bài viết trong chuyên mục "Thành Đạo"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thành Đạo. Hiển thị tất cả bài đăng

SỰ KIỆN THÀNH ĐẠO CỦA ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI

Thích Giác Nguyên
phatthanhdaoKhi Thái tử Sĩ-đạt-ta từ bỏ hoàng cung giữa đêm khuya, vượt thành, cắt tóc xuất gia, khoác áo sa-môn, trải qua những tháng năm dài lên đường tầm sư học đạo. Đầu tiên ngài đến với vị đạo sĩ thời danh là Alàràma Kàlàma. Không bao lâu, Ngài đã thâm nhập những áo nghĩa của thầy và thực tập thiền định đến cảnh giới Vô sở hữu xứ (Akincannayatana) là từng định thứ ba của cõi trời Vô sở hữu. Đây là dạng an định bằng một kỹ thuật trực giác, hay còn gọi là Thiền Cảm giác; còn định còn an lạc, hết định thì trở lại trạng thái đời thường. Không chứng ngộ được chân lý tối hậu về sự nhàm chán, lìa bỏ luyến ái vô minh, chấm dứt mọi đau khổ. Cũng như sự tỉnh thức mọi lúc mọi nơi để đạt đến Niết bàn tịch tịnh.
Chính vì thế Ngài từ giã đạo sĩ ra đi tìm tới thọ giáo với một danh sư khác tên Uất-đầu-lam-phất (Uddaka Ràmaputta), cũng là thầy buổi đầu của Tôn giả Xá-lợi-phất. Trải qua thời gian không đầy một tuần, Ngài đã thấu triệt giáo lý của thầy và đạt đến tầng định thứ tư cũng còn gọi đệ bát thiền của cõi trời phi tưởng, phi phi tưởng. Nơi đó không còn tri giác (sanna) mà cũng không có không tri giác (N’eva sanna N’àssan-nàyatana). Đạt đến trạng thái này, siêu vượt tam giới (Dục, Sắc và Vô sắc). Tâm chìm lắng trong cảnh giới chơn không trơ lặng, không thể nói là có tâm hay không tâm.
Đây là loại thiền cao nhất vào thời bấy giờ không ai hơn được. Nhưng đối với Ngài đó cũng chưa phải là mục tiêu cứu cánh. Mặc dù Ngài đã hoàn toàn chế ngự được tâm mình, như lấy gạch đè cỏ cho héo úa chết khô, nhưng gốc rễ phiền não sanh tử vẫn còn; Một khi nước ái dục tưới vào thì chúng lại hiển hiện mọc lên xanh tốt. Do đó không làm sao vượt qua sanh tử, giải thoát hoàn toàn để không còn dính mắc khổ ách trầm luân. Vì vậy không làm Ngài thỏa mãn trong cuộc truy nguyên sanh tử, thấu đạt chơn lý. Chính vị danh sư này khi qua đời được sanh lên thiên giới và theo truyền thuyết, sau khi hưởng hết phước trời, ông lại bị đọa làm con trùng ở trong yếm trâu. Ngài nhận thấy rằng không ai có đủ năng lực để dẫn dắt Ngài thành tựu mục tiêu cứu cánh, thoát khỏi vòng vô minh sanh tử. Từ đó Ngài không tìm cầu, vay mượn bên ngoài nữa và bắt đầu nghĩ ra phương thức trải nghiệm khác.
Sa môn Cồ Đàm tìm đến núi rừng Dungsiri, với nhiều cây xanh có gai, phủ đầy cát trắng. Tại đây nhiều đạo sĩ thực hành các lối tu khổ hạnh. Có người chỉ đứng một chân, hoặc treo mình trên cây chúc đầu xuống đất; có người lấy gậy tự đập vào thân thể, hoặc vùi mình trong cát nóng; có người chỉ uống nước, ăn hoa quả trong rừng, tu tập yoga thiền định v.v... Sở dĩ họ làm như thế, nhằm chế ngự sự thèm khát dục vọng và các cảm thụ của thân xác, để tập trung tinh thần, hòa nhập tâm linh vào đại thể Phạm thiên.
