bài viết trong chuyên mục "Thiền và Thở"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiền và Thở. Hiển thị tất cả bài đăng

TƯƠNG QUAN 
GIỮA THIỀN SỨC KHỎE VÀ THIỀN GIÁC NGỘ 
Trần Đinh

DẪN NHẬP
Nói về kiếp người Đức Lão Tử đã thốt lên rằng:
“Ngô hữu đại hoạn, vị ngô hữu thân,
Ngô nhược vô thân, hà hoạn chi hữu?”
Dịch :
“ Ta có cái khốn khổ lớn, vì ta có thân,
Nếu ta không thân thì đâu có khổ gì ?”[1]
Thật vậy, khi chúng ta mang cái thân này thì làm sao tránh khỏi cái khổ về thân và tâm. Về thân thì chúng ta mang biết bao nhiêu là bệnh tật, về tâm thì có biết bao nhiêu ưu tư phiền não. Vậy làm sao để thoát khỏi bệnh tật và phiền não? Đức Phật đã chỉ dạy rất nhiều phương pháp, nhưng người viết chỉ nói về phương pháp “Thiền”. Riêng phương pháp này cũng có rất nhiều như: thiền Minh Sát, thiền Tứ Niệm Xứ, thiền xuất hồn, thiền luân xa, thiền chú…Tên gọi thì nhiều nhưng mục đích chung là đem lại thân thể mạnh khỏe, an lạc trong hiện tại và giải thoát trong tương lai. Cho nên ngày nay thiền không những được áp dụng trong chốn thiền môn với mục đích giác ngộ, mà còn được giới y học dùng để điều trị các bệnh nan y và đã đạt được những kết quả rất tốt, họ tạm gọi đó là thiền sức khỏe.
Đến đây có nhiều người lầm tưởng thiền sức khỏe là một phương pháp thiền khác không phải thiền giác ngộ, mà không biết rằng giữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau.
THIỀN LÀ GÌ ?
chua_phap_hoa-daknong
Một lớp thực tập thiền dành cho trẻ em tại chùa Pháp Hoa Daknong
Trước hết chúng ta cần phải biết “thiền là gì?”.
Thiền (chữ Hán: chán tiếng Nhật: zen), gọi đầy đủ là Thiền-na (tiếng Trung Quốc: chánna 禪那tiếng Sanskrit: dhyāna,tiếng Pāli: jhāna, tiếng Nhật: zenna, tiếng Anh: meditation), là thuật ngữ Hán-Việt được phiên âm từ dhyāna trong tiếng Phạn. Dhyāna là danh từ phát sinh từ gốc động từ √dhyā (hoặc √dhyai). Bộ Sanskrit-English Dictionary của Monier-Williams ghi lại những nghĩa chính như sau: to think of, imagine, contemplate, meditate on, call to mind, recollect. Tất cả các trào lưu triết học Ấn Độ đều hiểu dưới gốc động từ này là sự tư duy, tập trung lắng đọng và vì vậy, ta cũng tìm thấy từ dịch ý Hán-Việt là Tĩnh lự (chữ Hán: 靜慮). Các cách phiên âm Hán-Việt khác là Đà-diễn-na (chữ Hán:  馱衍那), Trì-a-na (持阿那). Đây là một thuật ngữ được nhiều tôn giáo sử dụng để chỉ những phương pháp tu tập khác nhau, nhưng với một mục đích duy nhất là: đạt kinh nghiệm "Tỉnh giác", "Giải thoát", "Giác ngộ". 
Tiến sĩ khoa tâm lí học kiêm Thiền sư người Anh, David Fontana viết tóm tắt rất hay về thế nào là Thiền và thế nào là Phi thiền: "Thiền không có nghĩa là ngủ gục; để tâm chìm lặng vào cõi hôn mê; trốn tránh, xa lìa thế gian; vị kỉ, chỉ nghĩ tới mình; làm một việc gì không tự nhiên; để rơi mình vào vọng tưởng; quên mình ở đâu. Thiền là: giữ tâm tỉnh táo, linh động; chú tâm, tập trung; nhìn thế giới hiện hữu rõ ràng như nó là; trau dồi tấm lòng nhân đạo; biết mình là ai, ở đâu."[2]
THIỀN SỨC KHỎE

