bài viết trong chuyên mục "Thiền Nguyên Thủy"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiền Nguyên Thủy. Hiển thị tất cả bài đăng

BỐN SỰ THẬT NHIỆM MẦU 
Joseph Goldstein
 
Nguyễn Duy Nhiên dịch
Khổ Đế

Trong thời gian giáo lý của đức Phật đươ.c truyền bá khắp nơi trên Á Châu và thế giới, có nhiều trường phái với nhiều lối giải thích về Phật pháp khác nhau đươ.c sinh lên. Mỗi trường phái chú trọng vào một điểm riêng, có một hệ thống thần học riêng và những phương tiện khéo léo riêng biệt. Mặc dù các truyền thống khác nhau ấy có thể không đồng ý về một số điểm trong giáo lý đức Phật, nhưng có một công thức giáo pháp chung mà bao giờ cũng vẫn là trọng tâm của mọi truyền thống, đó là : Tứ Diệu Đế hay là Bốn Sự. Thật Mầu Nhiệm.Đức Phật diễn tả sự thật đầu tiên trong Tứ Diệu Đế là Khổ đế, sư. thật về khổ đau. Chữ dukkha trong tiếng Pali có một nghĩa rất rộng, nó bao gồm khổ đau, bất an và sư. bất mãn. Đức Phật sau khi giác ngộ, ngài đã đối diện với sư. thật về khổ đau trong cuộc đời một cách không sợ hãi, không tư. thán. Ngài đã nhận diện những vấn đề của khổ đau hết sức rõ ràng : nỗi đau đớn của sanh, lão, bịnh, tư?, nỗi sầu lo, thất vọng, ưu tư, buồn khổ vì xa lìa người mình yêu, vì gần gũi người mình không ưu thích, vì không có đươ.c điều mình muốn - tất cả những cái ấy đều là dukkha. Khi ta quán chiếu tư. tánh duyên khởi của mọi hiện tươ.ng trên một cách sâu xa và tinh tế, chúng ta sẽ bắt đầu thấy đươ.c bản chất khổ đau cố hữu của chúng.Chúng ta ai cũng biết rằng những cảm thọ đau đớn trong tâm và thân là khổ đau. Nhưng chúng ta cũng có thể kinh nghiệm đươ.c khổ đau ấy, khi ta ý thức đươ.c sư. ngắn ngủi tạm thời của mọi hiện tượng. Không có bất cứ một kinh nghiệm nào, cho dầu tuyệt vời đến đâu, lại có thể đem đến cho ta một sư. thoảmãn sâu xa và trường cửu, vì chúng lúc nào cũng thay đổi. Sư. lưu chuyển không ngừng của các hiện tươ.ng thường gợi tôi liên tưởng đến một dòng nước đổ xuống từ một ghềnh thác cao. Dòng nước rơi xuống, tan tác, bất tận - ào ào - không bao giờ ngừng nghỉ . Đó cũng là tư. tánh của mọi hiện tươ.ng.Thêm vào đó, đức Phật đã diễn tả về một loại khổ đau thứ ba rất chi tiết trong một bài pháp nói về lửa : "Mắt đang bị lửa thiêu đốt, tai đang bị lửa thiêu đốt... thân... tâm... đang bị lửa nào thiêu đốt? Lửa của tham lam, lửa của sân hận và lửa của si mê. "Chúng ta khó có thể nào cởi mở đươ.c đối với sư. thật khổ đau, vì lúc nào ta cũng đi trốn tránh chúng, đi tìm ẩn náo trong cuộc sống hằng ngày. Chúng ta thường đi tìm hạnh phúc và nương tựa vào những gì đem lại cho mình khoái lạc, những gì mà chính chúng cũng chỉ là tạm bơ., nhất thời. Tất cả cũng chỉ vì phần đông chúng ta không biết thực tập phương pháp dừng lại, cởi mở ra với sư. sống chung quanh mình, để có thể cảm nhận đươ.c những gì thật sự đang xãy ra. Có một điều hơi mâu thuẩn, nhưng cũng rất là nhiệm mầu, về khổ đau là khi ta càng cởi mở càng tìm hiểu nó, thì tâm ta sẽ lại càng trở nên nhẹ nhàng và tư. do hơn. Vì khi ta không còn chối bỏ hay trốn tránh sư. thật nữa, tâm ta sẽ trở nên bao la hơn, cởi mở và an lạc hơn. Chúng ta cũng sẽ không còn bị sai sử bởi lòng tham dục hoặc những đam mê của mình, vì ta có thể nhìn thấy được rõ ràng tự tánh của mọi vật như là chúng hiệnhữu.Nhưng nếu chỉ nhìn thấy và hiểu đươ.c khổ đau trong cuộc đời này thôi cũng vẫn chưa đủ . Chân đế thứ hai, Tập đế, nhận diện đươ.c nguyên nhân của khổ đau. Khổ đau bắt nguồn từ đâu?
Tập Đế
Danh từ kilesa trong tiếng Pali có nghĩa là cảm xúc khổ thọ, tức là những nổi thống khổ trong tâm như là tham lam, ghen tức, thù hằn, sân hận, sơ. hãi. Những trạng thái tương tư. như thế dày xéo tâm ta, chúng làm cho ta điêu đứng và tạo nên trăm ngàn khổ đau.Kilesa có thể biểu hiện trên nhiều bình diện khác nhau. Đôi khi chúng có năng lươ.ng đủ mạnh để biến thành những hành động vô cùng bất thiện như là : Sát sanh, trộm cắp, tà dâm, tư. hủy hoại mình và làm hại người khác. Ta có thể thấy đươ.c năng lươ.ng của kilesa biểu lộ thật rõ rệt, mỗi khi ta quan sát những gì đang xảy ra khắp nơi trên thế giới : giết chóc, hảm hiếp, tra tấn, đói khát, thù hận. Những khổ đau này có gốc rễ nằm trong tâm của mọi người, trong đó có cả bạn và tôi.Chúng ta có thể làm vơi bớt đi phần nào những khổ đau trên cuộc đời này bằng cách giữ một giới hạnh trong sạch. Đức Phật có dạy cho chúng ta về Ngũ Giới như là một phương pháp bảo vệ, giữ cho ta khỏi phạm vào những việc làm bất thiện. Ngũ giới ấy là : không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không dùng những chất say. Bạn hãy tươ?ng tươ.ng xem cuộc đời này đẹp biết bao nhiêu nếu ai cũng chỉ cần giữ một giới thôi - không giết hại người khác.Ỡ một mức độ thấp hơn, thì kilesa là những tâm thức bất thiện nào có khả năng tạo nên những lời nói hoặc tư tươ?ng mà ảnh hươ?ng của chúng hơi yếu hơn một chút. Và mức độ sâu kín hơn hết của kilesa, còn đươ.c gọi là những bất thiện ẩn tàng, hay những-hướng-khổ-đau tiềm tàng. Những khổ đau ấy hiện không có mặt trong giờ phút hiện tại, nhưng chúng có một tiềm năng khởi dậy nếu gặp hoàn cảnh thích hơ.p. Ví dụ như khi một người bị đặt vào những trường hợp khẩn trương, họ thường có những hành vi bất thiện mà thường ngày người ấy sẽ không bao giờ dám làm. Đó cũng chính là ở tiềm năng ấy.Đức Phật cũng có nhấn mạnh đến một loại tâm bất thiện đặc biệt, mà ta cần phải nhổ bỏ tận gốc, nếu ta muốn tận diệt nguyên nhân của khổ đau. Loại kilesa này, đươ.c xem như là nguy hiểm nhất, đó là niềm tin cho rằng mình có một cái "Tôi" thường hằng, bất biến. Ngày nào tâm ta vẫn còn bị ô nhiễm bởi tà kiến ấy, với quan niệm sai lầm ấy, nó sẽ lôi kéo ta vào biết bao nhiêu những việc làm bất thiện khác nữa! Và khi chúng ta có một ý niệm sai lầm về một cái "Tôi", ta sẽ cố gắng bảo vệ nó, thoả mãn nó, rồi biết bao nhiêu hành động của mình chung qui cũng chỉ để phục vụ cho ý niệm sai lầm này mà thôi. Nhà văn Wei Wu Wei có diễn tả cái tâm bất thiện ấy một cách thật gọn gàng và chính xác : "Nó cũng giống như một con chó ngồi sủa một cái cây, nhưng chỉ có điều là không có cây nào ở nơi đó cả !"Thiền tập có khả năng thanh lọc tâm ta sạch hết những bơ.n nhơ của kilesa, những gì đã từng gây nên biết bao khổ đau trong cuộc đời, mà chúng cũng là nền tảng cho cái nhìn sai lầm về sư. sống của ta. Nhờ năng lư.c của một ý thức tỉnh giác, ta sẽ có thể cảm nhận đươ.c, nếm được mùi vị của vô ngã - sự vắng mặt của một cái Tôi. Và ta sẽ hiểu đươ.c nó, không bằng lý thuyết hay qua ý niệm, nhưng bằng một kinh nghiệm trư.c tiếp ở ngay giờ phút hiện tại này.Thật ra tuệ giác giải thoát ấy không có gì là mới lạ cả. Nó đã có từ thời đức Phật và vô số những đức Phật trước đó nữa. Sư. hiểu biết này cũng chính là tư. tánh của Phật pháp. Nó đã đươ.c diễn tả qua tuệ giác của biết bao người thuộc nhiều nền văn hoá khác nhau. Một dũng sĩ Nhật vào thế kỷ thứ 14 có viết :
Tôi không có mẹ cha,
Tôi lấy trời đất làm cha mẹ .
Tôi không nơi cư ngụ ,
Tôi lấy sư. tỉnh giác làm nhà.
Tôi không có tử sanh,
Tôi lấy sư. ra vào của hơi thở làm lẽ sống chết.
Tôi không có thần thông,
Tôi lấy sư. chân thật làm phép lạ
Tôi không có bạn bè,
Tôi lấy tâm mình làm bằng hữu.
Tôi không có kẻ thù,
Tôi lấy thất niệm làm địch thủ .
Tôi không có áo giáp,
Tôi lấy từ tâm làm sư. bảo vệ .
Tôi không có lâu đài,
Tôi lấy tâm bất động làm thành trì bao bọc.
Tôi không mang đao kiếm,
Nhưng tôi chỉ cần một lưỡi gươm vô ngã mà thôi!
Diệt Đế
Chúng ta đều là những dũng sĩ, lấy vô ngã làm thanh gươm trí tuệ . Thanh gươm báu ấy có khả năng chém xuyên qua những si mê và đâm thủng đươ.c tấm màn vô minh mờ mịt.Chân lý thứ nhất là Khổ đế, dạy cho ta về sư. thật khổ đau và những mức độ khác nhau của chúng. Người hành giả hiểu đươ.c chân lý thứ hai, tức Tập đế, sẽ nhận thức đươ.c các nguyên nhân của khổ đau và tập buông bỏ chúng. Họ sẽ làm lung lay và bứng nhổ hết những gốc rễ của phiền não trong tâm, nhất là ý niệm về cái Ngã.Chân lý thứ ba của Tứ Diệ Đế, dạy rằng có một con đường có thể chấm dứt khổ đau, để trút bỏ đươ.c gánh nặng trên vai mình. Trong sư. tu tập, thỉnh thoảng ta cũng có thể thoáng thấy đươ.c sư. chấm dứt khổ đau ấy. Chúng ta có thể nếm đươ.c vị giải thoát nầy trong một khoảnh khắc, khi một kilesa vừa biến mất. Trong những khi ta đang bị vướng mắc vào những tình cảm phiền muộn, ta sẽ cảm thấy bó buộc, nóng nảy, nhỏ nhen; và vừa khi ta buông bỏ chúng, tức thì tâm ta sẽ đươ.c tự tại ngay. Ngay trong chính giây phút ấy, ta nếm đươ.c mùi vị của giải thoát, mùi vị của sư. chấm dứt khổ đau. Sư. tư. do ấy là thật, vì nó là kinh nghiệm của chính ta chứ không phải chỉ là một ý niệm đẹp mơ hồ nào đó. Cũng vậy, mỗi khi bạn có thể ý thức đươ.c sư. có mặt của một tư tưởng, thay vì bị nó lôi cuốn theo, tức là bạn đã kinh nghiệm đươ.c sư. bừng mở của tâm mình rồi đó.Một kinh nghiệm tương tơ. với sư. buông bỏ này là như khi ta đi xem hát. Khi ở trong rạp ta sẽ bị cuốn phim hấp dẫn thu hút vào cốt truyện, và khi xem xong ta bước ra ngoài. Ta có một cảm giác rằng thư.c tại đã đột ngột thay đổi, một kinh nghiệm thức tỉnh nhỏ bé :" , thì ra đó chỉ là một chuyện phim!" Nhưng còn cuốn phim trong tâm của ta thì sao, bao giờ ta mới chịu bước ra ngoài? Mỗi giây phút khi ta tỉnh giác và ý thức đươ.c những gì đang xãy ra, sẽ là những giây phút giác ngộ trong đời mình. "À, đúng rồi, đó chỉ là một tư tưởng mà thôi. Chẳng phải là một chuyện gì ghê gớm như mình nghĩ!" Trong giây phút ấy tất cả sẽ bừng mở. Chúng ta cũng có thể kinh nghiệm đươ.c sư. chấm dứt của khổ đau bằng một cách khác, khi ta đạt đến trình độ gọi là "bình thản trước mọi sư. thành tựu." Một tâm tĩnh lặng thì bao giờ cũng sẽ vững vàng và quân bình trước bất cứ những việc gì xãy đến. Chúng ta sẽ cảm thấy thư thái và cởi mở trước sư. tha(ng trầm của mọi vật. Một tâm trầm tĩnh thì sẽ không bao giờ phản ứng một cách quá khích. Trạng thái này cũng gần giống như tâm của một người đã hoàn toàn giác ngộ . Vì thế, mặc dầu ta chưa thật sự bước ra khỏi cuộc đời, chưa được giải thoát viên mãn, nhưng ta cũng vẫn có thể kinh nghiệm được chốn an lạc nầy.Chúng ta có thể kinh nghiệm đươ.c sư. chấm dứt khổ đau bằng cách quán chiếu những hiện tương duyên sinh - nhận thức đươ.c sự vô minh, vô duyên khơ?i của chúng.
Đạo Đế
Chân lý thứ tư của Tứ Diệu Đế là Đạo Đế, hoàn tất con đường đi đến sư. giải thoát. Con đường tu tập của đức Phật dạy rất là trư.c tiếp và rõ ràng, mặc dù nó đòi hỏi một sư. phó thác và một sư. kiên gan, bền chí phi thường. Con đường tu tập ấy bao gồm sư. đào luyện trong ba lãnh vư.c. Thứ nhất là trau giồi về giới luật, không sát hạị Nếu sư. tu tập của ta không đươ.c đặt trên nền tảng của một thiện chí đối với mình và tha nhân, thì việc ấy cũng giống như là chèo thuyền qua sông mà trong khi con thuyền vẫn còn
cột chặt vào bến. Sự cố gắng của ta, cho dù có bền chí đến đâu, cũng sẽ không mang đến một quả trái nào. Chúng ta cần phải tu tập và tôi luyện khả năng sống chân thật và thanh liêm của mình.Việc thứ hai chúng ta cần trau dồi là phát triển na(ng lư.c, định lư.c, và sư. tỉnh giác. Đây là những công cụ của thiền quán và của sư. sống, có khả năng làm cho ta tỉnh thức. Không có những yếu tố ấy, chúng ta cả đời sẽ chỉ hành động theo những tập quán, thói quen tích tụ lâu đời, lâu kiếp của mình mà thôi! Hai sư. trau luyện ấy sẽ làm nền tảng cho sư. phát sinh của tuệ giác. Tuệ giác để nhìn thấy đươ.c sư. vô thường một cách rõ ràng, thấy đươ.c tính chất bị điều kiện chi phối của mọi hiện tươ.ng, biết đươ.c rằng bất cứ việc gì hễ có sanh thì phải có diệt. Khi chúng ta quán chiếu chúng một cách thẩm thấu, chúng ta sẽ không còn bám víu nữa, và khi ta đã không còn bám víu nữa thì mọi khổ đau tự nhiên sẽ chấm dứt.
(Hết)
Joseph Goldstein
Nguyễn Duy Nhiên dịch
WP: Trí Đạt