Ngài quanh quẩn trong khu rừng già bên cạnh làng Uruvela, quê hương của nàng mục nữ Sujàta, tại đây Sa-môn Cồ Đàm gặp năm anh em A Nhã Kiều Trần Như (Ajnata Kaudinya). Có thuyết cho đây là những người trong hoàng tộc mà vua Tịnh Phạn phái đi để tìm Ngài, sau đó họ ở lại tu chung với NgàiHọ cùng Ngài thành lập một nhóm tu khổ hạnh riêng biệt, mỗi ngày chỉ ăn vài hạt mè, hoặc uống chút nước, khiến còn da bọc xương, mà trong kinh dẫn là nếu lấy tay sờ vào bụng thì đụng cả những đốt xương sống phía sau lưng.
Một hôm, Ngài định xuống sông tắm gội, nhưng vì quá kiệt sức, chân bước không vững, Ngài ngã quỵ xuống đất ngất xỉu, nằm bất động bên bờ. Từ xa, nàng Mục nữ Sujàta trông thấy sanh lòng cảm kính, bèn vội đến mở lấy túi da đựng sữa đề hồ rót vào miệng Ngài. Sữa theo hơi thở từ từ trôi vào cổ họng, chân tay Ngài dần dần lay chuyển. Ngài vẳng nghe bên tai tiếng đàn lúc nhặt lúc khoan, khi trầm khi bổng, phát ra những tiết tấu thanh tao dìu dặt mỗi lúc một gần, khiến Ngài hồi tỉnh. Thì ra tiếng đàn của một ông lão hành khất với đôi mắt mù lòa qua lại bến sông kiếm tiền độ nhựt. Ngài bèn hỏi ông lão:
– Làm sao mà ông khảy lên được những tiếng đàn tuyệt vời như thế?
Ông lão đáp: “Người chơi đàn phải biết quy luật âm điệu, không lên dây căng quá, hoặc chùn quá. Nếu căng quá đàn sẽ đứt dây, chùng quá sẽ lạc điệu. Chỉ nên canh dây vừa phải thì mới phát ra những âm thanh bổng trầm dìu dặt.”
Nghe xong điều này, Ngài chợt nhận ra rằng, sự tu hành cũng như thế, ta không nên ép xác hoặc hưởng thụ, mà phải như lên dây đàn vừa mức. Khổ hạnh thái quá chỉ làm mỏi mệt thân xác, suy giảm năng lượng tinh thần. Mặc dù các triết gia cũng như các tu sĩ khổ hạnh thời đó, quả quyết cho lối tu ép xác là điều kiện tối thượng để đạt đến đạo lý cứu cánh. Ngài liền dứt khoát từ bỏ lối tu lầm lạc này, cũng như khi xưa còn ở hoàng cung, Ngài hưởng thụ vật chất xa hoa quá nhiều đã làm chướng ngại trên đường tiến hóa đạo đức. Nghĩ như vậy rồi, Ngài quyết định thực hiện con đường Trung đạo, ngày dùng một bữa vào lúc mặt trời gần đứng bóng. Đây là phương tiện của chư Phật ba đời, cũng là pháp môn tối yếu để hướng dẫn cho Ngài sớm thành tựu đạo quả sau này.
Khi nhìn thấy Ngài dùng phẩm thực đạm bạc từ nàng mục nữ Sujàta dâng cúng và những tín thí quanh làng, năm người khổ hạnh cùng tu chung với Ngài liền chê trách, khinh bỉ Ngài, vì đã phá hủy quy củ truyền thống. Họ âm thầm từ bỏ Ngài sang vùng Ba-la-nại (Varanasi) trong Vườn Nai (Isipatana) để ẩn tu.