chua_buu_minh_gia_lai
Một lớp thực tập thiền dành cho các thí sinh thi hoa hậu người sắc tộc tại chùa Bửu Minh Gia Lai
Tất cả chúng ta đều mang tấm thân duyên hợp, cho nên không ai mà không mang những mầm móng bệnh. Người khỏe hay người bệnh là do sức khỏe hay sự miễn nhiễm trong cơ thể chúng ta mạnh hay yếu. Mặc dù y học ngày càng phát triển nhưng nhiều bệnh viện và bác sĩ người Âu cũng đã dùng thiền để chữa trị bệnh tâm thần, bệnh AIDS (Sida), bệnh ung thư... nên tạm gọi là thiền sức khỏe.
caulacbo_nhan_sinhPHƯƠNG PHÁP ỨNG DỤNG
Có rất nhiều phương pháp thiền được dùng để trị bệnh như :
1.Quán tưởng hay Thiền quán(Visualisation Meditation): Tâm hành giả nghĩ vào một điểm giữa hai chặn mày, hay mắt hé mở nhìn vào một điểm đen, trắng… treo trên tường, hay đèn nến, một ảnh tượng treo trên tường, Tượng Phật, hay tượng một lãnh tụ mà mình hâm mộ. Rồi tập trung tư tưởng (mind) vào đó, đừng nghĩ những vấn đề gì khác. 
 2.Thiền chánh niệm (Mindfulness Meditation): Đi đứng, nằm ngồi…luôn luôn tỉnh thức. Lúc đi biết mình đang đi, đứng, ăn… biết mình đang đứng hay đang ăn (Be mindfulness, you know what you doing).
3. Thiền chú (Mantra Meditation): Đọc chú hay niệm danh hiệu Phật. Hành giả có thể niệm danh hiệu Phật, Bồ tát, hay bài chú sáu chữ: “Um ma ni bát mê hồng”, lặp đi lặp lại như thế (niệm trong cổ nhưng vẫn nghe được tiếng. Tập trung tư tưởng nghe tiếng niệm đó, không nghĩ gì khác hơn.[3]
 4. Thiền thở (quán sổ tức) là một trong những cách dễ nhất để định tâm mà Đức Phật đã chỉ dạy trong kinh “Quán Niệm Hơi Thở” [Anapanasati sutta]. Bác sĩ Andrew Weil (Đại học Arizona, Mỹ), một trong những người đã thí nghiệm và cũng đề nghị sử dụng pháp Thiền Thở để định tâm. Sau khi tâm được an định, hành giả không cần đếm mà tập trung tâm theo hơi thở vào hơi thở ra (gọi là tùy tức, (Following the Breath).[4]
(Hình bên: Thiền tập tại câu lạc bộ Nhân Sinh)
LỢI ÍCH
Sau đây là những minh chứng các bác sĩ phương Tây đã dùng thiền để trị bệnh và đạt được kết quả :
1. Bệnh ung thư
“Bác sĩ phân tâm học, Ainslie Meares, công bố những nghiên cứu liên tục trong các năm 1960 với tựa đề Giảm bệnh không cần thuốc (Relief Without Drugs). Trong bản công bố ông ghi lại những kỹ thuật thiền đơn giản (từ Ấn giáo, vì có lẽ ông chưa biết thiền Phật Giáo, HQ), là các phương cách hữu hiệu có khả năng chữa trị các bệnh lo âu, sợ hải, giảm căng thẳng và đau nhức thường trực”, làm cho cơ thể hoạt động bình thường, hệ miễn nhiễm tăng trưởng giúp bệnh nhân cancer thư giản, thoải mái, bớt bệnh. 
Khoa học gia Jon Kabat-Zinn, tại đại học UCLA, Los Angeles, California, cũng sử dụng thiền chánh niệm trong chương trình Thiền thư giãn MBSR (Mindfulness-Based Stress Reduction) để trị bệnh ung thư. Một thí nghiệm 90 bệnh nhân được công bố cho thấy 31% giảm được sự căng thẳng buồn lo và 67% giảm tâm tính bất thường làm gia tăng sức đề kháng của hệ miễn nhiễm, giúp bệnh ung thư thuyên giảm.”[5] 
Vào tháng 11 năm 1979, trên tạp chí Medicine Journal Australia, bác sĩ Mearses báo cáo về một trường hợp ung thư ruột kết (colon) của một người đàn ông 64 tuổi, một nhà tâm lý học. Ông ta không chịu giải phẫu mà thích hành thiền trung bình 3 giờ mỗi ngày. Chỉ sau 2 tuần lễ đã thấy có sự cải thiện. Sau 6 tuần thì chấm dứt sự trợ lực bơm thụt vào hậu môn – giúp lưu thông ruột kết. Sau 2 tháng không còn chứng thức giấc giữa đêm. Sau 6 tháng, phân trở lại kích thước bình thường và sau 1 năm thì dứt hẳn chứng ung thư.[6]
2. Bệnh AIDS
“Tháng 7.2008 đại học UCLA có cuộc thí nghiệm của Giáo sư Tiến sĩ Jon Kabat-Zinn về chữa trị bệnh AIDS, chương trình 8 tuần “Thiền Chánh niệm giảm căng thẳng MBSR (Mindfulness-Based Stress Reduction). Ông chia bệnh nhân làm hai nhóm. Một nhóm ngồi thiền, một nhóm uống thuốc không ngồi thiền.
Sau 8 tuần, chích máu thí nghiệm. Kết quả như sau: Trung bình, mỗi người ngồi thiền có số lượng bạch huyết cầu (CD4+T) tăng lên 20, còn người chỉ uống thuốc mà không ngồi thiền, bạch huyết cầu (CD4+T) bị sụt giảm mất 185 trung bình cho mỗi người. Với kết quả nầy cho thấy Thiền công hiệu hơn thuốc. Bạch huyết cầu CD4+T có khả năng làm chậm hay chận đứng sự phát triển của bệnh AIDS.”[7]
3. Bệnh tim
Hơn 10 năm trước đây một bài trên Nhật báo Los Angeles Times cho biết, BS Dean Ornish chữa những bệnh tim hiểm nghèo bằng ba phương pháp là cho bệnh nhân ăn chay, tập thể dục và ngồi thiền. Kết quả đạt 85%. Các hãng bảo hiểm sức khỏe (Health Insurance Companies) lớn như Blue Cross, Blue Shield, Mutual of Omaha tài trợ cho mỗi người bệnh 3.500 Mỹ kim để chữa bệnh tim theo phương pháp nầy.[8]
THIỀN GIÁC NGỘ
1. Định nghĩa
Thân đã vô thường, nhưng còn tâm niệm có thường không ? Tâm niệm cũng âm thầm dời đổi, có phần thô lại có phần mau lẹ và vi tế hơn, nếu như chúng ta không có “sức định” thì khó mà thấy được. “Sức định” càng sâu thì chúng ta càng nhìn nhận được những thay đổi của tâm, quá trình sanh diệt của tâm. Từ đó chúng ta nhận biết được bản chất thật của các pháp, thoát khỏi các phiền não khổ đau, đạt được an lạc, giải thoát. Đây chính là thiền giác ngộ. Nhưng tâm thì gồm có thô tâm, vi tế tâm.
1.1 Thô tâm
Thô tâm có nghĩa là những tâm mà mắt thường có thể nhìn thấy, chẩn đoán được vì nó biểu hiện ra bên ngoài như : trầm cảm, căng thẳng, nóng giận…Những trạng thái tâm này thực chất đã được tích tụ từ rất lâu bây giờ vượt “quá ngưỡng” nên mới bộc phát ra bên ngoài.
1.2 Vi tế tâm