Vượt qua buồn ngủ trong khi hành thiền
Pa Auk Tawya Sayadaw 
Chuyển ngữ: Tỳ kheo Pháp Thông

hon_tram_khi_ngoi_thienCon ăn nhiều và ngủ cũng nhiều. Nhưng tại sao khi hành thiền con vẫn càm thấy buồn ngủ và cảm thấy đói bụng vào ban đêm?
Trả lời: Buồn ngủ xảy ra do các nguyên nhân khác nhau, có khi thuộc về thân, có khi thuộc về tâm. Đối với các nguyên nhân thuộc về thân, ngủ có thể là do sự không quân bình của tứ đại trong cơ thể của hành giả. Khi địa đại (yếu tố đất) hoặc thủy đại quá mạnh, hành giả cảm thấy buồn ngủ vì hai đại này có bản chất nặng nề. Ngược lại, khi hỏa đại và phong đại mạnh hơn, hành giả cảm thấy khó rơi vào giấc ngủ. Tứ đại trong thân của chúng ta luôn luôn thay đổi. Chúng ta không thể trông đợi chúng lúc nào cũng ở trong trạng thái quân bình và hòa hợp được, đặc biệt là khi chúng tat hay đổi sang một môi trường hoặc nếp sống mới. Tuy nhiên, sự không quân bình ấy thường chỉ tạm thời. Thân tự nó sẽ điều chỉnh. Để ngăn rơi vào giấc ngủ trong lúc hành thiền, hành giả có thể ngủ một lát sau bữa ăn (trước khi hành thiền).

Đối với các nguyên nhân thuộc về tâm, khi tâm hành giả không đủ nghị lực, hành giả sẽ bị áp đảo bởi hôn trầm –thụy miên. Cách thức để đương đầu với hôn trầm –thụy miên là khơi dậy nghị lực, tinh tấn và thích thú trong việc hành thiền. Hành giả có thể nghĩ đến cái khổ của sanh, lão, bệnh, tử; cái khổ của bốn ác đạo, của vòng tử sanh trong quá khứ và tương lai để đánh thức sự kinh cảm (ý nghĩa của sự khẩn cấp tâm linh) cho việc hành thiền. Hoặc hành giả có thể nghĩ đến những lợi ích to lớn có được từ việc hành Pháp (Dhamma): như có được hiện tại lạc trú, một sanh thú an vui trong tương lai và sự giải thoát tối hậu khỏi mọi khổ đau. Nhờ suy nghĩ theo cách này, hành giả có thể khơi dậy tinh tấn lực và sự thích thú trong hành thiền. Hành giả cũng có thể áp dụng bảy cách mà chúng tôi đã giới thiệu để loại trừ cơn buồn ngủ, như xoa mặt mũi, tay chân và thân thể, nhìn ánh sáng, đứng dậy, rửa mặt và đi kinh hành. Dần dần rồi hành giả sẽ thành công trong việc phát triển định càng lúc càng sâu hơn và có thể vượt qua cơn buồn ngủ.

Cảm giác đói bụng là do chất lửa giúp cho sự tiêu hóa quá mạnh trong cơ thể hành giả. Khả năng khác là hành giả chưa quen với nếp sống không ăn chiều. Dần dần hành giả sẽ quen với nếp sống không ăn chiều này và cảm thấy bình thường.

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta phải thực hành như thế nào để làm cho thân, khẩu và ý của chúng ta được trong sạch.

Trả lời: 
Trong đời sống hàng ngày, chúng ta phải luôn luôn tưởng nhớ đến Phật- Pháp (Buddha –Dhamma), và nhận thấy rõ lợi ích của Phật – Pháp. Việc làm này sẽ giúp chúng ta tịnh hóa dần dần những hành động của thân, khẩu, và ý của chúng ta. Kế đó chúng ta sẽ dùng sự hiểu biết của Phật – Pháp này để thực hành Giới Định Tuệ cho đến mức có thể.

Chẳng hạn, chúng ta phải phòng hộ sáu căn – mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm của chúng ta. Phải cẩn thận không để các cảnh cần lôi đi. Đức Phật cũng dạy cho chúng ta bốn thiền bảo hộ. Chúng ta có thể áp dụng chúng trong pháp hàng ngày của chúng ta.

Bốn thiền bảo hộ nói đến thiền tâm từ, niệm tưởng ân Đức Phật, quán bất tịnh và niệm tưởng sự chết. Tâm từ được thực hành khi cảm giác sân hận phát sanh và trở nên mạnh mẽ. Tùy niệm Phật được thực hành khi đức tin chúng ta suy giảm. Quán bất tịnh được thực hành khi tâm tham của chúng ta trổi dậy và trở nên mạnh mẽ. Niệm tưởng sự chết được thực hành khi chúng ta có khuynh hướng lười biếng. Khi niệm tưởng sự chết, sợ hãi sẽ phát sanh và nó nhắc chúng ta nhớ đến cái chết, một điều sớm muộn gì cũng đến với mọi người, do đó chúng ta sẽ cố gắng hành thiền.

Chúng ta phải duy trì việc thực hành này hàng ngày, đó là, chúng ta phải ấn định thời gian ngồi thiền vào buổi sáng và buổi tối cho mình thật nghiêm ngặt. Lúc đó tâm của chúng ta sẽ trở nên càng ngày càng mạnh hơn. Khi tâm càng lúc càng trở nên mạnh hơn như vậy, những hành động của thân, khẩu và ý của chúng ta sẽ trở nên thanh tịnh hơn. Do đó chúng ta phải tiếp tuc thực hành theo cách này để làm trong sạch thân, khẩu và ý của chúng ta trong đời sống hàng ngày.

Nếu một người được lợi nhờ trốn thuế và giúp những người khác trốn thuế, họ có phạm tội trộm cắp không? Nếu một người tại gia cư sĩ phạm ngũ giới, họ phải sám hối và thọ trì giới lại như thế nào?
Trả lời: 
Theo Luật Tạng (Vinaya Pitaka), trốn thuế hay giúp người khác trốn thuế là một trong hai mươi lăm loại trộm cắp. Nếu một người làm điều đó, họ phạm tội trộm cắp bất kể họ là vị sư hay cư sĩ. Nếu một vị Tỳ kheo ăn cắp những tài sản đáng giá một pàda ( năm màsaka) hay hơn, vị ấy phạm một tội bất cọng trụ (Pàràjikà), và không còn là Tỳ kheo nữa.

Nếu một người cư sĩ phạm ngủ giới, họ kể như mất ngủ giới, nhưng không cần thiết cho họ để thú tội này. Tuy nhiên, họ nên quyết tâm để không phạm giới trở lại. Họ có thể nhận giới lại trước một Sa di, một vị Tỳ kheo, hay trước một bức tượng Phật, và rồi giữ gìn giới một cách cẩn thận.
Theo: Tứ Niệm Xứ tường giải
Pháp Thông
(Thiền viện Phước Sơn)

VIPASSANA VÀ KINH DOANH 
D.B. Gupta - Mỹ Thanh dịch

vipassana_in_businessVipassana (Thiền Minh sát) là một môn khoa học vĩ đại, môn khoa học tâm thức để hiểu biết về hiện tượng vật chất. Đây là một quá trình thanh tịnh tâm thức, không bị bó buộc bởi môn phái, giai cấp hay tín ngưỡng. Hơn nữa, Vipassana hoạt động dựa theo mức độ kinh nghiệm, và thông qua quá trình thanh tịnh hóa tâm thức một cách bền bỉ sẽ mang lại một cuộc sống hạnh phúc.
Cần biết rằng phần lớn tâm thần là tiềm thức hoặc tâm thức không tự giác. Thông thường thật là khó khăn để tiếp xúc với phần này, tiềm thức luôn phản ứng theo những điều kiện của quá khứ. Phần tâm thức có tính chất phản ứng này là một nhà kho chứa những ấn tượng (samkhara) ham muốn và chán ghét, và nó làm cho phản ứng của chúng ta đối với những sự việc xảy ra từ bên ngoài bị chệch đi, và như vậy thiếu tính khách quan.
Vipassana giúp chúng ta phá bỏ rào cản giữa ý thức và tâm thức. Xuyên qua quá trình quan sát, không phản ứng lại, tâm thức được tẩy rửa bớt những gì tiêu cực. Với phương thức Vipassana, một người đi đến tận cùng sâu thẳm của tâm thức, và kinh nghiệm rõ những cảm thọ của thân thể mà không cần phải phản ứng lại. Luật thiên nhiên là bất cứ hành động nào của chúng ta cũng tạo nên một dấu ấn riêng và được thu nhập vào trong tâm thức. Sự thu lượm những dấu ấn này không phải chỉ trong đời sống này, mà luôn cả những đời sống trước kia nữa. 
Nơi lưu trữ này là sách chỉ dẫn cho những phản ứng của chúng ta đối với sự việc xảy ra từ bên ngoài.
Ở mức độ kinh nghiệm, phần lớn những lợi ích là:
1- Khi tâm thức ngày càng tỉnh táo, một người trở nên bén nhạy, có khả năng hiểu rõ những tình trạng ở nhiều mức độ khác nhau. Nơi kinh nghiệm cá nhân, tôi giải quyết được nhiều việc khó khăn thông qua việc thực hành Vipassana.
2- Nhờ giảm bớt được sự chán ghét và tham đắm, một người có khả năng đối diện với những tình huống trong cuộc sống một cách khách quan hơn, và như vậy cải thiện được quá trình giải quyết các vấn đề. Vipassana làm giảm đi tình trạng bị chọc tức và thất vọng.
3- Các doanh nhân, tùy vào mức độ rắc rối của công việc, thường phải đối diện với khá nhiều căng thẳng hay làm việc quá sức. Những căng thẳng như vậy sẽ có sức tác động rất lớn về mặt sức khỏe, và như đã nói, có hơn năm mươi phần trăm căn bệnh liên quan về mặt sức khỏe và tinh thần. Một tác dụng thứ yếu của thiền định là sức khỏe có thể được cải thiện thông qua quá trình thanh tịnh hóa tâm thức.
4- Một người thường tìm kiếm quyền lực và địa vị trong thương trường, nhưng lại không có khả năng hưởng thụ những thứ họ kiếm được, vì những tác dụng tiêu cực mà họ đã tạo nên qua việc thổi phồng tự ngã. Tự ngã chặn đứng chúng ta không cho chúng ta phát triển những phẩm chất của con người như tình thương yêu, lòng từ bi, sự an lạc và thanh thản. Thiền Vipassana thật sự hữu ích cho thương mại, nhưng quan trọng nhất là Vipassana giúp chúng ta kinh nghiệm được sự an lạc chân thật của tinh thần, và cảm nhận được hạnh phúc thông qua việc giảm bớt tự ngã. An lạc và hạnh phúc chỉ xuất hiện khi chúng ta hiểu rõ về tính chất vô thường của thân và tâm.
5- Thực hành liên tục Vipassana sẽ gia tăng sự thanh thản và như vậy một người có khả năng sống một cách hài hòa, và không bị ảnh hưởng bởi những áp lực của cuộc sống hàng ngày.
6- Những nhà thương mại có quyền lực ghê gớm trong vấn đề chỉ huy tài chính, quản lý và kỹ thuật. Thông qua việc phát triển một hệ thống giá trị tốt hơn, Vipassana khiến chúng ta làm việc với mục đích phụng sự nhân loại. Trong thương trường, Vipassana giúp chúng ta cải thiện phẩm chất của sản phẩm, và cách phục vụ xã hội, khuyến khích một định hướng phục vụ quy mô hơn hầu đáp ứng các nhu cầu của xã hội. 
Một người bất thần “được” thúc đẩy để bắt đầu Chương trình Lupin ủng hộ nông thôn (Lupin Rural Support Programme) sau khi học thiền. Chương trình này mang đến sự phồn vinh và hạnh phúc cho khoảng 200.000 người, nơi chúng tôi làm việc, và lần lượt việc này cũng mang đến hạnh phúc cho chúng tôi. Chúng tôi được thúc đẩy để phát triển thêm nhiều cuộc thực nghiệm phục vụ nhân loại như trên, vài cuộc thực nghiệm đang được chúng tôi tiến hành. Vipassana là môn thanh tịnh hóa tinh thần, và một tinh thần sáng suốt sẽ tìm kiếm hạnh phúc thông qua việc cải thiện cách thức phụng sự xã hội.
Được biết Vipassana là một môn khoa học lâu đời của Ấn Độ. Đức Phật Gotama là người đã phát hiện lại Vipassana và nhờ vào Vipassana mà Đức Phật đã tìm ra chân lý tối thượng, và Ngài đã truyền dạy phương pháp này vì lợi ích của nhân loại. Sau đó, Hoàng đế Ashoka đã khuyến khích việc truyền bá, giảng dạy phương pháp này cho thần dân của mình, theo sắc lệnh được ghi lại trên trụ đá. Chúng tôi rất biết ơn ngài Goenka đã mang kiến thức xa xưa này đến xứ sở của chúng tôi.
Bởi vì vượt thoát rào cản giai cấp, giáo phái, chủ nghĩa cộng đồng, và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, Vipassana mang đến sự cải thiện về mặt đạo đức, như vậy song song với ích lợi về mặt vật chất còn có niềm hạnh phúc chân thật. 
Hơn nữa, Vipassana có thể là một phương tiện hiệu lực cho việc củng cố một hệ thống quốc gia hợp nhất, và tăng cường những nhân tố hiểu biết có tính cách quốc tế; những điều này rất thích hợp với thời đại hiện nay.
(Chân thành cảm ơn Phramaha Witoon Thacha đã chép lại bài giảng này). 