Một hôm Ngài xuống sông Ni-liên-thiền (Nairanjana) nay là sông Lilajan, tắm gội sạch sẽ, rồi lội qua sông, lên bờ vào chừng hơn 100m, đến dưới gốc cây Tất-bát-la (Pippala) có tàng che to lớn. Ngài nhận một bó cỏ Cát tường(Kusa) từ người nông dân chăn trâu tên Svastika, rồi trải cỏ làm tòa ngồi và tuyên thệ: “Nếu ta không tìm ra Chân lý tối thượng, ta quyết không rời khỏi nơi này”.
Sau 49 ngày đêm, chuyên sâu vào thiền quán, tu tập tâm ly dục, ly ác pháp, đức Thích-Ca chiến thắng nội chướng lẫn ngoại ma, nào tham luyến, dục vọng, phiền não, sân hận, đói khát, cô đơn v.v...luôn hiện đến quấy nhiễu. Đêm cuối cùng, vào lúc canh một, Ngài hướng tâm về Tuệ giác, nhớ lại những kiếp quá khứ, từ một kiếp, hai kiếp, ba kiếp đến trăm ngàn muôn ức kiếp. Hoặc ở thế giới này hay thế giới khác, hoặc ở quốc độ này hay quốc độ khác, hoặc ở gia đình này hay gia đình khác, hoặc mang thân này hay thọ thân khác...Tất cả từng chủng loại, tên tuổi, gia thế, sự nghiệp, sống chết, khổ vui của mỗi kiếp tái sinh như thế nào, Ngài đều biết rõ như trong lòng bàn tay. Ngài cũng thấy như vậy với tất cả những loài sanh ra từ thai, loài sanh ra từ trứng, loài sanh từ nơi ẩm ướt và loài sanh từ phân thân biến hóa. Thấu rõ thân này vốn không có thực, vốn không có nguồn, vô thỉ vô chung, không từ đâu đến, không đi về đâu. Cũng như sao mai ở bất kỳ thời gian nào cũng luôn hiện diện ở vị trí đó, không lặn cũng không lên, không hiện cũng không ẩn. Ẩn hiện là do vô minh bất giác mà bày ra sự phân biệt tối sáng. Mặt thật xưa nay hiện tiền, không trụ chấp, không vướng mắc, không đầu không cuối, cũng chẳng phải không đầu, không cuối. Chỉ vì động dụng nên cứ nghĩ rằng những gì ta nhận thấy có sự dời đổi là có đến có đi. Như thế Ngài đã chứng được Túc mạng Minh.
Sang canh hai, mây đen vần vũ trên bầu trời u ám, từng ánh chớp lóe sáng như chọc thủng không gian. Những tiếng sấm vang rền làm chuyển rung mặt đất. Từng cơn mưa xối xả trút xuống cội Tất-bát-la đại thọ, Ngài vẫn ngồi bất động, hướng tâm thanh tịnh, vận dụng trí tuệ của mình đi sâu trên con đường khám phá những hiện tượng vũ trụ.
Ngài thấy biết rõ vô lượng vô số thế giới từng co giãn sanh ra, hình thành, biến hoại và hủy diệt. Thấy tất cả chúng sanh từng sanh ra, hình thành, biến hoại và hủy diệt trong vô lượng vô số kiếp, nhưng đó chỉ là những biểu hiện duyên khởi bề ngoài chứ không hề hấn gì tới thực tướng của pháp giới. Ví như hằng triệu đợt sóng lô nhô trên mặt biển cả, nhưng lòng đại dương không vì có những hiện tượng như thế mà sanh diệt, diệt sanh. Đạt đến đó, Ngài chứng được Thiên nhãn Minh.