Vi tế tâm là những tâm mà mắt thường chúng ta không thể thấy được, các máy móc hiện đại ngày nay cũng không thể nào chẩn đoán được. Những tâm vi tế này chỉ có thể dùng “công phu miên mật, đạt được đại định” mới có thể nhìn thấy, ví như tấm gương càng sáng thì càng nhìn thấy rõ mọi vật hiển hiện trên đó.
2. Phương pháp ứng dụng
Có rất nhiều phương pháp thiền để đưa đến giác ngộ như:
Phật giáo Nguyên thủy thì có :
- Thiền Tứ Niệm Xứ gồm có: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp.
- Thiền Minh Sát Tuệ, nghĩa là dùng trí tuệ để quán sát các pháp.
 Phật giáo Phát triển có:
- Tịnh độ tông dùng phương pháp niệm Phật, nghĩa là nương vào câu niệm Phật để định tâm.
- Mật tông: nương vào câu thần chú để định tâm.
- Thiền tông gồm có: Lục diệu pháp môn, Như Lai thiền, Tổ Sư thiền…
LỢI ÍCH
Tất cả chúng ta đang bị trói buộc bởi ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thụy), tham ái chi phối cho nên lúc nào cũng cam tâm tình nguyện làm nô lệ cho chúng. Giờ đây, nương vào những phương pháp thiền giác ngộ chúng ta được làm chủ bản thân mình, có cơ hội nhìn nhận bản chất thực của các pháp, chọc thủng bức màn vô minh để nếm trải hương vị an lạc trong hiện tại và giải thoát trong tương lai.
Đức Phật, chư Tổ từ Ấn Độ, Trung Hoa đến Việt Nam là những vị đã đạt được những hương vị quý giá đó.
LIÊN HỆ GIỮA THIỀN GIÁC NGỘ VÀ THIỀN SỨC KHỎE
Tuy hai tên gọi hoàn toàn khác nhau vì do mục đích hành thiền của mỗi hành giả khác nhau, nhưng giữa thiền giác ngộ và thiền sức khỏe có sự liên hệ mật thiết với nhau, hỗ tương lẫn nhau hay nói cách khác tuy hai nhưng là một.
1. Từ thiền sức khỏe đến thiền giác ngộ
 “Bị lao phổi, sau 7 lần mổ, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện chỉ còn một góc phổi, mất 8 xương sườn. Thế nhưng ông đã sống đến tuổi 85 chỉ nhờ một bài thở. Ông sinh năm 1913 tại Hà Tĩnh, học Đại học Y khoa Hà Nội rồi sang Pháp tiếp tục học, tốt nghiệp bác sĩ Nhi khoa năm 1941. Năm 1942, ông bị lao phổi nặng, điều trị ở Bệnh viện Saint Hilaire du Touvet, Grenoble. Thời đó, bệnh lao chưa có thuốc chữa. Từ năm 1943 đến 1948, ông phải chịu mổ bảy lần, cắt bỏ tám xương sườn, cắt bỏ toàn bộ lá phổi bên phải và một phần ba lá phổi bên trái. Các bác sĩ Pháp bảo ông chỉ có thể sống được hai năm nữa. Trong thời gian nằm chờ chết, ông đã tìm ra phương pháp thở để tự chữa bệnh cho mình. Và kết quả là ông đã sống đến tuổi 85 mới mất (1997), nghĩa là sống thêm được 50 năm nữa. Ông là bác sĩ, đồng thời là một nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động xã hội rất nhiệt tâm. Ông là cố vấn của bộ môn tâm lý - xã hội học, tại Trung tâm Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ y tế thành phố Hồ Chí Minh (nay là Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch). Trong lúc nhiều người giảng bài, nói chuyện, hội họp, làm việc… thấy uể oải, hụt hơi, thì một người chỉ còn hai phần ba lá phổi, chỉ còn gần một nửa “dung tích sống” như ông lại vẫn ung dung, thư thái không bị stress, không bị mệt.” [9]
Qua đây chúng ta thấy: Trong cơn “thập tử nhất sinh” bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã thực hành thiền thở với mục đích ban đầu là chữa trị bệnh cho mình. Nhưng ông không ngờ rằng: không những ông sống thêm được 50 năm mà ông còn thực chứng được sự vô thường ngay trên bản thân mình.
2. Từ thiền giác ngộ đến thiền sức khỏe
Tháng 04 năm 1966, Hòa thượng Thích Thanh Từ dựng Pháp Lạc thất trên núi Tương Kỳ, Vũng Tàu. Tháng 07 năm 1968, Hòa thượng liễu đạt lý sắc không, thấu suốt thật tướng Bát Nhã. Từ con mắt Bát Nhã trông qua tạng Kinh, lời Phật, ý Tổ hoác toang thông thống. Giáo lý Đại thừa và thâm ý nhà Thiền đã được Hòa thượng khám phá từ công phu thiền định của Người. Ngày 08 tháng 12 năm ấy, Hòa thượng tuyên bố ra thất giữa bao niềm hân hoan của Tăng Ni, Phật tử. Nước cam lồ từ đây rưới khắp, suối từ bi từ đây tuôn chảy, mở ra trang Thiền sử Việt Nam rực rỡ huy hoàng vào cuối thế kỷ 20.[10]
Hiện nay, tuy Ngài đã 90 tuổi, tấm thân giả tạm luôn phải gánh chịu những biến đổi về vật lý như: tim mạch, đau nhức… nhưng thần thái của Hòa thượng luôn an lạc, tự tại.
Điều này chứng tỏ rằng, với những vị đã giác ngộ thì tuy thân mang trọng bệnh nhưng đối với các Ngài không có gì là to tát. Ngược lại, các Ngài càng nhìn nhận rõ hơn về sự duyên hợp của thân, làm chủ được thân, tinh thần của các Ngài rất định tĩnh nhờ đó mà không bị bệnh tình chi phối nhiều mà ngày càng thuyên giảm.
Bác sĩ Herbert Benson cho rằng có từ 60% đến 90% bệnh tật là do căng thẳng gây ra.
 KẾT LUẬN
Thiền giác ngộ và thiền sức khỏe thực ra chỉ là một. Khi chúng ta thực hành thiền sức khỏe thì chúng ta đã thực hành thiền giác ngộ và ngược lại. Cả hai hòa quyện vào nhau và hỗ trợ cho nhau. Nếu chúng ta thực hành thiền sức khỏe mà tâm trí không tập trung thì không có lợi cho sức khỏe Vì thế, tập trung tâm vào một chỗ là điều kiện hàng đầu của phương pháp thiền sức khỏe.
Cũng vậy nếu như chúng ta thực hành thiền giác ngộ mà tâm tán loạn thì thân thể chúng ta cũng sẽ gánh chịu những hậu quả nặng nề như tẩu hỏa nhập ma, bệnh tim mạch...Do đó, yêu cầu của thiền giác ngộ là “chế tâm nhất xứ, vạn sự vô cữu”, nghĩa là nếu để tâm ở một chỗ thì muôn việc không có lỗi.
Tóm lại, hai phương pháp thiền đều có chung một điều kiện. Cho nên trong khi thực hành thiền sức khỏe là đang thực hành thiền giác ngộ và thực hành thiền giác ngộ là đang thực hành thiền sức khỏe.
Có thể hiểu gọn hơn là, giảm tham sân si bệnh lìa khỏi xác. Tam nghiệp chưa trừ giác ngộ được sao?