TÌM HIỂU THIỀN ĐỊNH NAM TÔNG 
Nguyễn Hòa

Chào quý đạo hữu,
Tôi thử tìm hiểu về Thiền Định Nam Tông, đặc biệt là trạng thái Định, qua một số tài liệu và kinh điển. Chắc chắn những điều viết ra sẽ rất thiếu sót, nhất là khi bài viết bị hạn chế về nguồn tư liệu, về thời gianviết,hình thức viết, và ngay người viết chỉ đang ở bước tìm hiểụ Cũng có khả năng còn có sự sai lạc nữạ Cho nên nếu được sự góp ý để bổ túc hay sửa lại chỗ không đúng từ những đạo hữu hiểu biết sâu sắc vấn đề, về mặt lý thuyết hay thực hành, thì sẽ đem lại ích lợi nhiều hơn cho ai muốn tìm hiểu, cầu học , và nhất là cho riêng người viết mà ý muốn trước tiên chỉ là để sắp xếp lại những thu thập có khi do tình cờ, không hệ thống, từ nhiều nguồn khác nhaụ
So với Bắc tông , thì Phật giáo Nam Tông gần với Phật giáo Nguyên Thuỷ hơn, nên pháp Thiền Định Nam tông được thấy cũng có chỗ gần với Thiền Định thời Phật tại thế hơn. Theo kinh điển, đức Thế Tôn thoạt tiên học và thành tựu Tứ Thiền với đạo sư Alara, và sau đó học và thành tựu Tứ (Vô Sắc) Định với đạo sư Uddakạ. Nhưng Thiền Phật giáo về sau càng phát triển thêm rất nhiều, nhất là về pháp Quán, trở thành khác với lối Thiền Định của ngoại đạo, tuy là Tứ Thiền Bát Định vẫn còn được giữ gìn, nhất là ở Nam tông. Ngày nay, kinh Niệm Xứ vẫn còn được Nam tông dùng dạy một lối Thiền (Bốn Niệm xứ) hoàn toàn không giống với cách hành Thiền của Bà La Môn giáo .
Thiền Nam tông phân biệt ra hai hình thức hành Thiền, và ngày nay như thuộc về hai “phái Thiền” khác nhau : Thiền Chỉ (Samatha) và Thiền Quán hay Minh Sát (Vipassana). Thiền Chỉ tập giữ tâm ở trạng thái tĩnh, bằng cách chú tâm vào một điểm trong đề mục Thiền, cũng bao gồm cả quán tưởng về các hình dạng nhất định, nhiều màu sắc khác nhau, với mục đích là để đốí trị với các tâm lý dao động, trạo cử, hay những vọng niệm, để làm cho thân tâm được an tịnh, và sau cùng đi vào Định. Đây là Cận hành Định và An Chỉ Định. Khi đạt dược hai loại định này, thì tâm thức hành giả sẽ có được an lạc, vắng lặng, đoạn trừ được phiền nãọ Phương tiện tu tập có thể là nhiếp tâm trên một đốí tượng (hay đề mục) gọi là Kasana, và có thể lần lượt đi vào các tầng thiền thuộc Tứ Thiền Bát định. Nhưng có người ở phái Thiền khác chỉ trích pháp môn này, cho là khi tâm ra khỏi an chỉ định thì an lạc cũng mất, và Định này không sinh ra trí tuệ (Phật giáo).
Thiền Minh Sát dùng Chú Niệm (Sati) theo d i và phân tích một đốí tượng thuộc về sinh hoạt của thân,tâm hay pháp (như thân hành, cảm thọ, thức, đề mục tâm…) để có được chánh niệm, nhận thức được Tam tướng (vô thường, khổ đau, vô ngã) của mọi hiện tương, phát triển tuệ giác, để sau cùng đi đến Trí tuệ PG.
Theo TT Thích Chơn Thiện trong quyển “Tìm vào thực tại ” thì: ” Nếu hành giả lấy Thiền Chỉ làm phương tiện tu tập thì sẽ vào Định nhanh hơn. Tiếp theo nhiếp niệm trên một đối tượng gọi là Kasina từng bước đi vào thanh tịnh tâm, sẽ lần lượt vào Sơ Thiền cho đến Vô Sở Hữu xứ định (không nên vào Phi TưởngPhi Phi Tưởng xứ). Hành giả Thiền Chỉ có thể dừng ở Tứ Sắc Định để hành Thiền Quán Ba pháp Ấn (Tam tướng) , hay Năm thủ uẩn (Ngũ Uẩn) để vào các thánh quả. Hoặc từ Vô Sở Hữu xứ Định mà hành Bốn Vô lượng Tâm để vào Diệt Thọ Tưởng Định. Tại đó, Chánh Trí giải thoát xuất hiện.
Ở Nam Tông, giữa Thiền Chỉ và Thiền Quán (Minh Sát) thật ra chỉ có điểm khác biệt căn bản là :
_ Nếu hành giả hành Thiền Quán ngay từ đầu không chờ vào Cận Định hay Toàn Định, thì gọi là hành Thiền Quán.
_ Nếu chỉ hành Thiền Quán sau khi đạt đã tới Tứ sắc Định, hay Vô sở hữu xứ Định thì gọi là hành Thiền Chỉ. Nếu hành Thiền Quán như là phương tiện tu tập thì hành giả sẽ khá chậm vào Định, có khi rất chậm “
Vì loạt bài này có dụng ý bàn nhiều về Định, nên có lẽ tôi sẽ nói về Thiền Chỉ nhiều hơn, và sẽ bắt đầu từ cách tu tập Kasina , để tiến tới các loại Định ghi theo kinh điển truyền thống.Tuy nhiên, trước hết cũng cần làm r ràng một vài từ ngữ với ý nghĩa theo Thiền Định Nam Tông. Cận hành Định, hay Cận Định, là giai đoạn tâm trở nên tập trung và vắng lặng trong một khoảng thời gian, và sau đó sự tập trung sẽ biến mất. Ngoài ra, còn khi còn phân biệt thêm Nhập Định cũng giống như Cận Định, nhưng sự tập trung tâm kéo dài hơn. An Chỉ Định thường rất vi tế, vững chắc và không thay đổi, sự tập trung tâm duy trì được lâu dàị Trong giai đoạn Nhập định , đôi khi xuất hiên phía trước hành giả một hình ảnh gọi là Nimitta, mà đôi khi tôi sẽ dịch là Tợ Tướng, và có người dịch là Ấn chứng. Đó là những hình ảnh về sự thấy hay nghe của hành giả khi quán tưởng, như hình ảnh, ánh sáng đề mục, hay âm thanh, có khi là những cảm nhận bất thường giống như ma quáị
Các Trạng Thái Định :
Thiền Sư U Silananda có viết về nhiều loại tâm Định khác nhau . Ở thiền Chỉ , có tâm Nhập định Jhana, và trước đó thì có tâm Cận định. Gọi là Cận định vì tâm này sinh khởi rất gần với tâm Nhập định Jhana, và chưa có tâm Cận định thì không thể có tâm Nhập định Hành giả thiền Quán Vipassana lại phát triển loại Định không phải Nhập định mà cũng chẳng phải Cận định, nhưng gần giống như Cận định, đó là Chập định — Kanika samadhi (hay Sát-na định, Định từng “chập”). Tâm Cận định có thể an trụ trên đối tượng, đề mục trong một thời gian khá lâu, giây phút này đến giây phút khác mà không bị dứt đoạn. Chập định cũng vậy, cũng có khả năng giữ những chướng ngại ngoài tâm, cũng có khả năng an trụ trên đối tượng hết giây phút này đến giây phút khác, không dứt đoạn. Chập định không khác gì Cận định, nhưng ta không gọi nó là Cận định vì nó không sinh khởi kế trước tâm Nhập định. (Nghĩa là sau Chập Định không có tình trạng Nhập Định). Chỗ khác nữa là Cận định an trụ trên “một” đối tượng duy nhất trong khi đó Chập định an trụ trên “những” đối tượng khác nhau trong những lúc khác nhau, nhưng cả hai đều có khả năng an trụ vững yên trên đối tượng như nhaụ
Thiền sư Mahasi Sayadaw (trích từ quyển “Những vị Thiền sư Đương thời”) mô tả vài nét về tình trạng Chập Định hay chuẩn bị để vào tình trạng này, khi hành giả thấy ánh sáng, đôi khi quá rực rỡ, và có được tâm hỷ, lạc, xả, hạnh phúc…, nhưng khuyên hành giả đừng để bị vướng mắc :” Tuệ giác thể nhập vào trong những đề mục bằng sự dễ chịụ Tâm trở nên vững chắc và ngay thẳng, và hành giả mong muốn thoát ly tất cả bất thiện pháp. Nhờ niềm tin mạnh mẽ, cho nên tâm vô cùng sáng suốt. Đôi khi lúc đó không còn đề mục nào để chú niệm cả, thời gian rất lâu, tâm vẫn còn an trụ. Đối với hành giả, lúc đó tâm xả phát sanh liên quan với tuệ giác. Sự an lạc vượt lên trên tất cả những kinh nghiệm cũ của hành giả. Nơi đó sanh lên sự chấp thủ vào thiên nhiên huyền ảo kia đến nỗi hành giả dính mắc vào tuệ giác đó, tuệ giác đó thì liên quan với ánh sáng, chánh niệm và hỉ lạc. Hành giả trải qua tất cả những điều này như là hỉ lạc của thiền định. Hành giả không nên suy niệm đến những điều xảy ra như thế. Như mỗi lần phát sanh, nên chú niệm chúng như vầy: ánh sáng, niềm tin, hỉ lạc, tâm xả, hạnh phúc. Lúc nào có ánh sáng, hành giả nên chú niệm ánh sáng cho đến khi nào nó biến mất.
Tương tự trong những trường hợp khác, những hành động chú niệm cũng phải làm như vậỵ Lúc đầu khi ánh sáng xuất hiện, hành giả thất niệm và thích nhìn thấy ánh sáng. Thậm chí hành giả còn hoan hỉ chú niệm đến ánh sáng nữa là khác, ánh sáng sẽ hòa nhập với những cảm giác hỉ lạc và hạnh phúc, và có lẽ nó còn vương vướng đâu đó. Tuy nhiên về sau hành giả quen với hiện tượng này và sẽtiếp tục chú niệm chúng nhiều hơn cho đến khi nào chúng biến mất. Đôi khi ánh sáng quá rực rỡ đến nỗi hành giả thấy ánh sáng, suy nghĩ khó mà làm nó tiêu tan trong phạm vi chú niệm ánh sáng luôn khị Như thế hành giả không nên chú niệm ánh sáng nữa và xoay qua chú niệm liên tục bất kỳ đề mục nào mà phát sanh trong thân của hành giả. Hành giả không nên suy nghĩ là ánh sáng còn ở đó chăng. Nếu có như vậy, có lẽ hành giả thấy ánh sáng. Nếu như suy nghĩ này phát sanh, hành giả nên phân tán ánh sáng bằng sự chú tâm liên tục đến mỗi sự suy nghĩ đó. Trong nhiều trường hợp, thậm chí không có sở thích như thế đối với bất kỳ đề mục nào nói riêng, thì những đề mục mờ nhạt xuất hiện lần lượt cái nọ sang cái kia giống như toa xe lửạ Thế thì hành giả phải phản ứng lại bằng thị giác đơn thuần là thấy, thấy, và mỗi đề mục đó sẽ biến mất. Khi nào tuệ giác của thiền sinh trở nên yếu kém, thì những đề mục trở nên r hơn. Vậy thì mỗi đề mục phải chú niệm cho đến khi nào hàng loạt đề mục biến mất hoàn toàn.
Hành giả nên nhận biết thực tế rằng ấp ủ một sở thích cho hiện tượng như là ánh sáng và sẽ bị dính mắc vào chúng, đó là một thái độ sai lầm. Sự trả lời đúng đó là tuân theo con đường của tuệ minh sát, là để chú niệm những đề mục này chuyên chú cho đến khi nào chúng diệt. Khi nào hành giả liên tục áp dụng chánh niệm cho thân và tâm, thì tuệ giác của hành giả sẽ phát triển mạnh mẽ. “
Trong Thiền Chỉ, theo thiền sư U Ba Khin (cũng trong ” Những vị Thiền sư đương thời “) những dấu hiệu trong “giai đoạn ánh sáng” như trên rất đáng khuyến khích và nên tiếp tục ( vì là gần với Cận Định ):” Luôn luôn có những giai đoạn cho sự tiến bộ của phương pháp Thiền này khi nó đi đúng hướng, bằng sự xuất hiện của những biểu tượng (tợ tướng) mà người ta thấy được từ hình dáng của của vài vật “màu trắng” ngược lại với bất cứ điều gì có “màu đen”. Lúc ban đầu người ta thấy chúng ở hình dáng của những đám mây, hoặc bông gòn, và đôi lúc những hình dạng màu trắng như là khói, mạng nhện, những bông hoa, đĩa, nhưng khi tập trung sâu sắc hơn, chúng xuất hiện như những tia sáng, hoặc những điểm sáng, như một ngôi sao bé xíu, hoặc mặt trăng, mặt trờị Nếu những giai đoạn này xuất hiện trong Thiền (lẽ dĩ nhiên mắt nhắm lại), sự việc đương nhiên xem như là đúng đó là hành giả đã tập trung được. Sau đó, điều cơ bản là để cho hành giả cố gắng tu tập sau một lúc nghỉ ngơi để tập trung trở lại với “giai đoạn ánh sáng” càng nhanh càng tốt.”
Tuy nhiên, theo pháp Thiền mà thiền sư U Ba khin dạy thì : ” Khi thiền sinh đạt đến mức độ Định nào đó (thường là Định Samadhi)….khoá tu tập này được chuyển qua Thiền Quán “.