Thiên nhãn là cái nhìn thông thấu vượt không gian và thời gian, không phải bằng mắt thịt. Minh là sáng, thấy rõ như ban ngày, tất cả chúng sanh hình thù lớn nhỏ vi tế, tạo nhân gì, nghiệp gì luân chuyển trong ba cõi là dục, sắc và vô sắc; hoặc lăn lóc trong sáu nẻo luân hồi là trời người, a tu la, súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục; hoặc quanh quẩn trong bốn loài là sanh thai, sanh trứng, sanh nơi ẩm thấp và hóa sanh. Thấu suốt tận nguồn vô minh, nhân quả rõ ràng như ban ngày, trong nhân có quả, trong quả có nhân, nối chuyền không đứt đoạn. Trong phiền não có Bồ đề, niệm trước là chúng sanh vô minh, niệm sau là Giác Phật, cho nên gọi chẳng phải Bồ đề, chẳng phải phiền não. Nếu còn chấp vào phiền não, bồ-đề là bệnh, ví như mặt trời là một định tinh vẫn luôn luôn chiếu sáng trong hư không, do tâm phân biệt chấp có mặt trời mọc, lặn; ngày sáng, đêm tối; đó là bệnh chấp về ngã, về pháp rất nặng.
Đến canh ba, Ngài quán chiếu sâu thẳm của vô thỉ vô minh, thấu tột cội nguồn các pháp:
– Đây là phiền não, ô nhiễm, khổ đau.
– Đây là nguyên nhân tập khí gây ra phiền não, ô nhiễm, khổ đau:
– Đây là sự chấm dứt phiên não, ô nhiễm, khổ đau.
– Đây là phương pháp dẫn đến sự chấm dứt phiền não, ô nhiễm, khổ đau.
Quán chiếu như thế, tâm Ngài hoàn toàn giải thoát khỏi Dục lậu (ô nhiễm của dục vọng), Hữu lậu (ô nhiễm sự luyến ái của đời sống) và Vô minh lậu (ô nhiễm của vô minh), dứt hẳn sanh tử luân hồi, khổ đau vạn kiếp. Đạt đến đó Ngài chứng được Lậu tận Minh.
Ngài thấu rõ Khổ tướng hiện tại, đoạn mọi phiền não lậu hoặc dứt khổ sanh tử, an vui giải thoát. Thấy rõ mầm mống của phiền não và sanh tử. Chuyển phiền não thành Bồ đề, sanh tử thành Niết bàn, màn vô minh đã được giải tỏa thì trí tuệ phát sinh. Rõ được sự sanh sự tử là phi sanh phi tử. Cũng còn gọi là nhứt niệm vô sanh, tánh không tịch diệt, hay là Kim cang đại định.
Ngài thấy rõ được kho tàng tích chứa tập khí hữu lậu vô minh phiền não từ lâu đời. Những chủng tử thiện nghiệp hoặc ác nghiệp của chúng sanh từ vô thủy đến nay nó giống như một cuộn phim được chiếu lại, ngài biết rõ chúng sanh trôi lăn trong sáu đường, thấu suốt từng nghiệp nhân và nghiệp quả của chúng sanh khắp tam thiên đại thiên thế giới.