[1] HT.Thích Thiện Hoa, Phật học phổ thông, quyển 1, thành phố Hồ Chí Minh: Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh ấn hành, 1992, trang 248.
[2] Thiền, http://vi.wikipedia.org
[3] Hồng Quang, xuân 2013, sđd, trang 31
[4] Hồng Quang, xuân 2013, sđd, trang 74
[5] Hồng Quang, xuân 2013, Thiền và những lợi ích thiết thực, trang 24
[6] Minh Phúc, Thiền định và trị liệu, http://daophatngaynay.com/vn/phat-phap/giao-phap/np-thp/3071-Thien-Dinh-va-Tri-Lieu.html
[7] Hồng Quang, xuân 2013,sđd, trang 18
[8] Hồng Quang, xuân 2013, sđd, trang 9
[9] Thạc sĩ Nguyễn Văn San, Phương pháp hít thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, http://dienchan.vn/phuong-phap-hit-tho-cua-bac-si-nguyen-khac-vien/
[10] Tiểu sử Hòa thượng Thích Thanh Từ, http://www.chualinhson.com/phapam/ht-thanhtu.html

THỞ ĐỂ CHỮA BỆNH
BS. Đỗ Hồng Ngọc
meditation-breathNgày nay, ở phương Tây, rất nhiều trung tâm dạy thiền, khí công, yoga… để chữa bệnh cũng chủ yếu là dạy cách thở bụng
Nguyễn Khắc Viện là một bác sĩ, sinh năm 1913 tại Hà Tĩnh, học đại học Y khoa Hà Nội rồi sang Pháp tiếp tục học, tốt nghiệp bác sĩ nhi khoa năm 1941. Năm 1942, ông bị lao phổi nặng, điều trị ở bệnh viện Saint Hilaire du Touvet, Grenoble. Thời đó, bệnh lao chưa có thuốc chữa như bây giờ. Từ năm 1943 đến năm 1948, ông phải chịu mổ bảy lần, cắt bỏ tám cái xương sườn, cắt bỏ toàn bộ lá phổi bên phải và một phần ba lá phổi bên trái. Các bác sĩ Pháp bảo, ông chỉ có thể sống chừng hai năm nữa thôi. Trong thời gian nằm chờ chết, ông đã tìm ra phương pháp… thở để tự chữa bệnh cho mình. Và kết quả là ông đã sống đến tuổi 85 mới mất (1997), nghĩa là sống thêm được 50 năm nữa, hoạt động tích cực, năng nổ trong nhiều lĩnh vực. Chuyện khó tin nhưng có thật!
Tôi may mắn được quen biết ông trong nhiều năm. Với tôi, ông vừa là đồng nghiệp, là đàn anh mà cũng là người thầy. Ông là bác sĩ, đồng thời là một nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động xã hội rất nhiệt tâm. Ông là cố vấn của bộ môn tâm lý – xã hội học do tôi phụ trách tại trung tâm Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ y tế TP.HCM, (nay là đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) ngay từ hồi mới thành lập (1989). Ông thường trao đổi với tôi điều này điều khác, về công việc viết lách, giảng dạy, và nhiều lần về phương pháp thở dưỡng sinh của ông. Trao đổi không chỉ về cơ thể học, sinh lý học mà cả về tâm lý học, đạo học.
blankDưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện:
Thót bụng thở ra
Phình bụng thở vào
Hai vai bất động
Chân tay thả lỏng
Êm chậm sâu đều
Tập trung theo dõi
Luồng ra luồng vào
Bình thường qua mũi
Khi gấp qua mồm
Đứng ngồi hay nằm
Ở đâu cũng được
Lúc nào cũng được!
Có lần ông mở áo cho tôi xem mấy vết mổ vẫn chưa hoàn toàn liền lạc trên ngực ông. Lần khác ông lại cao hứng vén bụng bảo tôi thử đánh mạnh vào bụng ông xem sao. Tôi phục ông ốm nhom ốm nhách mà làm việc thật dẻo dai, bền bỉ, gần như không biết mệt mỏi. Trong lúc nhiều người giảng bài, nói chuyện, hội họp, làm việc… thấy uể oải, hụt hơi, thì một người chỉ còn hai phần ba lá phổi, chỉ còn gần một nửa “dung tích sống” như ông lại vẫn ung dung, thư thái. Ông cười “tiết lộ” với tôi, những buổi hội họp dông dài, vô bổ, ông chỉ ngồi… thở, nhờ vậy mà ông không bị stress, không bị mệt. Ông nói sau này khi ông mất đi, điều quan trọng ông để lại không phải là những tác phẩm văn học, triết học này nọ, mà chính là bài vè dạy thở chỉ với 12 câu của ông.
thoTrước kia, tôi cũng chỉ nghe để mà nghe chớ chẳng thực hành. Cho đến ngày tôi bị vố tai biến nặng, phải nằm viện dài ngày, lúc đó tôi mới thử đem ra áp dụng. Quả có điều kỳ diệu! Nó làm cho tôi thảnh thơi hơn, ít nhọc mệt hơn và sức khoẻ tốt hơn. Trong thời gian dưỡng bệnh, các bạn đồng nghiệp thương tình, cho rất nhiều thuốc, nhưng tôi chỉ chọn một vài món thực sự cần thiết, còn thì chỉ… dùng phương pháp thở để tự chữa bệnh cho mình. Phương pháp thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thực ra không phải là cái gì hoàn toàn mới. Nó chỉ là một sự tổng hợp của khí công, thiền, yoga, dưỡng sinh… của Đông phương từ ngàn xưa, được nhìn bằng sinh lý học hô hấp hiện đại của một người thầy thuốc.
“Thót bụng thở ra” được nói đến đầu tiên vì thở ra quan trọng hơn ta tưởng. Thở ra giúp làm sạch các hốc phổi, đáy phổi, nơi khí dơ dễ đọng lại. Đặc biệt, với những người bị suyễn, bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) càng cần tập luyện thì thở ra.
Khi thai nhi còn trong bụng mẹ, hai lá phổi là một khối đặc, im lìm, không hoạt động, như chiếc dù xếp chặt trên lưng vận động viên. Khi người nhảy dù tung mình ra khỏi phi cơ thì dù mới tự động bung ra, bọc gió. Đứa bé “tung mình” ra khỏi lòng mẹ, hai lá phổi cũng bung ra như vậy do không khí tự động lùa vào, đó chính là hơi thở vào đầu tiên. Tiếng khóc chào đời lúc đó chính là hơi thở ra đầu tiên của bé chứng tỏ hệ hô hấp đã được “lắp đặt” xong, đã khởi động tốt, sẽ “bảo hành” cho đến khi… tắt thở, miễn là trong quá trình sử dụng biết “bảo trì”! Cách bảo trì tốt nhất vẫn là đừng đưa bụi, khói… (thuốc lá) vào lấp các đường hô hấp lớn nhỏ khiến ta phải thở khò khè, thở cà giựt, thở cà hước về sau… là được.
“Phương pháp thở bụng không chỉ giúp để chữa một số bệnh tim mạch, hô hấp, tiêu hoá… mà còn làm cho tâm được an, giảm stress trong cuộc sống hiện tại”
Sự hô hấp xảy ra trên từng tế bào của cơ thể chớ không phải ở hai lá phổi. Phổi thực chất là một cái bơm, bơm khí vào ra “phình xẹp” vậy thôi. Để cho cái máy bơm đó làm việc tốt thì cần biết một chút về “cơ chế” của nó. Lồng ngực là cái xy-lanh (cylindre), còn píttông (piston) chính là cơ hoành – một bắp cơ lớn, nằm vắt ngang giữa bụng và ngực. Khi cơ hoành thụt lên thụt xuống (như cái bể lò rèn) thì khí được hút vào đẩy ra ở phổi. Cơ hoành nhích lên nhích xuống 1cm đã hút hoặc đẩy được 250ml không khí. Vậy mà cơ hoành có thể nhích lên xuống đến 7cm! Tóm lại, chính cơ hoành ở bụng mới là cơ hô hấp chính, đảm trách hơn 80% sự thông khí. Do đó, thở bụng là cách thở sinh lý nhất, tự nhiên nhất. Cho nên trong bài vè tập thở ta thấy nói “thót bụng”, “phình bụng” – mà không hề nói đến ngực chút nào là vậy! Cứ quan sát một bé đang ngủ ngon lành thì biết. Nó thở bằng bụng chớ không phải thở bằng ngực. Chỉ có cái bụng nó là phình lên xẹp xuống, đều đều, nhẹ nhàng mà thôi.
Bác sĩ Dean Ornish, tác giả cuốn sách nổi tiếng Program for reversing heart disease (Chương trình phục hồi bệnh tim) hướng dẫn cách thở bụng đơn giản, dễ làm: đặt một bàn tay lên bụng, khi thở vào thở ra, ta thấy bàn tay mình nhích lên nhích xuống nhịp nhàng là được.
Ngày nay, ở phương Tây, rất nhiều trung tâm dạy thiền, khí công, yoga… để chữa bệnh cũng chủ yếu là dạy cách thở bụng. Các phương pháp trị liệu nổi tiếng của các bác sĩ như Dean Ornish, Deepak Chopra… căn bản cũng không ngoài cách… thở bụng. Phương pháp thở bụng không chỉ giúp để chữa một số bệnh tim mạch, hô hấp, tiêu hoá… mà còn làm cho tâm được an, giảm stress trong cuộc sống hiện tại. Phải luyện tập chừng sáu tháng trở lên mới thành thói quen và thấy hiệu quả.
BS Đỗ Hồng Ngọc (Báo SGTT)