KASINA
Thiền Định Nam tông có bốn mười đề mục, hay đốí tượng, quán chiếụ Ở đây , tôi trình bày về 10 đề mục quán chiếu thuộc về Kasina, liên hệ đến các vật có tướng trạng như : đất, nước, gió, lửa, vật màu xanh (lam), vàng,đỏ, trắng, ánh sáng, và không gian. Tám đề mục đầu tiên thuộc về Sắc Định, và hai đề mục sau đưa tới Vô sắc định.
Phương pháp quán chiếu Kasina có ghi chép trong kinh điển Phật giáo, lại dường như là pháp Thiền Định riêng của Phật giáo, và cho tới nay chưa tìm thấy cách tập Thiền tương tự ở ngoại đạo Bà La môn. Kasina có nghĩa là toàn thể, trọn vẹn, ở đây chỉ vật hình tròn, làm bằng đất chẳng hạn, để làm phương tiện nhìn ngắm, quán tưởng , và cũng là cái hình ảnh trong tâm trí (Uggaha-nimitta, tâm ảnh) có được sau khi nhìn lâu vào vật làm đề mục quán tưởng. Sau cùng Kasina cũng chỉ cái Nimitta phát sinh ra từ đó. Nimitta lại cũng có nhiều nghĩa, ở đây hiểu là cái dấu chỉ của tâm được soi sáng sau khi tập quán chiếu thành công. Dấu chỉ này báo trước sắp vào Cận Định, tiếng Pali gọi là “Patibhaga-nimitta”, và tôi dịch là “tợ tướng” (hay tợ ảnh) là hình ảnh tinh tế, nguyên thuần hơn cái tâm ảnh nói ở trên, khởi lên trong tấm gương tâm”như mặt trăng hiện ra khỏi đám mây”, là biểu tượng cho toàn thể tính chất của vật quán tưởng.
KASINA Đất
Hành giả muốn vào Định bằng cách tập Kasina Đất thì trước hết dùng đất sét, màu đỏ nhạt hay có màu ráng trời lúc rạng đông, nắn thành cái dĩa tròn, mặt thật nhẵn mịn nhưda trống, đường kính chừng bốn inch, rồi để trước mặt mà nhìn ngắm, quán tưởng. Giữ mức nhìn đều, mắt không cần mở lâu quá. Cái dĩa phải được nhìn thấy, nhưng không cần thấy r quá, bằng không Nimitta sẽ không khởi lên. Không chú tâm quá, cũng không phóng tâm, nhưng giống như một người nhìn ảnh mình hiện ra trong gương, không để ý đến hình dạng, màu sắc của gương. Nhìn vào cái dĩa đất mà không để ý đến màu sắc hay các tính chất khác của nó, chỉ giữ trong tâm ý niệm hay khái niệm về Đất là chất tạo thành cái dĩạ Không chỉ nghĩ về đất làm ra cái dĩa, mà nghĩ thêm chính mình cũng là đất, nhớ tới thân thể được tạo bằng Địa đạị Hành giả cứ nghĩ tưởng về cái dĩa cho đến khi có được Tợ Tướng, đôi khi với mắt mở ra, đôi khi với mắt nhắm lại, dù việc thực tập này phải diễn ra trong bao nhiêu lần. Khi mắt nhắm mà hình ảnh của cái dĩa vẫn hiện ra trong tâm r ràng như lúc mở mắt, thì dấu chỉ này gọi là Uggaha-nimitta, hay tâm ảnh, đã được phát triển đầy đủ. Khi đã có được điều đó, hành giả không cần tiếp tục ngồi ngắm cái dĩa nữa, mà có thể bỏ đi chỗ khác và ráng giữ được cái ảnh dĩa trong tâm. Nếu thấy tâm ảnh bị mất hay hiện lên không r thì trở lại nhìn ngắm dĩa như trước để có được dấu chỉ tươi mớị Sau cùng sẽ hiện lên Patibhaga-nimitta (Tợ Tướng) tinh tuyền gấp trăm, hay ngàn lần hình ảnh trước, như đã nói ở trên, tợ tướng hiện ra như từ bên trong một tấm gương sạch, hay như vừng trăng ra khỏi đám mâỵ Lúc đó tâm đã hoàn toàn tập trung và hành giả đi vào Upacara-samadhi (trước cận định). Tuy nhiên, trong cách quán tưởng Kasina, Upacara-samadhi trên còn yếụ Phải còn đi vào cận định với tợ tướng duy trì trong một lúc, và rồi tiếp theo vào Định.
Kasina Nước
Dùng chén nước để quán tưởng , hoặc ai đã có kinh nghiệm trước rồi thì nhìn ngắm nước thiên nhiền ở ao, hồ, sông, hay biển, cho đến khi Tợ tướng khởi lên. Những loại Kasina khác không trình bày ở đâỵ (Còn tiếp)

KASINA (tiếp theo)
Xin trình bày thêm về Kasina, với vài bổ túc.
Kasina Đất ( Pathavi-kasina) : khi nhìn ngắm đề mục bằng đất, hành giả niệm ” Đất, đất” (hay Pathavi), và cứ lặp lại như
thế. Tợ tướng có hình tấm gương trong sáng hay mặt trăng.
Kasina Nước ( Apo-kasina) : Người mới tập nhìn ngắm nước trong chậu hay chén, và nước phải tinh khiết như nước mưạ Giữ ý thức về Thủy đại, và niệm trong tâm ” Nước, nước” (hay apo). Nếu tập đúng, lần lượt sẽ có hai Nimitta xuất hiện : tâm ảnh (phản ảnh mặt nước đang nhìn) và tợ tướng có hình cái quạt ngọc hay cái gương nằm trên bầu trờị
Kasina Lửa ( Tejo-kasina) :
Nếu hành giả đã có kinh nghiệm thì Nimitta sẽ xuất hiện khi nhìn ngọn lửa của đèn, lò bếp, hay lửa cháy rừng. Người mới tập thì nhìn lửa từ củi cháy qua một tấm vải có khoét lỗ tròn rộng chừng bốn inch. Cũng niệm “Lửa, lửa” (hay tejo, tejo), nhưng không để ý tới màu sắc hay sức nóng của lửạTợ tướng sẽ xuất hiện như mảnh chăn đỏ, cái quạt hay cây trụ màu vàng kim nằm trên bầu trờị
Kasina màu Xanh Lam ( Nila-kasina)
Nila có nghĩa “blue-green”. Hành giả đã có kinh nghiệm có thể nhìn cánh hoa hay luống hoa màu xanh, hoặc một miếng vải, viên ngọc màu xanh. Người mới tập dùng hoa màu xanh đặt trong rổ hay mâm tròn để tạo thành một vật tròn, dày đăc màu xanh. Có thể dùng mảnh kim khí hay lá xanh (blue), hoặc một cái dĩa sơn xanh có đường kính chừng bốn inch. Khi nhìn ngắm cũng niệm “Xanh, xanh” (hay Nilam, nilam). Tợ tướng sẽ hiện ra như cái quạt làm bằng ngọc xanh.
Kasina Ánh Sáng ( Aloka-kasina)
Hành giả nhìn vệt ánh sáng lọt qua kẽ nứt ở tường vách, ổ khoá, hay từ cửa sổ mở. Người đã có kinh nghiệm về kasina có thể nhìn vệt tròn trên tường hay trên mặt đất của ánh nắng hay ánh trăng lọt qua một lỗ trên vách hay mái nhà. Hay nhìn mảnh sáng tròn in trên đất khi ánh sáng lọt qua vòm lá. Có thể dùng ánh sáng của cây đèn đặt trong chậu đất có khoét lỗ tròn ở đáy hướng về tường để tạo ra một dĩa tròn sáng trên tường. Cũng niệm “ánh sáng, ánh sáng” (hay aloko, aloko). Tợ tướng sẽ hiện ra như một khốí ánh sáng rực rỡ.
Kinh Anguttara Nikaya nói về việc tu tập theo mười Kasina : “Chỉ những ai có được những phẩm hạnh tốt của tín tâm, sự khôn ngoan và quyết tâm tinh tiến mới thực tập thành công pháp quán tưởng nàỵ Thiền Định đến từ phương tiện Kasina sẽ dẫn dắt vào con đường của trí tuệ, để hành giả có thể hoàn thành sự viên mãn và hiểu biết toàn vẹn, từ đó sẽ đạt tới sự an lạc của Niết Bàn”

Xin nhắc lại các tầng Thiền Định .
I Tứ Thiền (Jhana) hay Tứ Sắc Định
Có năm yếu tố tâm lý gây trở ngại cho việc vào Định gọi là năm triền cái : trạo cử, hôn trầm, dục, sân và nghị Khi năm thiền chi , Tầm , Tứ, Hỷ, Lạc, Nhất Tâm, Xả, loại trừ được năm triền cái trên thìvào được Định Sơ Thiền. Kinh bộ định nghĩa :
1/ Sơ Thiền : khi lìa bỏ dục và ác pháp hành giả trú trong Sơ Thiền, gồm có cac’h thiền chi Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc. Trong trạng thái này “hành giả chan hòa, thấm nhập tràn đầy khắp thân thể một niềm vui lớn “.”. Kinh Bắc tông viết: “Ly sanh hỷ lạc” (đây là ly dục để từ bỏ dục giới vào sắc giới).
2/ Nhị Thiền : Khi hành giả tiếp tục lìa bỏ hai tâm sở Tầm và Tứ thì có được tình trạng yên lặng bên trong và được nhất tâm để có định, và đi vào Nhị Thiền. Lúc này chỉ còn ba thiền chi là Hỷ, Lạc và Nhất Tâm, và cảm thọ nổi bật là Hỷ, cho một trạng thái tâmvui mừng, và cảm thọ lạc, hạnh phúc tràn khắp thân thể.. Kinh Bắc tông viết ” Định sanh hỷ. lạc”.
3/ Tam Thiền: Thiền chi Hỷ chấm dứt, chỉ còn lại lạc và nhất tâm. Toàn thân chan hòa một trạng thái khinh an lạc, niềm vui sâu hơn ở Nhị Thiền. Kinh Bắc tông viết ” Ly hỷ diệu lạc”.
4/ Tứ Thiền : Hành giả lìa bỏ trạng thái Lạc (và cả khổ thọ), còn lại hai thiền chi là Xả và Nhất Tâm. Hành giả thấy thân tâm thanh tịnh, không còn vướng mắc với cảm thọ, không có lạc cũng không khổ thọ, vàở trong trạng thái tâm lý tỉnh giác.
Trong Tứ Sắc Thiền, năm thiền chỉ giảm dần khi hành giả đi qua “tầng” thiền cao hơn, thiền chi Nhất Tâm càng lúc càng mạnh hơn khi đạt tới Tứ Thiền.Trong các Vô sắc Định sau đây, phải rời bỏ hoàn toàn tâm thức ở mỗi tầng thiền để đạt tới tầng thiền kế tiếp.
IỊ Định (Samadhi) hay Vô Sắc Định
1/ Không Vô Biên Xứ : Từ Tứ Thiền, hành giả đã rời bỏ cảm thọ, không nhận thức, suy tư , liền khởi tưởng “không gian là vô biên”, cho đến khi nhuần nhuyễn thì chứng đượcĐịnh Không vô biên xứ.
2/ Thức Vô Biên Xứ: Từ bỏ không gian vô hạn, hành giả khởi tưởng “Thức là vô biên”, khi nhuần nhuyễn chứng được định Thức Vô Biên
3/ Vô Sở Hữu Xứ Định : Từ bỏ định trên, hành giả khởi tưởng ” không có vật gì cả” để chứng định Vô sở hữu xứ.
4/ Phi Tưởng Phi Phi Tưởng : Nếu tới đây, hành giả tác ý ” không có tưởng cũng không phải không có tưởng” thì sau một thời gian sẽ chứng được địn h Phi tưởng Phi phi tưởng.
Theo TT Thích Chơn Thiện thì hành giả không cần vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng, vì ở đó tâm tưởng rất nhỏ nhiệm rất khó hành thiền quán để đoạn tận Tham , và Vô Minh lâu hoặc. Pháp sư Ấn Thuận (Đài Loan) cũng chủ trương bỏ Phi tưởng Phi Phi Tưởng, và cho “Định tâm đã ở mức quá tế vi, không thể dựa vào nó mà tu phát chân Tuệ nữa”.
5/ Diệt Thọ Tưởng Định: Khi chứng nhập Định này thì hơi thở dứt và thọ tưởng cũng dứt. Tất cả lậu hoặc bị tiêu trừ, chánh trí phát khởi, chứng đắc Niết bàn.
Nguyễn Hòa