Lúc ấy, ngoài trời cơn mưa đã thưa dần và tạnh hẳn; sấm sét ngừng im, mây đen cuốn sạch, vầng trăng vằng vặc hiện trên nền không gian trong suốt. Từ phương đông, ánh sao mai lấp lánh, cũng là lúc Ngài hoàn toàn chứng được Tam minh, thành tựu Chánh đẳng Chánh giác vào lúc 35 tuổi, ngày Rằm tháng Vesàkha, năm 588  trước TL, theo sử Nam tông, hoặc mùng 8 tháng chạp theo sử Bắc tông. Từ đó Ngài được gọi là Phật (Buddha), người tỉnh thức, một trong mười tôn hiệu và cây Pippala được gọi là cây Bồ-đề (Bodhirukkha)
Trong khuôn viên Đại tháp nơi ngài Thành Đạo tại quận Gàya thuộc bang Bihar, Ấn Độ hiện bây giờ còn bảy trụ đá, có trụ cao khoảng 2,70m do vua A Dục tạo dựng, ghi dấu nơi Phật Thành đạo, cùng những chỗ chung quanh sau khi Ngài rời khỏi tòa ngồi với những hiện tượng lạ xảy ra. Sau này trong những đợt trùng tu, người ta có tạc thêm bảy bảng đá của mỗi trụ; mỗi bảng hình chữ nhật được khắc hai thứ tiếng, một bên tiếng Anh và một bên tiếng Hindi, thứ tự như sau:
Bảng đá thứ nhất, bên cạnh cội Bồ đề Linh thọ gọi là BODHI PALLANKA  (Nơi Thành Đạo), “Thái tử  Sĩ-đạt-ta ngồi dưới cội Bồ-đề đạt đến quả vị Toàn Giác vào đêm trăng tròn, tháng Vaisakha năm 623 (?) trước Tây lịch.  Kim cương tòa ở dưới cội Bồ-đề này là chỗ trung tâm của sự tôn kính.” “BODHI PALLANCA, (The place of enlighten-ment). Prince Siddhattha attained Buddha-hood (Full enlightenment)  in the year 623 BC on the Vaisakha full moonday sitting under this Peepul (Bodhi) tree. The Vajrasana or the Diamod throne which is under this Bodhi tree is the central place of worship”.
Bảng đá thứ hai, bên tháp nhỏ Animesa- locana Cetiya, từ ngoài cổng  Đại tháp  nhìn vào  bên mặt, bên đường vòng lớn kinh hành gọi là ANIMESA LOCANA (Nơi nhìn không nháy mắt). “Sau khi Thành Đạo, đức Phật trải qua tuần lễ thứ hai chăm chú nhìn cây Bồ đề không nháy mắt.” “ANIMESA LOCANA (The place of unwinking gazing). After enlightenment Lord Buddha spent the second week in meditation here gazing unwinking at the Bodhi tree”.
Bảng đá thứ ba, nằm bên phải ngay cạnh Đại tháp gọi là CANKAMANA (Đường kinh hành). “Đức Phật thiền hành lên xuống suốt tuần thứ ba. Trên đường hành lang những chỗ có những hoa sen đở chân của đức Phật trong lúc  đi bộ.” “CANKAMANA (Cloister walk), Lord Buddha spent the third week here walking up and down in the meditation. On the platform lotuses indicate the places where the Lord’s feet rested while walking”.
Bảng đá thứ tư, cách trụ Cankamana khoảng 25 mét về hướng Tây Bắc, gọi là RATANA-GHARA ( Nơi nghiệm tưởng cơ bản). “Suốt tuần thứ tư Đức Phật trong thiền định để suy nghiệm luận chứng luật nhân quả tương quan”.  “RATANAGHARA (The place of basic contemplation) Lord Buddha spent the fourth week here in meditation rylecting on the Patthana or the causal law”.
Bảng đá thứ năm, ngay lối vào Đại tháp, bên cạnh trụ đá nhỏ của vua A Dục gọi là AJAPALA NIGRODHA TREE (cội Ni-câu-đà). “Tuần lễ thứ năm Đức Phật thiền định dưới cội cây Ajapala chứng nghiệm Hạnh phúc Giải thoát. Nơi đây Ngài đã trả lời một vị Bà-la-môn về những tiêu chuẩn để trở thành Thánh nhân, không còn thọ sanh nữa.” “AJAPALA NIGRODHA TREE (Panyan Tree) Lord Buddha spent the fifth week under this tree in meditation after enlightenment. Here He replied to a Brahmana that only by one’s deeds one become Brahmana, not by birth not by birth”.