THIỀN & TRƯỜNG HỌC 
(Meditation and School) 
Hồng Quang

tre_em_ngoi_thien
Trường Mần non Trẻ thơ, Quận Tân Bình, TP. HCM. (Vietnam.net)

Ngày nay từ Á sang Âu, từ Đông sang Tây, từ châu Mỹ La tinh đến Phi châu…, có vô số trường đã và đang dạy thiền cho học sinh từ các lớp Mầm non. Nhiều thí nghiệm của các chuyên gia, của các trường và kết quả như thế nào về việc đem thiền vào trường học, mời quý độc giả tìm hiểu qua bài viết nầy. 

A
Những lợi ích của thiền đối với học sinh 



Theo tổ chức David Lynch Foundation, tổng quát, thiền có ba lợi ích chính: Cải tiến việc học, giảm căng thẳng và giảm bạo động. Với khẩu hiệu “Tĩnh lặng sẽ đổi đời” (Quiet Time changes lives), “chuyển đổi đời sống, chuyển đổi học đường, chuyển đổi người hàng xóm và xã hội” (it will transform our society).
 
Chúng ta sẽ thấy những lợi ích khác do áp dụng thiền vào trường học, từ San Francisco (Cựu kim sơn) miền Bắc California, Mỹ, đến các trường học tại miền Đông như Detroit, Connecticus, Washington DC… 

Ông James S. Dierke, Viện phó điều hành các viên chức phụ trách trường Liên bang tại Mỹ, phát biểu,“Thời gian tĩnh lặng” là một chương trình có ảnh hưởng tốt nhất mà tôi chưa từng chứng kiến qua 40 năm trong lãnh vực giáo dục. Sự tĩnh lặng nuôi dưỡng các học sinh, và cung cấp cho chúng một dụng cụ giá trị rất lớn cho cuộc đời” (It is nourishing these children and providing them an immensely valuable tool for life. (Jamie@DavidLynchFoundation.org).

Trang mạng nầy cũng cho biết, chấn thương do căng thẳng tại các trường trong vùng dân cư có lợi tức thấp, là một thực tế xẩy ra cho hằng triệu trẻ em lớn lên trong bầu không khí bị đè nén vì nghèo, bạo động và lo sợ. Sự căng thẳng làm trở ngại việc học và xói mòn sức khỏe cả thể xác lẫn tâm hồn.

Số thống kê cho thấy tình trạng thật đáng quan tâm:
25 % tuổi vị thành niên bị chấn thương do những rối loạn tâm trạng bất an lo sợ (anxiety disorders).
6.5 triệu trẻ em phải phấn đấu với những cản trở khả năng học của chúng. 

Gần 3 triệu trẻ phải dùng thuốc chống bệnh “Khiếm khuyết chú ý hiếu động” (nearly 3 million children receive medication for ADHD). Tự tử là nguyên nhân thứ ba giết chết lứa tuổi teen.
Theo thống kê, có nhiều học sinh bị nghiện ngập. Một trong 4 học sinh trung học được biếu tặng, được bán hoặc được cho Cần sa, ma túy bất hợp pháp ngay trong địa phận của nhà trường (given illegal drugs on school property). Một trong 3 trẻ em bị nạn béo phì.

Nhưng may thay, bên cạnh đó, thiền làm giảm 40 % tâm tình buồn chán. Trong hai năm, giảm 65 % tình trạng xung đột bạo động (65% decrease in violent conflict over two years). Việc bỏ học giảm 86%.
Không phải chỉ có học sinh bị căng thẳng làm giảm khả năng học tập, mà căng thẳng cũng làm cho giáo chức mất dần hứng thú và kiệt sức trong việc giảng dạy (High stress levels also damage teachers and educators, resulting in extremely high burnout rates).

Việc áp dụng “chương trình tĩnh lặng” trong nhiều trường học cho thấy, không những điểm thi của các học sinh được tăng 10%, óc sáng tạo phát triển, mà ngay cả trí nhớ của các em cũng như giáo chức được tăng trưởng và giảm căng thẳng kinh niên, gia tăng hạnh phúc và lòng tự tin (Greater happiness, focus and self-confidence).

B
Mười lý do cần đem thiền vào trường học 
(10 reasons to bring meditation to your schools)


Ngoài những lợi ích của thiền mà tổ chức của Tiến sĩ David Lynch vừa nêu trên, chúng ta cũng thấy mạng“Project Meditation. Org” liệt kê 10 lý do cần đem thiền vào trường lớp vì, thiền giúp học sinh giảm căng thẳng, gia tăng khả năng tập trung chú ý, củng cố trí nhớ, phát triển sự hòa thuận, cải thiện các mối quan hệ, đem đến một phương pháp giảm căng thẳng lầu dài, đạt được một thời gian yên lắng suốt ngày, hồi phục sức lực…
 
Trang mạng viết tiếp “Thiền làm cho học sinh giảm huyết áp, giảm căng thẳng, giảm khả năng bị bệnh tim mạch, giảm những bất hòa giữa các học sinh, gia tăng khả năng học tập, phát triển óc sáng tạo, điểm thi cao. Giúp học sinh biết kính trọng người khác, nhất là kính trọng giáo chức và nhân viên nhà trường, giúp biết cách đương đầu với những khó khăn hằng ngày và, những đề thi khó giải, giảm làn sóng não quá giao động…Ngoài ra, khoa học gia cũng đã từng xử lý cảm giác và chú ý, chứng minh: thiền làm gia tăng vỏ não vùng liên hệ chú ý tập trung” (scientist have proven meditation increases the thickness of the brain cortex…). Bài viết khuyên “…tất cả giáo giới nên đưa thiền vào trường học vì, đó là dưỡng chất của sự sống. Đó là nghệ thuật để có sự thư giản, khỏi bị căng thẳng (stress). Lúc căng thẳng được giảm con người hứng thú làm việc, học sinh cũng vui vẻ thích học thay vì bỏ trốn”(…all teachers should start including meditation in school.* 
 
C
Đại học Maharishi University of Management (viết tắt: MUM) 


Đại học MUM có trụ sở chính tại Mỹ, và nhiều chi nhánh trên thế giới (Canada, Anh, Đức, Úc, Ấn, Phi châu, Nhật, Nam Mỹ, Đông Nam Á châu, Bắc Ái nhĩ lan, Do thái...).
Vì thiền phát xuất từ tôn giáo Đông phương. Do đó, hầu hết những cá nhân hoặc tổ chức đều cố tách thiền ra khỏi màu sắc tôn giáo để tín đồ các tín ngưỡng khác có thể tập thiền mà không cảm thấy mất tự nhiên.