Một bản kinh Anapanasati Sutta được dịch ra chữ Hán rất sớm do An Thế Cao , thời Hậu Hán (Tam quốc), và đặt tên là An Ban Thủ Ý kinh. Khương Tăng Hội, nhà sư Việt Nam từ Giao Châu qua Đông Ngô của Tôn Quyền thời sau đó có viết lời tựa cho quyển kinh dịch . Bản kinh dịch này ngày nay không còn nữa, chỉ còn lại những lời chú giải in trong Đại Tạng và nội dung đó được gọi là kinh Đại An Ban Thủ Ý. Trong nội dung nhưng lời chú giải có mười sáu pháp quán niệm Hơi thở gần giống với kinh bản tiếng Palị
Khác với những đề mục quán tưởng khác, Anapanasati bao gồm cả hai phương pháp Chỉ Định (Samadhi) và Quán hay Minh sát Vipassana), và được dùng trong hai trường hợp. Trước hết, pháp quán niệm hơi thở này được dùng chung với các pháp tu tập Thiền Định khác như là phương thức cần thiết để có sự an tịnh cho cả thân và tâm. Kế đó, đây là đề mục quán tưởng duy nhất thích hợp cho những ai có nhiều vọng tưởng, vọng tình, khó kiềm chế, khắc phục. Và điều đáng kể nhất là pháp môn Quán Niệm Hơi Thở khi chỉ tập riêng cũng có thể đưa đến Định và đạt được tuệ giác.
Quán Niệm Hơi Thở có mười sáu giai đoạn, chia ra làm bốn phần, mỗi phần có bốn cách tập. Mục đích chung là xây dựng ý thức giác tỉnh , bước khởi đầu thiết yếu đểđạt tới tuệ giác, và bốn giai đoạn quán niệm là bốn lãnh vực giác tỉnh về thân thể, cảm thọ, tâm thức, và đốí tượng của tâm thức.
” Thở vào, biết là thở vào, thở ra, biết là thở ra”. “Thở vào dài hay ngắn , thì biết là thở vào dài hay ngắn ; thở ra dài hay ngắn thì biết thở ra dài hay ngắn.”.
Cách tập khởi đầu này liên hệ đến ý thức giác tỉnh về việc thở, giúp hơi thở và tâm trí lắng đọng, tĩnh lặng. Hơi thở càng lúc càng nhỏ, nhẹ, ngắn đi trong khi tâm trí cũng yên lắng hơn. Hành giả đặt chú tâm ở đầu mũi, và nhận biết hơi thở vào hay hơi thở ra, ngắn hay dàị Lần lần hơi thở trở nên rất êm nhẹ, có nhịp điệu đều dặn. Khi tâm trở nên yên lặng, thanh tịnh, hơi thở càng nhỏ nhiệm đi, và khi hành giả vào Tứ Sắc thiền thì hơi thở như mất hẳn.Sau đây là những chú giải trích trong luận Visuddhimaggạ
Cách Đếm Hơi Thở
Đếm hơi thở giúp người mới tập đạt được nhất tâm. Lúc bắt đầu tập khi hơi thở vào hay ra, đếm từ một đến năm, rồi sau đếm từ một đến mườị Cũng có cách đếm “một, một ” trong một hơi thở ra hay vào (để vọng tưởng khó len vào). Hoặc đếm thật nhanh từ một đến mười trong một lần thở ra hay thở vào, kể từ lúc hơi thở chạm tới mũị Hướng chú ý là lỗ mũi hay môi trên, nơi hơi thở chạm tới khi ra hay vàọ
Tợ Tướng Hiện Ra dưới Nhiều Dạng
Hành giả quán tưởng bốn cách quán chiếu trên trong một thời gian thì Tợ tướng (Patibhaga-nimitta) xuất hiện , và tiếp theo là các yếu tố của trạng thái Tứ Sắc Định. Thân tâm trở nên an tịnh. Vào lúc đó, thân thể cảm thấy nhẹ nh m như muốn bay lên. Từ lúc hơi thở lắng yên , tâm khởi lên và ghi nhận hơi thở nhỏ nhiệm như là đối tượng quán tưởng. Hơi thở trở thành hết sức mong manh đến nỗi hành giả như không nhận thấy, và tưởng là mình ngừng thở.. Tợ tướng của hơi thở xuất hiện vào lúc hơi thở nhỏ, nhẹ nhất. Anapanasati là đề mục quán tưởng tế vi và khó khăn đối với ai không có trí nhớ tốt và có trực giác nghèo nàn. Do đó nó đòi hỏi phải có ý thức giác tỉnh đầy đủ và sự nhận biết nhanh.
Hành Thiền như thế một thời gian thì tâm ảnh ( Uggala-nimitta) hiện rạ Hình dạng nó thay đổi tùy theo ngườị Với một số người nó có vẻ mềm như mảnh bông gòn, hay làn gió nhẹ mát. Với những người khác nó giống như ngôi sao, viên hồng ngọc hay ngọc trai tròn. Với người kia nó có vẻ cứng như cây gậy mũi nhọn. Có người cảm thấy nó như sợi dây dài, tràng hoa, hay cụm khóị Hay nó giống như mạng nhện, đám mây, hoa sen trắng, bánh xe hay mặt trời, vầng trăng. Theo thủ bản của Yogavacara, thì tâm ảnh này giống như nước có bọt, hay bọt sóng, hoặc giống làn sương khói bay trên lượn sóng lên xuống, hay giống mây trắng trên trờị Còn tợ tướng thì giống như cây quạt ngọc, hay tấm gương thủy tinh treo trên trời, hay là mặt trăng hiện khỏi đám mây, hoặc đàn cò trắng bay ngang qua đám mây đen. Tợ tướng r và tinh tuyền gấp trăm lần tâm ảnh.
Ba Vật thể Khác Nhau
Trong pháp quán niệm này có ba vật thể khác biệt, nhưng không tách rời nhau của cùng một đốí tượng quán chiếu : hơi thở ra , hơi thở vào, và Nimitta của chúng. Ba đốí tượng này cần nhận biết r ràng, phân biệt, thì mới dẫn tới Cân Định hay Định. Khi Nimitta xuất hiện, hành giả phải tập trung hết tâm ý vào nó, không đếm hơi thở nữa, cũng không theo d i hơi thở, chỉ giữ tâm trí trên hình ảnh hiện rạ Khi tăng năng lực quán chiếu, các triền cái sẽ bị tiêu trừ, phiền não của tâm bị chế ngự, ý thức giác tỉnh thành hình, và tâm thức tập trung lúc đó đang ở Cận Định. Khi đó, hành giả không nên để ý đến hình dạng hay màu sắc của hình ảnh (Nimitta), nhưng coi đó như là biểu tượng của Phong Đại trong hơi thở. Rồi từ đó, hành giả có thể đi vào Tứ Thiền.
Nguyễn Hòa

Thiền Minh Sát
Sau đây là vài đoạn trích trong bài viết của ngài Mahasi Saydaw, về trạng thái giống như Cận Định khi hành giả tiến xa trong việc hành Thiền Minh Sát Tuệ” Sau khi thực chứng tam tướng, hành giả không suy niệm lâu nữa, mà tiếp tục chú niệm đề mục thân tâm mà đã liên tục giới thiệu chúng. Như vậy ở thờiđiểm khi ngũ quyền – tín, tấn, niệm, định, tuệ – được quân bình hoàn toàn, chú tâm gia tăng dường như nó trở nên cao tột, và quá trình thân tâm được chú niệm cũng sanh khởi nhiều hơn. Trong lúc thở vào, phồng ở bụng tự nó xuất hiện liên tục nhanh chóng, và xẹp cũng trở nên nhanh chóng hơn một cách tương ứng. Sự liên tục nhanh chóng thì cũng r trong quá trình co và duỗị Những cử động nhẹ nhàng hành giả cảm thấy truyền khắp châu thân.Trong nhiều trường hợp, cảm giác kim châm và ngứa ngái xuất hiện liên tục nhanh chóng. Nói chung, đây là những cảm giác khó chịu mà phải cưu mang. Nếu hành giả cố chú niệm chúng bằng lợi thì có lẽ không thể tiến bộ bằng những kinh nghiệm thay đổi liên tục đó. Ở đây chú niệm phải tu tập bằng nhiều hình thức, nhưng có chánh niệm. Trong giai đoạn này hành giả không cần phải chú niệm đề mục tỉ mỉ sanh khởi nhanh chóng, mà phải chú niệm chúng chung chung. Nếu hành giả muốn đặt tên chúng thì tên tập hợp sẽ được đầy đủ hơn. Tiến trình thân tâm nhiều lúc còn nhanh hơn cái nháy mắt hoặc là tia chớp. Tuy nhiên, nếu đơn thuần tiếp tục chú niệm những tiến trình này, thì hành giả có thể nhận biết đầy đủ thân tâm khi chúng xảy rạ Chánh niệm trở nên mạnh mẽ. Do quả đó, chánh niệm dường như thể bám sát vào đề mục mà nó phát sinh. Đề mục dường như cũng rực sáng với tâm chánh niệm. Hành giả nhận thức thấu đáo mỗi đề mục r ràng và tỉ mỉ hơn.
Lại nữa, kết quả của tuệ quán, là một ánh sáng chói lọi sẽ xuất hiện đến hành giả. Lúc đó hành giả cũng phát sanh hỷ lạc, hiện tuong hỷ lạc là “da sởn gai ốc, nước mắt chảy xuống, rung rinh chân tay”. Hỷ lạc mang lại cho hành giả mt niềm vui và một sự hồi hộp lạ kỳ. Hành giả cảm thấy dường như đang đu đưạ Thậm chí còn hỏi lại mình không biết có bị choáng váng hay không. Vậy thì, nơi đó tâm an tịnh phát sinh và song song với tâm an tịnh thì lại xuất hiện tâm khinh an… lúc đi, đứng, nằm, ngồi, hành giả hoàn toàn cảm thấy dễ chịụ Cả hai thân tâm đều khinh an trong tư thế nhẹ nhàng, dễ chịu có thể chú tâm vào bất kỳ đề mục nào để lòng tham không còn gia tăng nữạ Hành giả đã khai thông được sự cứng rắn, nóng nảy, hay đau nhức. Tuệ giác thể nhập vào trong những đề mục bằng sự dễ chịụ Tâm trở nên vững chắc và ngay thẳng, và hành giả mong muốn thoát ly tất cả bất thiện pháp. Nhờ niềm tin mạnh mẽ, cho nên tâm vô cùng sáng suốt. Đôi khi lúc đó không còn đề mục nào để chú niệm cả, thời gian rất lâu, tâm vẫn còn an trụ, hành giả có thể khởi lên sự suy nghĩ như thế này: “Thật vậy, đức Phật là một bậc hoàn toàn giác ng. Chính xác hơn, tiến trình thân và tâm đều là vo thường, khổ não, vô ngã”. Trong khi chú niệm đề mục thiền, hành giả thực chứng được tam tướng đó. Hành giả muốn khuyên những người khác tu tập thiền quán, thì mình phải tự dứt bỏ sự lười biếng và hôn trầm; tinh tấn của hãnh giả không có xao lãng mà cũng không có căng thẳng quá. Đối với hành giả, lúc đó tâm xả phát sanh liên quan với tuệ giác. Sự an lạc vượt lên trên tất cả những kinh nghiệm cũ của hành giả. Đo đó hành giả muốn chia sẻ những kinh nghiệm và những cảm xúc của mình cho những người khác. Nơi đó sanh lên sự chấp thủ vào thiên nhiên huyền ảo kia đến nỗi hành giả dính mắc vào tuệ giác đó, tuệ giác đó thì lien với ánh sáng, chánh niệm và hỉ lạc. Hành giả trải qua tất cả những điều này như là hỉ lạc của thiền định.”
Điều đáng ghi nhận ở đây là các trạng thái hỷ, lạc, và phát ra ánh sáng. Trong sách Visuddhi magga có ghi khi hành giả hành Thiền Vipassana đạt được tuệ giác cao, thì cũng có được các trạng thái như : phát ra ánh sáng, trí tuệ, hỉ, an tịnh, lạc, kiên định, hưng phấn, ý thức giác tỉnh, tâm quân bình (xả) , và dục (ham muốn tăng thêm trí tuệ). Về phát ánh sáng, thì giống như hào quang, phát ra từ thân thể do ánh sáng của tuệ giác có được bên trong. Hành giả cũng đạt được ba trạng thái Định, trong đó có Không Tam Muội (Sunnata-samadhi) khi tâm hiểu biết được tánh Không của Ngã.
Nguyễn Hòa
(http://www.old. thuvienhoasen.org/Diễn đàn Phật pháp)