Bảng đá thứ sáu nằm trước hồ cá cách Đại tháp khoảng 40 mét về hướng Nam gọi là MUCALINDA LAKE, (Nơi ở của mãng xà vương)  “Đức Phật đã trải qua tuần thứ sáu thiền định tại đây, trong lúc đang thiền định, bão tố sấm sét nổi lên dữ dội. Mãng xà vương Mucalinda bò đến bao che bảo vệ cho Ngài được bình an, tránh khỏi gió mưa mãnh liệt.”  “MUCALINDA LAKE (The abode of snake king). Lord Buddha spent the sixth week in meditation here. While he was meditating severe thunder storm broke out. Mucalinda snake go to protect him from the violent wind and rain even the creatores came out for his safety”.
Bảng đá thứ bảy nằm cách cội Bồ-đề 15 mét về hướng Đông Nam gọi là RÀJÀYATANA (một loại cây rừng) “Sau khi đức Phật trải qua tuần thứ bảy trong tuệ giác thanh tịnh ở dưới cội cây này. Vào ngày cuối, có hai nhà lái buôn Tapussa và  Bhallika  dâng  tặng  cho  Ngài bánh và mật ong, và được quy y nơi Ngài. Lúc này Ngài chỉ truyền cho họ Quy y Phật, Quy y Pháp, chứ không có Quy y Tăng. Vì chưa có giáo đoàn Tăng già”“RAJAYATANA (A kind of forest tree). After Lord Buddha spent the seventh week here in meditation enlightenment. At the end of medi-tation, two merchants: Tapussa and Bhallika offered rice cake and honey to the Lord and took refuge.
– Buddham saranam gachami.
– Dhammam saranam gacchami.
(Sangha was not founded then)”
Trong tác phẩm “ĐỨC PHẬT VÀ PHẬT PHÁP” (Buddha and His Teaching) của Ngài Narada Mahathèra, Phạm Kim Khánh dịch, NXB TpHCM 1998, giải thích những hiện tượng 7 tuần “Sau Khi Phật Thành Đạo” như sau:
“Tuần lễ đầu sau khi thành đạo, Đức Phật ngồi không cử động dưới tàng cây Bồ-đề chứng nghiệm Hạnh Phúc Giải Thoát (Vimutti Sukkha). Trong đêm cuối tuần Ngài xuất thiền và suy niệm về 12 Nhơn Duyên (Paticca Samuppàda)theo chiều thuận... Khoảng canh giữa đêm, Ngài suy niệm 12 Nhơn Duyên theo chiều ngược... 
Tuần thứ nhì trải qua một cách bình thản, nhưng trong sự yên lặng ấy, Đức Phật đã ban bố cho thế gian một bài học luân lý quan trọng. Để tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với cây Bồ-đề vô tri vô giác đã che mưa đỡ nắng cho Ngài suốt thời gian chiến đấu (49 ngày thiền định) thành tựu quả vị tối thượng. Ngài đứng cách một khoảng xa để chăm chú nhìn cây Bồ-đề trọn 7 ngày.
Tuần thứ ba, vì khoảng thời gian đầu sau khi Thành đạo, đức Phật không rời nơi trú ngụ mà Ngài vẫn còn quanh quẩn bên cội Bồ đề, Chư Thiên nghi ngờ không biết Ngài đã chứng Thánh quả tối thắng hay chưa. Đọc được tư tưởng ấy, Ngài đã dùng oai lực thần thông tạo ra một đường hành lang bằng ngọc (Ratana canka mana) và đi lên đi xuống thiền hành trên ấy suốt 7 ngày, có 18 đóa sen đỡ chân của Phật.
Tuần thứ tư, đức Phật ngự trong Bảo cung (Ratanaghara) do Ngài biến hiện để suy niệm về những luận chứng cao siêu (Abhidhamma), về lý nhơn quả tương quan (Patthàna). Lúc ấy, thân và tâm Ngài trở nên hoàn toàn tinh khiết. Ngài phóng ra vầng hào quang sáu màu (xanh,vàng, đỏ, trắng, cam và màu hỗn hợp).