Vì vậy, tổ chức của Tiến sĩ David Lynch dùng cụm từ “Thời gian tĩnh lặng” (Quiet Time, viết tắt QT), Đại học MUM dùng từ “Thiền siêu vượt” (Transcendental Meditation), nhóm khác sử dụng “Thiền chánh niệm” (Mindfulness meditation)...Dù tên gọi có khác nhau nhưng tất cả đều là thiền, phát xuất từ Phật Giáo. Chứng cớ là Phật Thích Ca liên tục thiền định 49 ngày và đắc đạo. 

kinhanbanthuy_biatruoc_120Kinh Phật có nhiều cuốn chuyên dạy về thiền như “kinh An ban thủ ý, kinh Đại niệm xứ, kinh Quán niệm hơi thởkinh Tứ niệm xứ… Có nhiều cách thực tập thiền, theo cách nào cũng được, miễn là định được tâm.
 
Thiền nói chung, có tác dụng giúp người thực hành đạt được sự tĩnh lặng, yên lắng, có thêm nhiều nghị lực. Từ đó, con người năng động, thông thái, nhìn xa thấy rộng và kinh nghiệm hơn trong các sinh họat đời thường.

Tôi định nghĩa Thiền là sự an lạc, chú ý tập trung tâm vào một đối tượng mà không suy nghĩ về một vấn đề nào khác. Từ định nghĩa nầy, tôi bỏ hai chữ siêu vượt sau chữ thiền để dễ hiểu. Bốn câu hỏi đáp, giúp thấy rõ hơn về lợi ích của thiền:

1. Hỏi: “Chức năng kỷ thuật của Thiền (siêu vượt) trong tiến trình học tập như thế nào?
Bác sĩ niệu học, Kulreet Chaudhary, bệnh viện Scripps Memorial Hospital trả lời:
-“Kỷ thuật của Thiền là một đường lối dễ làm tan biến căng thẳng, thăng tiến ý thức đầy đủ và sâu sắc hơn cho hệ thống giáo dục hiện nay, nhờ hệ thần kinh hai chiều của giáo chức và học sinh được nuôi dưỡng.” 

2. Hỏi: Có cuộc nghiên cứu nào cho thấy kỷ thuật của Thiền thực sự ích lợi cho học sinh và giáo chức? 
Bác sĩ Gary Kaplan, giáo sư khoa Thần kinh tại Đại học Hofstra University School of Medicine:
-“Vâng. Những cuộc nghiên cứu rộng rải được công bố trên tạp chí cho thấy kỷ thuật nầy làm phát triển sức khỏe tòan diện rất đáng chú ý, nếu bạn có thể để ra ngày hai lần từ 15-20 phút là có thể làm giảm căng thẳng và cho phép bạn có nhiều sáng tạo và động lực trong các hoạt động – bạn đã nắm được chìa khóa cho một sức khỏe tốt hơn” (you have a key to better health). 
 
3. Hỏi: “Kỷ thuật của Thiền làm gì cho học sinh?”
-Bác sĩ tim mạch, Cesar Molina, M.D., F.A.C.C. viết, “Thiền là một kỷ thuật tâm sinh lý giản dị được kiểm nhận khoa học, dễ thực hiện, và làm thăng tiến sự phát triển não bộ. Kỷ thuật tâm thần đơn giản nầy là một dụng cụ quan trọng để nhà giáo dục hoàn thành mục đích tối hậu của mình –nuôi dưỡng hệ sinh lý thần kinh để mỗi cá nhân có thể đạt được khả năng phát triển”.
4. Hỏi: “Kỷ thuật Thiền có thể làm giảm căng thẳng để khỏi bị bệnh khiếm khuyết khả năng chú ý; ADHD?” 
Tiến sỹ tâm lý thần kinh học, William Stixrud: 
-“Kỷ năng của Thiền đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc làm giảm thiểu các vấn đề chán học, thiếu tập trung chú ý. Trong một số trường, Thiền đã đóng vai trò ấn tượng trong việc giúp các em vượt qua ý muốn bỏ học, thiếu chú ý và tác phong đạo đức kém”. Tiếp theo là một loại thiền khác được áp dụng vào học đường.

C
Thiền chánh niệm
(Mindfulness Meditation) 


Theo the Universities website, Thiền Chánh niệm là thiền truyền thống đã được hằng triệu người thực hành qua hằng ngàn năm (that has been used by millions of practitioners for thousands of years).

Vài thập niên qua, các cuộc nghiên cứu khoa học cho thấy sự lợi ích của Thiền chánh niệm, nên người ta thiết lập những chương trình thường xuyên để thực hành đều đặn trong trường vì lợi ích cho học sinh. 
Nhiều khoa học gia các bang khác tại Mỹ, làm việc chung với nhóm giáo sư Đại học Wisconsin, họ tìm thấy những ai thực hành Thiền chánh niệm hơn hai tháng (mỗi ngày hai lần. Mỗi lần khoảng 18-20 phút) là có khả năng đương đầu với các cấp độ căng thẳng khác nhau và có khả thể ngăn chận sự cạn kiệt năng lực (who engaged in a Mindfulness practice over a period of 2 months have a greater ability to deal with their stress levels and are able to prevent ‘burnout’).

Nghiên cứu gia của Đại học phát biểu “Những người thực hành Thiền chánh niệm cho thấy những sự giảm thiểu căng thẳng tâm lý, lớp học được phát triển có trật tự và lòng từ bi tự nguyện được gia tăng”(theo University website, và video của Tiến sĩ Richard J. Davidson, PhD).

Những học sinh trung học thực hành Thiền mỗi ngày, kết quả, số học sinh vắng mặt giảm 25 %, học sinh bỏ học giảm gần 38 %.
Năm 2012, ít nhất là có 91 trường trong 13 tiểu bang tại Mỹ thực hành thiền (As of 2012, at least 91 schools are implementing meditation in 13 states).
 
D
CHƯƠNG TRÌNH THIỀN TẠI TRƯỜNG HỌC VÀ KẾT QUẢ

(Meditation Programs in Schools and Outcomes) 

visitacion_valley_400Nhiều cuộc nghiên cứu và thử nghiệm thiền của vô số các nhóm chuyên gia, độc giả có thể tìm thấy trên các mạng liệt kê ở cuối bài**. 