THỰC TẬP THIỀN MINH SÁT 
Hòa thượng Mahasi Sayadaw
Dịch Giả: Tỳ khưu Khánh Hỷ - Hiệu Đính: Tỳ khưu Kim Triệu
Lời Mở Đầu
Di nhiên chẳng ai muốn đau khổ và mọi người đều cố gắng tìm kiếm hạnh phúc. Khắp nơi trên thế giới nhân loại đang tìm đủ cách để ngăn ngừa hoặc làm vơi đi nỗi đau khổ và tạo an vui hạnh phúc. Tuy nhiên mục đích chính yếu của họ chỉ nhằm tạo hạnh phúc thể chất bằng phương tiện vật chất. Thật ra, hạnh phúc hay không đều do ở tâm của chúng ta. Vậy mà rất ít người nghĩ đến vấn đề phát triển tinh thần. Những người muốn rèn luyện tinh thần lại càng hiếm hoi hơn nữa.
Để thỏa mãn những nhu cầu vật chất người ta thường để tâm đến những việc tầm thường như tắm giặt sạch sẽ, ăn mặc gọn gàng. Họ quan tâm nhiều đến việc kiếm thức ăn, quần áo, nhà cửa. Tiến bộ khoa học đã giúp họ nhiều trong việc nâng cao đời sống vật chất: chẳng hạn những tiến bộ trong sự chuyên chở và truyền tin, những phát minh y học để ngừa bệnh và trị bệnh. Phải nhìn nhận những cố gắng ấy rất ư là quan trọng, nhưng chúng chỉ giúp bảo vệ và nuôi dưỡng cơ thể mà thôi. Những phát minh và những thành công đó không thể nào tiêu diệt hay giảm thiểu được nỗi khổ của tuổi già, bệnh tật, gia đình xáo trộn và khủng hoảng kinh tế.
Tóm lại, không thể nào thỏa mãn nguyện vọng con người bằng phương tiện vật chất. Chỉ có sự rèn luyện tinh thần mới có thể giúp con người vượt qua những nỗi đau khổ này. Bởi vậy phải tìm một phương cách hữu hiệu để rèn luyện, ổn định và thanh lọc tâm hồn. Phương cách này được tìm thấy trong MahaSatipatthana Sutta, một thời pháp mà đức Phật đã giảng dạy cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm. Đức Phật dạy:
"Đây là con đường duy nhất để thanh lọc tâm, chấm dứt lo âu, phiền muộn, tiêu diệt thân bệnh và tâm bệnh, đạt thánh đạo và chứng ngộ Niết Bàn. Đó là Tứ Niệm Xứ".
Giai Đoạn Chuẩn Bị
Nếu bạn thật sự thực tập thiền để đạt được tuệ giác giải thoát ngay trong kiếp hiện tại, bạn phải gạt bỏ mọi tư tưởng và hành vi thế tục trong thời gian hành thiền. Làm như thế là để trau dồi phẩm hạnh thanh cao. Đó là bước căn bản cho việc phát triển thiền. Bạn phải giữ mình trong sạch, đạo đức vì đạo đức là bước chính yếu để phát triển tuệ giác. Bạn phải giữ các giới luật của người phật tử tại gia đối với các vị xuất gia phải giữ gìn giới luật mình đã thọ. Trong khóa thiền tập nhiều ngày thiền sinh phải giữ tám giới (bát quan trai).
1. Không sát sanh 
2. Không trộm cắp 
3. Không hành dâm 
4. Không nói dối 
5. Không uống rượu và các chất say 
6. Không ăn sái giờ (quá ngọ không ăn) 
7. Không múa hát, thổi kèn đờn, trang điểm, thoa vật thơm, dồi phấn, đeo tràng hoa 
8. Không nằm ngồi nơi quá cao và xinh đẹp.
Một điều nữa là không được có lời nói hay hành động bất kính đối với những người đã có trình độ giác ngộ cao (các bậc thánh).
Theo truyền thống các thiền sư xưa thường khuyên bạn đặt lòng tin vào Đức Phật, vì như thế sẽ giúp bạn bớt hốt hoảng khi những hình ảnh bất thiện hoặc sợ hãi xuất hiện trong tâm bạn lúc bạn đang hành thiền. Trong lúc thiền tập bạn cũng cần có một thiền sư hướng dẫn để chỉ cho bạn biết một cách rõ ràng mình đang thiền như thế nào và kết quả đến đâu, cũng như để chỉ dẫn cho bạn khi cần thiết.
Mục đích chính và thành quả lớn lao của việc hành thiền là giúp bạn loại bỏ tham, sân, si - ba nguồn cội của mọi khổ đau và tội lỗi. Vậy bạn hãy nỗ lực tích cực hành thiền với quyết tâm loại bỏ tham, sân, si; có như thế việc hành thiền mới hoàn toàn thành công. Cách thực tập thiền quán trên căn bản Tứ Niệm Xứ (Satipatthana) này là phương pháp mà Đức Phật và chư thánh tăng đã hành trì để giác ngộ. Bạn hãy vui mừng bởi mình có cơ duyên thực hành loại thiền quí báu này.
Bốn điều bảo vệ hay quán tưởng sau đây cũng rất cần thiết cho bạn khi bạn bắt đầu vào khóa thiền tập. Bạn hãy suy tưởng đến Đức Phật, đến lòng từ ái, đến thân thể bất tịnh và đến sự chết:
1. Trước tiên hãy tỏ lòng tri ân kính ngưỡng Đức Phật bằng cách suy niệm đến những đức tánh thánh thiện của Ngài:
"Con đem hết lòng thành kính làm lễ Đức Thế Tôn, Ngài là đấng toàn giác, tỉnh thức, trí đức vẹn toàn, hiểu thấu đáo mọi sự, thầy của Trời và người, đấng an lành và đem lại sự an lành".

