tràng trong Đại nội (cung vua); nơi thờ Phật và tu hành đặt ở trong cung.
(8) Tam ti: gồm Thái úy, Tư đồ, Tư không. Tam ti Phó sứ tương đương tể tướng, chỉ dưới Tam ti.
(9) Xin xem các sách Thơ văn Lí - TrầnNgữ văn 10Ngữ văn sách giáo viên 10Phân tích tác phẩm văn học trung đại Việt Nam từ góc nhìn thể loại,...
(10) Phật Quang đại từ điển: Sđd, tr.2145. Thị chúng còn có tên thùy thuyết (垂說), thùy ngữ (垂說), thùy thị (垂示),...
(11) Tuệ Viễn Đại sư (334-416): người Lâu Phiền (樓煩), Nhạn Môn (雁門), họ Giả (賈).
(12) Vân Môn Văn Yển (864-949): họ Trương (張), người Gia Hưng (嘉興), Chiết Giang (浙江).
(13) Thiền sư Từ Minh (986 - 1039).
(14) Lục đạo: gồm Thiên, Nhân, A tu la, Nga quỷ, Súc sinh, Địa ngục.
(15) Bảo tạng luận (寶藏論) của Tăng Triệu (384 - 414), họ Trương, người Kinh Triệu (京兆), thời Đông Tấn.
(16) La Ẩn (833 - 909): tự là Chiêu Gián (昭諫), người Tân Thành (新城), Chiết Giang (浙江). Hiện người Trung Hoa đã lưu trữ gần 500 bài thơ của La Ẩn.
(17) Chu (khoảng từ 369-286 TCN): tên là Chu, gọi là Trang Tử; chưa rõ nhân vật tên là Triệu.
(18) Dịch nghĩa toàn bài Thủy biên ngẫu đề của La Ẩn.
(19) Theo Hồng lâu mộng, thơ do nhân vật Đại Ngọc viết, gồm 6 câu.
(20) Theo Tống Cao tăng truyện (宋高僧傳), Q.30. Xem thêm Đường thi kỉ sự (唐詩紀事) và Ngũ đại sử bổ(五代史補).
(21) Xem toàn bài Tảo mai trong Phụ lục.
(22) Diêu Thuật Nghiêu: tự là Đạo Tiến (道進), người Hàng Châu. Xem Nguyễn Quy lang trong Phụ lục.
(23) An Tịnh Chu Thiền sư (1597-1648): thụy là Thụy bạch tuyết tự (瑞白雪嗣).
(25) Tiềm để: khi chưa lên ngôi.
(26) Nho, Thích: đạo Nho và đạo Phật.
(27) Thiền na: là thiền định, tĩnh lự.
(28) Anh Vũ Chiêu Thắng: niên hiệu vua Lý Nhân Tông những năm 1076-1084.
(29) Vô sư trí: chỉ trí tuệ không do lực ngoài sách vở, không nhờ người khác dạy mà tự nhiên thành tựu. Nghĩa thứ hai là, trí tuệ không phải do thầy dạy, mà tự đạt được.
(30) Chí nhân (至人): người mà tư tưởng, đạo đức... đạt tới độ tối cao.
(31) Định tuệ: trí tuệ tập trung vào một vấn đề gì đó, không bị phân tán.
(32) Kính nhậm: kính cẩn gánh vác công việc.
(33) Vô tu vô chứng: chỉ việc đạt tới cảnh giới tận cùng. Việc tu hành siêu việt, đối lập với thể ngộ; nghĩa là, bậc chân nhân vô vi chứng, vô sở chứng, tu vô sở tu.
(35) Theo Tống Cao tăng truyện (宋高僧傳), quyển 30.
(36) Diêu Thuật Nghiêu: tự là Tiến Đạo (進道), người Tiền Đường (前塘), Hàng Châu (杭州), Chiết Giang (浙江)./.
(Tạp chí Hán Nôm, Số 4 (107) 2011, Tr.28 - 36)


(Khoa Ngữ văn ĐH Sư phạm Hà Nội)

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.