Một trong những thí nghiệm và so sánh quan trọng (từ năm 2007 đến 2011), xác tín, nhờ thiền mà học sinh trường Visitacion Valley (đường vẽ màu vàng, hình bên trái) bỏ học giảm ½. Trong lúc đó, vì nhiều trường học tại California thiếu chương trình thiền, nên toàn bang chỉ số học sinh bỏ học giảm rất ít (xem đường màu da cam hình trái). [Click xem hình lớn hơn)

Hình bên phải cho biết học sinh trốn học toàn bang California gia tăng (đường màu da cam). Trái lại, học sinh trốn học của trường Visitacion Valley giảm đến 61 % (hình phải, đường màu vàng). (Infographic: Maili Holiman***)
 
Một thí nghiệm mẫu về kết quả của Thiền được thực tập tại trường Sequoia Union High School District. Chương trình nhận được sự tài trợ 35 ngàn mỹ kim (Funded with $35,000). 

Ban điều phối có ba chuyên gia tâm lý trị liệu có mặt hai lần một tuần (three psychotherapists to be there twice a week for therapy sessions). Mỗi lần 18 phút cho các học sinh đã từng bị giam tù và hoặc bị đuổi khỏi trường. Các em được hướng dẫn Thiền không mang màu sắc tôn giáo do các chuyên viên đã được huấn luyện. Học sinh ngồi yên lặng, nhắm mắt, tự do để sự chú ý tự nhiên dong ruổi ít dần, rồi yên lắng hơn (Twice a day for 18 minutes).

giao_chuc_ngoi_thienThái độ của học sinh đối với chương trình tập huấn nầy đã được thay đổi từ lúc mới bắt đầu. Mỗi buổi sáng, ban quay phim tự do đến thu hình các khóa thiền. Một học sinh phát biểu, “Lúc đầu tôi thấy kỳ quặc và buồn cười. Tôi không quyết tâm thực tập. Nhưng Thiền đã giúp tôi nhiều vấn đề khó khăn tại nhà và kềm chế sự giận hơn” (I thought it was weird and funny…”). Một học sinh khác nói “Thiền là dược liệu của tôi (Meditation is my medicine). 

Theo các dữ kiện tại Trung tâm Sức khỏe và Thành tích của Học trình, học sinh bỏ học dược giảm xuống ½ trong 5 năm. Học sinh trốn học giảm 61 % trong 4 năm (Truancy rates,…have dropped by 61 percent). 
Một nghiên cứu khác, Thiền chánh niệm (Mind fulness meditation) được dùng cho các học sinh lớp một, hai và ba do Đại học bang Arizona, Mỹ, thực hiện. Kết quả, học sinh được cải thiện năng khiếu chú ý, năng khiếu xã hội và làm giảm việc buồn chán lúc làm bài thi. 

Nhiều thí nghiệm tương tự tại miền Bắc Canada trên 12 trường mẫu giáo cũng cho thấy kết quả tương tự. Cảm xúc tích cực và sự chú ý được gia tăng, thái độ hung hăng được giảm (mindfulness education increased positive emotions and attention in class and reduced aggressive behavior). 

Hình bên phải: giáo chức và nhân viên đang thiền. Ngày 17.12.2013, do cô Angela Swartz đưa tin (theo Daily Journal). 


NÃO BỘ VÀ THIỀN TRONG TRƯỜNG HỌC
 
(The brain and meditation in school)

Bài báo ngày 16.12.2013, ông Leonardo L. Leonidas viết:

Chúng tôi chú trọng dạy học sinh chuyên mục 4 chữ R: reading, riting, ’rithmetic and research (đọc, viết, toán và nghiên cứu), mà không đề cập đến các vấn đề cần thiết như sự chú ý, tự kiềm chế, tĩnh thức, tích cực và hoạt động của não bộ.

Người ta không để ý rằng, nhiều người lớn tuổi mang lắm chứng bệnh bất cập được bắt nguồn từ tấm bé. Cũng như không hề biết cụ thể sự liên đới giữa não bộ và việc học kém có tương quan chặt chẻ với nhau.
Trường Renfew Elementary School tại Vancouver, Canada, thực hiện một thí nghiệm rất quan trọng. Học sinh trường được dạy những phương pháp thở để gia tăng khả năng của bộ não nhằm giúp việc học tốt hơn (Children in this school are taught to do breathing exercises to enhance their brains’ ability to learn). 

Tại lớp, khoa mỗ xẻ và sự vận hành của não bộ, bao gồm việc dạy cho học sinh tâm lý tích cực là những chuyên mục của giáo trình. 

Ngày nay các giáo chức đổi mới việc tìm hiểu một học sinh bị căng thẳng là do gia đình hay học đường. Tác động ấy làm cho bé học kém và có những thái độ thiếu cảm tình
”. 

Năm 1960, một nghiên cứu rất đáng chú ý do nhà tâm lý học Walter Michel, và sau đó được thực hiện tại Đại học Stanford, Mỹ. 

“Nhóm của ông cho các em vườn trẻ bốn tuổi, một sự chọn lựa:
a. Các em có thể lấy và ăn liền một cái kẹo đường xốp (marshmallow)
b. Nếu em nào đợi chờ khoảng 15 phút sau, thì các em ấy sẽ được mỗi em hai cái thay vì chỉ được một. Các học sinh được theo dõi cho đến lúc vào trường trung học.
 Kết quả cho thấy, các em nhóm đợi chờ lâu hơn để có hai cây kẹo thì đạt được điểm thi SAT (Scholastic Assessment Test) cao hơn 210 điểm so với nhóm không đợi chờ. Nhóm nầy cũng có sự chú ý tốt hơn lúc đến giai đoạn tuổi teen, và ít cho thấy kém tư cách và ít nghiện ngập lúc đến tuổi 30”
 (The four-year-old kids who waited longer and got the two marshmallows had higher SAT (Scholastic Assessment Test) scores and, on average, 210 points].

Một nghiên cứu khác, tương tự như cuộc nghiên cứu vừa trình bày, được thực hiện bởi giáo sư tâm lý học, Terrie Moffitt, tại Đại học Duke University, thành phố Dunedin, New Zealand. 1.000 trẻ em tham dự cuộc nghiên cứu nầy cho thấy, mối liên hệ mạnh mẻ giữa sự tự chế ngự và thành công (a strong relationship between self-control and success). Phụ huynh và giáo chức đánh giá, bằng cách cho điểm mỗi học sinh hai năm một lần, tuổi từ 3 đến 11, về mức độ quá hiếu động, tính bốc đồng, ưa gây sự, ngoan cố và ít chú ý. 

Kết quả, các nam và nữ sinh có điểm thấp thì sức khỏe có vấn đề, và lúc đạt đến số tuổi 32 các người nầy có khuynh hướng phạm tội hơn thành phần có điểm cao. Trong 500 cặp anh chị em cùng gia đình, nhóm nghiên cứu Moffitt tìm thấy những cặp ít tự kềm chế tâm tình thì thường gây xung đột tại trường, hút thuốc và phát triển những động thái chống lại xã hội (more likely to struggle in school, smoke and develop antisocial behaviors).

Chúng ta nhận xét như thế nào về hai thí nghiệm trên? Tại sao nhóm học sinh đợi chờ 15 phút có những thành tựu tốt hơn nhóm kia?