2. Sau đó hãy hướng lòng từ ái đến mọi chúng sanh, hãy hòa mình với tất cả mọi loài không mảy may phân biệt:
"Mong cho tôi thoát khỏi thù hận, bệnh tật và phiền muộn. Mong cho cha mẹ tôi, thầy tôi, bạn bè tôi cùng tất cả mọi người, mọi loài thoát khỏi thù hận, bệnh tật và phiền muộn. Cầu mong tất cả chúng sanh thoát khỏi khổ đau".
3. Hãy suy tưởng đến sự bất tịnh của thân thể, đó là sự luyến ái bất thiện mà phần đông thường mắc phải. Hãy chú ý đến tính cách bất tịnh, dơ dáy của dạ dày, ruột, đờm dãi, mủ, máu, để loại bỏ những tư tưởng luyến ái bám víu vào xác thân.
4. Suy tưởng đến tình trạng mỗi người đều tiến dần đến cái chết. Đấy là suy tưởng có lợi ích về phương diện tâm lý. Đức Phật thường nhấn mạnh rằng : sự sống thật bấp bênh, tạm bợ, nhưng cái chết là điều chắc chắn không thể tránh né. Mục tiêu cuối cùng của đời sống là cái chết. Tiến trình của cuộc sống gồm có : sanh ra, già đi, bệnh tật, khổ đau và cuối cùng là cái chết.
Lúc thực tập bạn có thể ngồi kiết già, hay bán già hoặc ngồi hai chân không chồng lên nhau. Nếu thấy ngồi dưới sàn nhà khó định tâm hay làm bạn khó chịu, bạn có thể ngồi trên ghế. Tóm lại, bạn có thể ngồi cách nào miễn thấy thoải mái là được.
1. Bài Tập Thứ Nhất
Hãy chú tâm vào bụng. Nên nhớ là chú tâm, chứ không phải chú mắt vào bụng. Chú tâm vào bụng bạn sẽ thấy được chuyển động phồng xẹp của bụng. Nếu không thấy rõ được chuyển động của bụng, bạn có thể đặt hai tay lên bụng để "cảm giác" sự phồng xẹp. Một lúc sau, bạn sẽ nhận rõ sự chuyển động vào ra của hơi thở. Bạn hãy ghi nhận sự phồng lên khi hít vào và xẹp xuống khi thở ra. Mọi chuyển động của bụng đều phải được ghi nhận. Từ bài tập này bạn biết được cách chuyển động của bụng. Bạn không cần để ý đến hình thức của bụng mà chỉ cần theo dõi cảm giác, sức ép do chuyển động của bụng tạo nên mà thôi.
Đối với những người mới tập thiền, đây là phương pháp rất có hiệu quả để phát triển khả năng chú ý, định tâm và tuệ giác. Càng thực tập lâu càng thấy sự chuyển động rõ ràng hơn. Khi tuệ giác phát triển trọn vẹn thì ta sẽ nhận thức được những diễn tiến liên tục của tiến trình tâm-sinh-lý qua mỗi giác quan. Vì là người sơ cơ hành thiền, sự chú ý và khả năng định tâm còn yếu nên bạn sẽ thấy khó giữ tâm trên những chuyển động phồng xẹp liên tục. Do đó bạn có thể nghĩ rằng: "Ta chẳng biết cách giữ tâm trên mọi chuyển động phồng xẹp này". Bạn cần nhớ rõ đây là một tiến trình học hỏi vì vậy hãy yên tâm tiếp tục hành thiền. Chuyển động phồng xẹp của bụng luôn luôn hiện hữu, vì vậy ta không cần tìm kiếm chúng. Thực ra, những thiền sinh mới chỉ cần đơn thuần chú tâm trên hai chuyển động phồng xẹp mà thôi nên sự thực tập cũng không khó khăn lắm. Bạn hãy tiếp tục thực tập bài tập số một này bằng cách chú tâm vào chuyển động phồng xẹp. Đừng bao giờ lập đi lập lại ra lời những chữ phồng xẹp, chỉ cần niệm thầm mà thôi. Niệm thầm sẽ giúp quí bạn dễ chú tâm vào đề mục. Nhưng nếu niệm thầm cản trở sự chú tâm của bạn, thì bạn chỉ ghi nhận sự chuyển động của bụng mà không cần niệm thầm cũng được. Nên thở đều đặn tự nhiên tránh thở dài hay ngắn quá. Nhiều thiền sinh muốn thấy rõ sự phồng xẹp nên hay thở dài hoặc thở nhanh, làm như thế sẽ khiến bạn mệt.
2. Bài Tập Thứ Hai
Trong khi thực tập quan sát sự phồng xẹp của bụng những tư tưởng khác sẽ phát sinh làm bạn quên mất sự chú tâm. Tư tưởng, ham muốn, ý nghĩ, tưởng tượng, v.v... sẽ xuất hiện giữa những "phồng xẹp". Bạn không nên bỏ qua những phóng tâm hay vọng tưởng này mà phải ghi nhận từng phóng tâm một khi chúng phát sinh.
Khi tâm bạn tưởng tượng điều gì, bạn phải biết mình đang tưởng tượng và ghi nhận: "tưởng-tượng, tưởng-tượng, tưởng-tượng". Khi bạn chỉ đơn thuần nghĩ đến điều gì phải ghi nhận: "nghĩ, nghĩ, nghĩ". Khi bạn suy gẫm, ghi nhận: "suy-gẫm, suy-gẫm, suy-gẫm". Khi bạn có dự định làm điều gì hãy ghi nhận: "dự-định, dự-định, dự-định". Khi tâm bạn đi lang bạc không để ý đến phồng xẹp hãy ghi nhận: "phóng-tâm, phóng-tâm, phóng-tâm". Khi tưởng tượng hay đang đi đ?n một nơi nào phải ghi nhận: "đi, đi, đi". Khi đến thì ghi nhận: "đến, đến, đến". Khi nghĩ đến gặp người nào đó thì ghi nhận: "gặp, gặp, gặp". Khi nghĩ đến nói chuyện với ai thì ghi nhận: "nói, nói, nói". Khi bàn cãi thì ghi nhận: "bàn-cãi, bàn-cãi, bàn- cãi". Khi thấy hình ảnh màu sắc ghi nhận: "thấy, thấy, thấy". Mỗi một khi tâm thấy gì, nghĩ gì đều phải ghi nhận cho đến khi chúng biến mất. Sau khi chúng biến mất ta lại chú tâm vào sự phồng xẹp. Phải chú tâm hành trì đừng chểnh mãng. Khi định nuốt nước bọt phải ghi nhận: "định, định, định". Khi nuốt phải ghi nhận: "nuốt, nuốt, nuốt". Muốn khạc nhổ, ghi nhận: "muốn, muốn, muốn" rồi lại trở về sự phồng xẹp. Nếu bạn muốn khum cổ ghi nhận: "muốn, muốn, muốn"; trong khi khum cổ ghi nhận: "khum, khum, khum". Khi bạn định ngửng cổ lên, ghi nhận: "định, định, định". Khi ngửng cổ lên ghi nhận: "ngửng, ngửng, ngửng". Tác động ngửng cổ hay khum cổ phải làm từ từ.
Sau khi đã chú tâm ghi nhận mỗi một động tác đó, ta lại trở về với sự phồng xẹp.
3. Bài Tập Thứ Ba
Vì phải liên tục thiền trong một khoảng thời gian khá dài với một tư thế ngồi hay nằm nên bạn sẽ cảm thấy mệt và thấy mỏi tay chân. Trong trường hợp này, bạn hãy chú tâm vào nơi mỏi mệt và ghi nhận: "mỏi-mệt, mỏi-mệt, mỏi-mệt". Hãy ghi nhận một cách tự nhiên, không mau quá cũng không chậm quá. Cảm giác mệt mỏi sẽ dần dần giảm đi và cuối cùng hết hẳn. Nếu sự mệt mỏi kéo dài đến độ không chịu đựng nổi, lúc bấy giờ bạn hãy thay đổi tư thế. Tuy nhiên đừng quên ghi nhận "muốn, muốn, muốn" trước khi thay đổi tư thế. Mỗi một chi tiết chuyển động nhỏ đều phải được ghi nhận một cách trung thực và thứ tự.
Nếu dự định đưa tay hay chân lên hãy ghi nhận: "dự-định, dự-định, dự-định" trong khi đưa tay hay chân lên thì ghi nhận: "đưa-lên, đưa-lên, đưa-lên". Duỗi tay, chân ra; ghi nhận: "duỗi, duỗi, duỗi". Khi đặt tay xuống, ghi nhận: "đặt, đặt, đặt". Khi tay hay chân tiếp xúc nhau ghi nhận: "tiếp-xúc, tiếp-xúc, tiếp-xúc". Hãy thực hiện mọi động tác thật chậm để dễ ghi nhận. Ngay khi bạn đã ở trong tư thế mới, bạn phải tiếp tục chú tâm vào sự phồng xẹp của bụng ngay. Nếu thấy tư thế mới không thoải mái, muốn đổi tư thế thì cũng phải ghi nhớ như trên.
Nếu thấy ngứa một chỗ nào đó, chú tâm vào chỗ ngứa và ghi nhận: "ngứa, ngứa, ngứa". Sự ghi nhận phải tự nhiên đừng quá mau cũng đừng quá chậm. Khi cảm giác ngứa biến mất lại trở về với sự phồng xẹp. Nếu ngứa quá không chịu được muốn gãi, ghi nhận: "muốn, muốn, muốn", rồi lại từ từ đưa tay lên, ghi nhận: "đưa-lên, đưa-lên, đưa-lên". Khi tay đụng chỗ ngứa, ghi nhận: "đụng, đụng, đụng". Khi gãi nhè nhẹ vào chỗ ngứa, ghi nhận: "gãi, gãi, gãi". Khi đã ngứa, không muốn gãi nữa và muốn đưa tay về, hãy ghi nhận: "đưa-về, đưa- về, đưa-về". Khi tay trở về chỗ cũ và tiếp xúc với tay hay chân, ghi nhận: "đụng, đụng, đụng". Rồi tiếp tục quan sát s? phồng xẹp của bụng.
Nếu thấy đau hay khó chịu, hãy chú tâm đến chỗ đau hay khó chịu đó. Hãy ghi nhận một cách rõ ràng và chính xác mọi cảm giác phát sinh, chẳng hạn, đau nhức, đè nặng, mệt, tê, cứng, v.v... Cần nhớ là những sự ghi nhận này phải tự nhiên; đừng vội vã quá cũng đừng trễ quá. Cơn đau, nhức có thể chấm dứt hay gia tăng. Khi cơn đau gia tăng cũng đừng hốt hoảng hay lo sợ gì cả mà chỉ cần tiếp tục thiền và một lát sau cơn đau sẽ lắng đi. Nếu cơn đau nhức vẫn kéo dài không thể chịu đựng nổi thì hãy bỏ qua sự đau nhức và chú tâm vào sự phồng xẹp.
Khi thiền của bạn tiến triển, bạn sẽ có những cảm giác đau đớn khó chịu. Bạn có cảm giác khó thở, nghèn nghẹn, có khi như bị kim chích, thấy nhột nhạt như có côn trùng bò trên thân mình. Bạn cũng có thể thấy ngứa ngáy, đau đớn như bị con gì cắn, bị rét run. Khi bạn ngưng thiền thì những cảm giác trên biến mất ngay. Khi bạn tiếp tục thiền trở lại và cứ mỗi khi bắt đầu định tâm thì những cảm giác khó chịu trên lại xuất hiện. Những cảm giác này không có gì đáng lo ngại. Đây không phải là dấu hiệu của bệnh hoạn mà chỉ là những cảm giác bình thường vẫn hiện diện trong cơ thể ta nhưng chúng bị che lấp vì tâm ta đang mãi bận rộn với những đối tượng trước mắt. Khi thiền tiến triển, tâm ta trở nên bén nhọn, tinh tế nên dễ dàng nhận thấy những cảm giác này, khi mức độ thiền tiến triển hơn bạn sẽ vượt qua tất cả những chướng ngại này. Nếu tiếp tục và kiên trì thiền bạn sẽ không còn gặp những cảm giác khó chịu này nữa. Nếu bạn thiếu can đảm, thiếu quyết tâm và gián đoạn một thời gian thì bạn lại sẽ chạm trán với chúng lần nữa mỗi khi thiền của bạn tiến triển. Nhưng nếu gặp những cảm giác khó chịu này mà bạn vẫn quyết tâm và kiên trì tiếp tục hành thiền thì bạn sẽ chinh phục được chúng và bạn sẽ không bao giờ gặp những cảm giác khó chịu này nữa trong lúc hành thiền.
Nếu bạn dự định xoay mình hãy ghi nhận: "dự-định, dự-định, dự-định". Khi đang xoay ghi nhận: "xoay, xoay, xoay". Nhiều khi trong lúc đang hành thiền, bạn thấy thân thể mình lắc lư từ trước ra sau thì cũng đừng sợ hãi, đừng thích thú hay mong muốn tiếp tục lắc lư. Sự lắc lư sẽ chấm dứt nếu bạn chú tâm vào nó và tiếp tục ghi nhận: "lắc-lư, lắc-lư, lắc-lư" cho đến khi hết lắc lư. Nếu đã ghi nhận nhiều lần mà thân hình vẫn còn lắc lư bạn hãy dựa vào tường hay nằm xuống một lát và vẫn tiếp tục hành thiền. Khi thân bị lay chuyển hay run rẩy cũng chú tâm ghi nhận như trên. Khi thiền tiến triển đôi khi bạn cũng sẽ cảm thấy rờn rợn run lên hoặc ớn lạnh ở xương sống hay toàn thân. Đó là trạng thái phỉ lạc, một thành quả đương nhiên khi thiền được tiến triển tốt đẹp. Khi tâm an trụ trong thiền thì bạn rất dễ bị giật mình bởi những tiếng động nhỏ. Lý do là tâm của bạn bây giờ rất bén nhạy trước mọi đối tượng của giác quan.
Trong lúc thiền nếu bạn cảm thấy khát nước, hãy ghi nhận cảm giác: "khát, khát, khát". Khi muốn đứng dậy, ghi nhận: "muốn, muốn, muốn" và chú tâm ghi nhận mỗi một tác động chuẩn bị đứng dậy, rồi chú tâm vào tác động đứng và ghi nhận: "đứng, đứng, đứng". Sau khi đứng dậy mắt bạn nhìn về phía có nước, ghi nhận: "nhìn, nhìn, nhìn". Khi muốn đi, ghi nhận: "muốn, muốn, muốn". Bắt đầu bước từng bước, ghi nhận: "đi, đi, đi" hay "trái, phải". Bạn phải tỉnh thức trong mọi bước đi từ lúc bắt đầu đi cho tới khi đứng lại. Khi đi tản bộ hoặc thiền hành bạn cũng phải theo những nguyên tắc ghi nhận như trên. Hãy cố gắng ghi nhận những bước chân qua hai tác động: "dở, đạp", "dở, đạp". Khi bạn đã thuần thục với cách này, hãy chú tâm ghi nhận ba tác động: "dở, bước, đạp", "dở, bước, đạp".
Khi bạn thấy hoặc đi đến chỗ để nước phải ghi nhận: "thấy, thấy, thấy" hay "nhìn, nhìn, nhìn". 
Khi dừng chân, ghi nhận: "dừng, dừng, dừng". 
Khi đưa tay ra, ghi nhận: "đưa, đưa, đưa". 
Khi tay đụng vào chén, ghi nhận: "đụng, đụng, đụng". 
Khi cầm chén, ghi nhận: "cầm, cầm, cầm". 
Khi thọc tay vào lu, ghi nhận: "thọc, thọc, thọc". 
Khi đưa chén lên môi, ghi nhận: "đưa, đưa, đưa". 
Khi chén đụng vào môi, ghi nhận: "đụng, đụng, đụng". 
Khi cảm thấy mát, ghi nhận: "mát, mát, mát". 
Khi nuốt, ghi nhận: "nuốt, nuốt, nuốt". 
Khi để chén xuống ghi nhận: "để-xuống, để-xuống, để-xuống". 
Khi thu tay về, ghi nhận: "thu-về, thu-về, thu-về". 
Khi thòng tay xuống, ghi nhận: "thòng, thòng, thòng". 
Khi tay đụng vào đùi, ghi nhận: "đụng, đụng, đụng". 
Khi muốn quay lui, ghi nhận: "muốn, muốn, muốn". 
Khi quay lui, ghi nhận: "quay, quay, quay". 
Khi đi, ghi nhận: "đi, đi, đi". 
Khi đến nơi, muốn dừng lại, ghi nhận: "muốn, muốn, muốn". 
Khi dừng lại ghi nhận: "dừng, dừng, dừng".
Nếu đứng một thời gian lâu, thì hãy chú tâm vào sự phồng xẹp của bụng. Nhưng khi bạn muốn ngồi hãy ghi nhận: "muốn, muốn, muốn". Khi đi đến chỗ ngồi, phải ghi nhận: "đi, đi, đi". Đến chỗ ngồi, ghi nhận: "đến, đến, đến". Xoay người trước khi ngồi, ghi nhớ: "xoay, xoay, xoay". Ngồi xuống ghi nhận: "ngồi, ngồi, ngồi". Phải ngồi xuống chầm chậm và ghi nhận mọi chuyển động của sự ngồi. Bạn phải chú ý đến từng tác động một của tay chân khi ngồi. Ngồi xong lại tiếp tục theo dõi sự phồng xẹp của bụng.
Khi bạn muốn nằm, ghi nhận: "muốn, muốn, muốn"; rồi lại ghi mọi tác động của sự nằm: nghiêng người, chống tay, đặt đầu, duỗi chân, nằm... tất cả những động tác này phải làm chầm chậm. Lúc nằm xuống rồi lại tiếp tục theo dõi sự phồng xẹp. Trong khi nằm nếu cảm thấy đau nhức, mệt mỏi, ngứa ngáy... Đều phải ghi nhận. Ghi nhận mọi cảm giác, suy nghĩ, ý kiến, cân nhắc, suy xét và mọi tác động của tay chân và thân thể. Nếu thấy không còn cảm giác gì đặc biệt đáng ghi nhận thì hãy tiếp tục ghi nhận sự phồng xẹp. Khi buồn ngủ, ghi nhận: buồn ngủ. Nếu bạn có đủ năng lực tập trung trong thiền, bạn có thể vượt qua sự buồn ngủ và cảm thấy tươi tỉnh, lúc bấy giờ bạn hãy tiếp tục theo dõi sự phồng xẹp, nếu bạn không thắng được cơn buồn ngủ hãy tiếp tục niệm phồng xẹp cho đến khi ngủ. Giấc ngủ là sự liên tục của luồng hộ kiếp hay tiềm thức, giống như trường hợp của tâm lúc tái sanh hay của tâm lúc chết, cái tâm lúc này rất yếu ớt không thể nhận thức được gì cả... Khi bạn thức, tâm này tiếp tục xuất hiện giữa những lúc bạn nhìn, nghe, nếm, ngửi, xúc chạm và suy nghĩ. Nhưng tâm này xuất hiện rất yếu và không tồn tại lâu nên khó nhận thấy. Tâm này sẽ duy trì liên tục khi bạn ngủ. Khi bạn thức dậy, thì mọi tư tưởng và mọi đối tượng sẽ được nhận thức rõ ràng liền.
Vào lúc thức giấc, bạn phải hành thiền ngay. Là thiền sinh mới vì vậy bạn khó có thể tỉnh thức vào những giây phút đầu tiên lúc mới thức dậy. Nhưng bạn phải giác tỉnh ngay lúc bạn nhớ lại rằng mình đang hành thiền. Chẳng hạn lúc thức dậy,bạn nghĩ tưởng đến điều gì thì phải tỉnh thức mà ghi nhận ngay: "nghĩ-tưởng, nghĩ-tưởng, nghĩ-tưởng". Rồi tiếp tục với phồng xẹp. Khi thức dậy bạn phải chú tâm đến những chi tiết của hoạt động cơ thể. Mọi tác động của tay chân và thân thể phải được ghi nhận một cách tỉnh thức. Lúc thức dậy bạn có nghĩ rằng bây giờ là mấy giờ không? Nếu nghĩ đến giờ thì phải ghi nhận: "nghĩ, nghĩ, nghĩ". Bạn chuẩn bị rời khỏi giường ngủ hãy ghi nhận chuẩn bị. Khi từ từ ngồi dậy phải ghi nhận: ngồi dậy. Lúc đang ở tư thế ngồi, ghi nhận: "ngồi, ngồi, ngồi". Nếu còn ngồi ở giường một lúc lâu mới đứng dậy đi thì phải chú tâm đến phồng xẹp, tiếp theo đó. Lúc rửa mặt hay tắm, cũng phải để tâm ghi nhận mọi chi tiết; chẳng hạn, nhìn, ngắm, duỗi, cầm, nắm, ấm, lạnh, chà xát, v.v... Lúc trang điểm, lúc làm giường, lúc đóng cửa, cầm nắm vật gì đều phải chú tâm ghi nhận theo thứ tự.
Bạn cũng chú ý từng tác động một trong lúc ăn:
Khi nhìn thức ăn ghi nhận: "nhìn, nhìn, nhìn". 
Khi múc thức ăn ghi nhận: "múc, múc, múc". 
Khi đưa thức ăn lên miệng ghi nhận: "đưa, đưa,đưa". 
Khi thức ăn đụng môi, ghi nhận: "đụng, đụng, đụng". 
Khi thức ăn vào đến miệng, ghi nhận: "vào, vào, vào". 
Khi miệng ngậm lại, ghi nhận: "ngậm, ngậm, ngậm". 
Khi bỏ tay xuống, ghi nhận: "bỏ xuống, bỏ xuống, bỏ xuống". 
Khi tay đụng dĩa, ghi nhận: "đụng, đụng, đụng". 
Khi nhai ghi nhận: "nhai, nhai, nhai". 
Khi biết mùi vị ghi nhận: "biết, biết, biết". 
Khi nuốt, ghi nhận: "nuốt, nuốt, nuốt". 
Khi thực phẩm vào trong cuống họng chạm vào cuống họng, ghi nhận: "đụng, đụng, đụng".
Hãy chú tâm theo dõi mỗi khi bạn múc một muỗng cơm cho đến khi xong bữa ăn. Lúc mới thực hành sẽ có rất nhiều thiếu sót. Đừng ngại điều đó, sau một thời gian kiên trì tập luyện, sự thiếu sót ghi nhận sẽ giảm đi. Khi mức thiền tập của bạn tiến triển đến mức độ cao hơn bạn sẽ còn ghi nhận được thêm nhiều chi tiết hơn những điều đã đề cập ở đây.
Bài Tập Thiền Hành Căn Bản
Giữa hai lần thiền tọa là khoảng thời gian từ bốn mươi đến chín mươi phút để thiền hành. Thiền hành xen kẻ giữa thiền tọa để quân bình năng lực và những yếu tố của sự định tâm, đồng thời để tránh buồn ngủ. Bạn có thể thiền hành trong phòng hay ngoài sân. Lúc thiền hành bạn nên đi chậm hơn lúc bình thường và đi một cách tự nhiên. Trong lúc thiền hành bạn phải chú tâm vào sự chuyển động của chân. Bạn phải chú tâm khi bàn chân phải (mặt) bắt đầu nhất lên khỏi mặt đất, ghi nhận: dở; Khi đưa chân tới ghi nhận: bước; khi chân đặt xuống đất, ghi nhận: đạp. Chân trái cũng làm như thế...
Cũng như lúc ngồi thiền; khi đi, mọi phóng tâm hay cảm giác phải được ghi nhận. Chẳng hạn chợt nhìn một vật gì đó trong khi bạn đang đi hãy ghi nhận tức thì: "nhìn, nhìn, nhìn", rồi trở về với những chuyển động của chân. Mặc dầu trong khi đi những vật bạn nhìn thấy không liên quan gì đến thiền hành nhưng nếu bạn vô tình để tâm đến nó thì phải ghi nhận ngay: "nhìn, nhìn, nhìn".
Khi đi đến mức cuối của đoạn đường kinh hành dĩ nhiên bạn phải trở bước để đi ngược trở lại; lúc còn vài bước đến bước cuối cùng đoạn đường, bạn phải ghi nhận: "muốn quay, muốn quay, muốn quay". Ý định muốn quay có thể khó ghi nhận lúc ban đầu nhưng khi thiền của bạn tiến triển, bạn sẽ thấy dễ dàng. Sau khi ghi nhận ý định bạn phải ghi nhận tất cả chi tiết của tư tưởng và tác động liên quan đến việc quay.... ở bước cuối của con đường, bạn bắt đầu quay mình, phải ghi nhận: "quay, quay, quay", khi chân chuyển động phải kịp thời ghi nhận dở... bước... đạp, v.v... Trong lúc quay thường vì sự cám dỗ của bên ngoài nên bạn có ý định muốn nhìn xem chung quanh có cái gì lạ không, phải ghi nhận ngay: "dự-định, dự-định, dự-định" hay "muốn, muốn, muốn", rồi lại chú tâm đến bước chân.
Thông thường đối với những thiền sinh mới, chú tâm đến ba giai đoạn dở, bước và đạp rất có hiệu quả. Tuy nhiên, tùy theo khả năng của từng người, thiền sư có thể khuyên họ nên chú ý ít hay nhiều giai đoạn hơn. Nhiều lúc thấy sự đi chậm bất tiện, nhất là lúc đi ra ngoài khu vực hành thiền bạn có thể đi nhanh hơn và ghi nhận: trái, phải mỗi khi chân trái hay chân phải đặt xuống đất. Ghi nhận nhiều hay ít giai đoạn không quan trọng, điều cốt yếu là bạn có chú tâm tỉnh thức trong từng bước đi hay không?
Thiền Mức Cao Hơn
Sau một thời gian hành thiền, định lực của bạn phát triển và bạn đã dễ dàng theo dõi sự phồng xẹp của bụng, lúc bấy giờ bạn sẽ nhận thấy có một thời gian, hay khoảng hở giữa hai giai đoạn phồng xẹp. Nếu bạn đang ngồi thiền bạn hãy ghi nhận: "phồng, xẹp, ngồi". Khi ghi nhận ngồi, bạn hãy chú tâm vào phần trên của thân. Khi bạn đang nằm thiền hãy ghi nhận: "phồng xẹp, nằm".
Nếu bạn thấy có khoảng thời gian hở giữa phồng, xẹp, và xẹp, phồng, bạn hãy ghi nhận: "phồng, ngồi, xẹp, ngồi". Nếu bạn đang nằm hãy ghi nhận: "phồng, nằm, xẹp, nằm". Nếu thực hành một lát mà thấy sự ghi nhận ba hay bốn giai đoạn như trên không dễ dàng đối với bạn, hãy trở về với hai giai đoạn phồng, xẹp.
Trong khi chú tâm theo dõi chuyển động của cơ thể, bạn không cần phải chú ý đến đối tượng thấy và nghe. Khi bạn có khả năng chú tâm vào chuyển động phồng xẹp thì bạn cũng có khả năng chú tâm vào đối tượng nghe và thấy. Tuy nhiên, khi chú ý nhìn một vật gì đó thì bạn phải đồng thời ghi nhận ba lần: "thấy, thấy, thấy" sau đó trở về với sự chuyển động của bụng. Giả sử có một người nào đó đi vào trong tầm nhìn của bạn, bạn để ý thấy thì phải ghi nhận: thấy hai hay ba lần, rồi trở về với sự phồng xẹp. Bạn có nghe tiếng nói không? Bạn có lắng nghe không? Nếu bạn nghe hay lắng nghe thì phải ghi nhận: "nghe, nghe, nghe" hay "lắng-nghe, lắng-nghe, lắng-nghe"; sau đó trở về với sự phồng xẹp. Giả sử bạn nghe những tiếng động lớn như tiếng chó sủa, nói chuyện to, tiếng hát bạn phải tức khắc ghi nhận hai hay ba lần: nghe, rồi trở về với bài tập phồng, xẹp. Nếu bạn quên không ghi nhận khi đang phóng tâm vào sự nghe, điều này có thể khiến bạn suy tưởng hay chạy theo chúng mà quên chú ý vào sự phồng xẹp. Lúc bấy giờ sự phồng xẹp sẽ trở nên yếu đi hay không phân biệt được rõ ràng. Gặp những trường hợp bạn bị lôi cuốn bởi những phiền não chập chồng như thế, bạn hãy ghi nhận hai hay ba lần: "suy-tưởng, suy-tưởng, suy-tưởng" rồi trở về với sự phồng xẹp. Nếu quên ghi nhận những chuyển động của cơ thể, tay chân, v.v.. thì phải ghi nhận: "quên, quên, quên" rồi trở về với sự chuyển động của bụng. Bạn có thể cảm thấy lúc bấy giờ hơi thở sẽ chậm lại hay chuyển động phồng xẹp không rõ ràng. Nếu điều đó xảy ra và lúc ấy bạn đang ngồi thì hãy chú tâm ghi nhận: ngồi, đụng. Nếu lúc bấy giờ đang nằm hãy ghi nhận nằm, đụng. Khi ghi nhận đụng, không phải bạn chỉ chú tâm vào một điểm của cơ thể đang tiếp xúc, mà phải chú tâm vào nhiều điểm kế tiếp nhau. Có nhiều chỗ đụng; ít nhất sáu hay bảy chỗ bạn phải chú tâm đến. Một trong những điểm đó là: đùi, đầu gối, hai tay chạm nhau, hai chân đụng nhau, hai ngón cái đụng nhau, chớp mắt, lưỡi đụng miệng, môi chạm nhau.
4. Bài Tập Thứ Tư
Cho đến bây giờ bạn đã hành thiền được nhiều giờ rồi. Bạn có thể bắt đầu cảm thấy làm biếng khi nghĩ rằng mình chưa tiến bộ được bao nhiêu. Đừng bỏ dở, hãy tiếp tục ghi nhận: "làm biếng, làm biếng, làm biếng".
Trước khi thiền của bạn đủ sức mạnh để phát triển khả năng chú ý, định tâm và tuệ giác, bạn có thể nghi ngờ không biết cách thức hành thiền như thế này có đúng, có hữu ích không. Gặp trường hợp này hãy ghi nhận: "nghi-ngờ, nghi-ngờ, nghi-ngờ". Bạn có ao ước hay mong muốn đạt được thành quả tốt trong thiền không? Nếu bạn có tư tưởng như thế thì hãy ghi nhận: "ao ước, ao ước, ao ước" hay "mong muốn, mong muốn, mong muốn". Bạn có suy nghĩ xét lại cách thức thực tập để bạn đạt được mức độ này không? Nếu có, bạn hãy ghi nhận: "xét lại, xét lại, xét lại". Có trường hợp nào bạn xem xét đối tượng thiền và phân vân không biết đó là tâm hay vật chất không? Nếu có, bạn hãy ghi nhận: "xem xét, xem xét, xem xét". Có khi nào bạn tiếc nuối vì mình không đạt được sự tiến bộ nào không? Nếu có, bạn hãy chú tâm ghi nhận cảm giác: "tiếc nuối, tiếc nuối, tiếc nuối".
Ngược lại, bạn có cảm thấy sung sướng khi mức độ thiền của bạn tiến triển hay không? Nếu có, bạn hãy ghi nhận: "sung sướng, sung sướng, sung sướng". Đấy là cách thức bạn ghi nhận mỗi một trạng thái của tâm hồn, nếu không có những tư tưởng hay quan niệm được ghi nhận thì bạn hãy trở về với sự phồng xẹp.
Trong một khóa hành thiền tích cực thì thời gian hành thiền bắt đầu từ lúc thức dậy cho đến khi đi ngủ. Bạn cần nhớ là phải luôn luôn thực hành hoặc bài tập căn bản, hoặc là thực hành sự chú tâm liên tiếp suốt ngày cho đến đêm, nếu bạn chưa buồn ngủ. Chẳng có nghỉ ngơi phút nào. Khi thiền của bạn đạt được mức tiến bộ cao thì bạn sẽ không còn cảm thấy buồn ngủ mặc dù bạn phải hành thiền rất nhiều giờ; lúc bấy giờ bạn có thể tiếp tục thiền cả ngày lẫn đêm.
Tóm lại trong thời gian hành thiền, bạn phải để tâm ghi nhận tất cả những trạng thái của tâm, dù đó là trạng thái tốt hay xấu; bạn cũng phải chú tâm đến những sự chuyển động của cơ thể, dù đó là những chuyển động lớn hay nhỏ; bạn phải chú tâm đến mỗi một cảm giác, dầu cảm giác ấy dễ chịu hay khó chịu. Trong suốt thời gian hành thiền nếu không có những gì đặc biệt xảy ra khiến bạn phải ghi nhận, thì hãy chú tâm vào sự phồng xẹp của bụng. Nếu bạn đi làm một việc gì đó, chẳng hạn, đi uống nước, bạn phải chú ý đến những tác động cần thiết của sự đi, bạn phải chú tâm tỉnh thức ghi nhận từng bước đi một, chẳng hạn: đi, đi, hay trái, phải. Lúc đến nơi bạn hãy niệm: đ?ng, cầm, nắm, uống v.v... Nhưng khi bạn thực tập thiền hành bạn phải chú ý đến ba giai đoạn của bước đi: dở, bước, đạp. Thiền sinh phải nỗ lực tập luyện suốt ngày đêm mới có thể sớm khai triển tâm định đến tuệ giác thứ tư (tuệ biết được sự sinh diệt) và từ đó đạt đến những tuệ giác cao hơn.
Tathagata Meditation Center 
(Như Lai Thiền viện) 
1215 Lucretia Avenue 
San Jose, CA 95122, USA

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.