- Vì các em trong nhóm đợi chờ 15 phút có tâm hồn an lạc, có lòng từ bi, biết nhường nhịn, không sợ mình sẽ bị “mất phần”. Quyết định của các em nầy là quyết định có chú ý trong tĩnh thức…Đó là thiền.
Thí nghiệm việc cho các em điểm cao thấp … giải thích như thế nào? 
- Đời sống đạo đức thiện lành là thiền hành động. Đi đứng nằm ngồi, làm việc…tâm luôn an lạc không sân si không tị hiềm ... Ấy là thiền.
Nói rõ hơn, không phải ngồi thiền mới gọi là thiền. Trong cuộc sống, ai có tâm thiện lành, hoan hỹ, an lạc, tĩnh thức (tức là thiền hành động) thì người ấy dễ thành tựu hơn những người đầy tham sân si... 

Đưa ra những thí nghiệm rất cụ thể như thế, bài báo viết, để các giáo chức và cha mẹ học sinh thúc đẩy con em mình tham gia các chương trình thiền thở, thiền chánh niệm…và tìm hiểu sự vận hành của não bộ từ lúc các em mới bắt đầu vào lớp Mầm non. Bài báo viết, nếu các bạn đến thăm một trong những trường dùng chương trình MindUP (thiền), dĩ nhiên sẽ nghe tiếng học sinh thực hành phương pháp thở và học về sự hoạt động của não bộ (If you are to visit one of the schools using MindUP, it is common to hear children doing breathing exercises and learning about brain function). 

Thở có tác dụng gì? Giáo viên hỏi lớp học. Một học sinh trả lời “Thở làm giảm hạch hạnh nhân và làm cho đồi thùy não bộ thông minh hơn”.

limbic_system” (It calms your amygdala down,” a student replies. “It makes your prefrontal cortex so much smarter). Mặc dù chỉ mới mẫu giáo, nhưng các em nầy trông giống như những học sinh giỏi, đã học cấp 2. Chúng được dạy những phần khó khăn của não bộ, như vùng hãi mã (hippocampus, chứa những ký ức dài hạn, xa xưa), vùng trung tâm trí nhớ, hạch hạnh nhân (amygdala, chứa những ký ức ngắn hạn), vùng điều hành cảm xúc (emotional cza?) và vùng võ não trước trán (prefrontal cortex, vùng cung cấp suy nghĩ và quyết định). 

Các trung tâm não bộ nầy liên kết với nhau. Lúc có sự căng thẳng, hạch hạnh nhân bị ảnh hưởng tiêu cực, tác động vào vùng hãi mã (hippocampus) làm cho năng lực trí nhớ bị mất bớt (…which then influence the hippocampus to lose some memory power). 

Báo viết tiếp, không cần phải nói, việc tập luyện hơi thở làm cho các tế bào giúp trí nhớ tăng trưởng, và việc chú ý vào hơi thở, các em học được cách chú tâm vào từng biến chuyển xẩy ra, mà không cần phải suy nghĩ quá nhiều về các hiện tượng ấy. Các em cũng biết cách để kiểm soát tâm, kiểm soát hành vi và giảm lo âu (without thinking too much about them, and how to control their mind and behavior and reduce anxiety).
 
giao_chuc_ngoi_thien_2Hình bên phải: Giờ tĩnh lặng của giáo chức, nhân viên và học sinh
 
Một giáo viên, tại trường mẫu giáo, Sir William Van Horne Elementary School ở Vancouver, Canada nhận định: 
“Việc tập trung vào hơi thở đã giúp tôi làm tròn nhiệm vụ của một giáo viên vì tôi có một lớp học an bình hơn và chính tôi là một người được yên lắng hơn” (It helps me as a teacher because I have a calmer class and I’m calmer). 
Chương trình quán niệm hơi thở MindUP lúc đầu chỉ tại Vancouver, về sau có thêm 175 trường tại Canada, 75 tại Mỹ, 7 tại Anh, 2 tại Úc và 1 tại Venezuela. [Bác sĩ Leonardo L. Leonidas (nonieleonidas68@ gmail.com)]. 
 
TÓM LƯỢC 

Nhiều thế kỷ trước, Tây phương đi chiếm thuộc địa, lấy tài sản về làm giàu, mà nhiều quốc gia Á châu trong đó có Việt Nam là nạn nhân thảm khốc. Hơn 50 năm qua, nhiều trí thức và khoa học gia đã nghiên cứu và tìm thấy ở Đông phương có một “món hàng” vô giá khác rất bổ ích cho nhân loại. Đó là thiền. 

Theo sự khám phá nầy, thiền không những giúp chữa được bệnh tật, làm cho con người đẹp hơn, thông minh hơn, sống lâu dài và sống có hạnh phúc hơn, mà thiền còn là dưỡng chất tốt nhất cho học sinh và tuổi trẻ. Nếu quốc gia nào biết và sớm áp dụng thiền vào học đường thì, một thế hệ kế thừa có thể có khả năng góp phần làm cho dân giàu nước mạnh xã hội văn minh phú cường. 

Thông tin điện tử toàn cầu cho biết bao năm qua, có rất nhiều quốc gia, nhất là các nước theo truyền thống Cơ đốc giáo đã đem thiền vào học đường. Kết quả rất bổ ích cho học sinh, giáo chức và nhân viên như chúng ta đã thấy trong bài nầy. Tại Việt Nam, hầu như, chỉ có một “Trường Mần non Trẻ thơ”, tại Quận Tân Bình, dạy thiền cho học sinh mà thôi. Ngoài ra, có khoảng trên 30 trung tâm hướng dẫn Thiền sức khỏe. Có nhiều nơi kết quả rất tốt. Nhưng không ít những trường hợp người ngồi thiền bị tẩu hỏa nhập ma**** vì, người hướng dẫn không những chưa đủ trình độ, thiếu hiểu biết về thiền cũng như thiếu kiến thức khoa học, mà còn pha chế thiền theo ý riêng.

Phải chăng đã đến lúc, Nhà nước nên sớm mở Viện Nghiên cứu Thiền sức khỏe. “Bộ Giáo dục và Đào tạo” cũng nhanh chóng đưa thiền vào trường học, để học sinh có một đời sống lành mạnh hơn về thể chất lẫn tinh thần mà việc tốn kém so ra không đáng kể. Có thể, đây cũng là một trong những chương trình rất tốt cho việc chuyển hóa xã hội? 


Hồng Quang
Xuân, 8.1. 2014 

Ghi chú
*Nguồn: By Phil Tyson, Source: Project-Meditation. Org.
**(Flook et al. 2010), (Schonert-Reichl and Lawlor 2010; Napoli, Krech, and Holley 2005; Zylowska et al. 2008).
Qua đó cho thấy nhiều trường học như Research in Richmond County high schools in Augusta, Georgia, Mỹ, Another study from Arizona State University of first, second, and third graders in two elementary schools, A study in Western Canada in 12 elementary schools (Schoenert-Reichl and Lawlor 2010).
*** Sources
· San Francisco Police Department
· San Francisco Unified School District

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.