Tuần thứ năm, đức Phật lại ngồi dưới cội cây Ajapalà Nigrodha, chứng nghiệm Hạnh phúc Giải thoát. Ngày cuối, khi Ngài xuất ra khỏi trạng thái siêu thể ấy, có một người Bà-la-môn ngã mạn (Huhunkajãtika) đến hỏi Ngài:
– Này Sa môn Cồ Đàm, đứng về phương diện và điều kiện nào ta trở thành một thánh nhơn (Brahmana) ?
Để trả lời, đức Phật liền đọc lên bài kệ:
            “Người  lánh xa tội lỗi,
             Tâm ngã mạn không còn.    
             Thanh lọc mọi nhiễm ô.
             Sáu căn thường thu nhiếp.
             Suốt thông các pháp học.
             Chơn chánh sống Phạm hạnh.
             Tự tại và an nhiên.
             Dù bất cứ nơi đâu
             Người ấy là Thánh nhơn”
                                                (Udana phần I)
Tuần thứ sáu, Từ cây Ajapàla, đức Phật sang qua cây Mucalinda và ngự tại đây để chứng nghiệm Hạnh phúc Giải thoát. Bỗng nhiên có một trận mưa to kéo đến, bầu trời tối sẫm dưới lớp mây đen và gió lạnh thổi suốt nhiều ngày. Vừa lúc ấy trong bọng cây Mucalinda, thần mãng xà từ ổ chui ra quấn chung quanh mình Phật bảy vòng, và lấy bảy cái đầu to che trên đỉnh đầu Ngài, nhờ vậy mà mưa to gió lớn không động đến thân Phật. Cuối ngày thứ bảy trời quang mây tạnh, rắn thần Mucalinda tháo mình ra và biến thành một thanh niên cúi đầu cung kính chấp tay đứng trước mặt Phật. Ngài bèn nói kệ:
            “ Sống ẩn dật biết đủ.
               Lãnh hội được Chơn lý.
               Thật là người hạnh phúc.
               Tâm lành biết thu thúc, 
               Đối với mọi chúng sanh.
               Thật là người hạnh phúc.
               Không luyến ái đam mê,
               Vượt lên khỏi dục vọng.
               Thật là người hạnh phúc.
               Phá bỏ được Chấp Ngã
               Là hạnh phúc tối thượng.”
Tuần thứ bảy, đức Phật sang cội cây Ràjayatana và ở đó chứng nghiệm Quả phúc Giải thoát. Đây là lời Phật nói đầu tiên khi vừa Thành đạo:
Ta lang thang trong vòng luân hồi trải qua bao kiếp sống. Ta đi tìm mãi mà không gặp kẻ làm nhà. Cứ lập đi lập lại đời sống quả thật phiền muộn. Này hỡi kẻ làm nhà, nay ta đã khám phá ra ngươi, Từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như lai nữa. Tất cả sườn nhà đều gãy đổ, kèo cột bị phá tan. Mọi ái dục Như lai đã đoạn trừ. Như lai đã chứng quả Vô sanh Bất diệt.”     ( Kinh Pháp cú)
Lúc này có hai nhà lái buôn Tapassu và Bhallika từ Ukkala (Orissa) trên đường về quê nhà tại Miến Điện, (có chỗ nói họ dẫn theo 500 thương nhân), được chư thiên mách bảo nên cúng dường đức Như Lai vừa mới thành đạo. Họ hết sức vui mừng đến chỗ Phật ngự, dâng tặng cho Ngài bánh và mật ong. Ngài giảng một thời pháp ngắn và họ đã xin quy y nơi Ngài. Lễ truyền quy y đầu tiên chỉ có nhị bảo: Quy y Phật, Quy y Pháp, vì lúc ấy chưa có giáo đoàn Tăng già.” Đức Phật tặng cho họ vài sợi tóc. Sau này những sợi tóc ấy được lập bảo tháp thờ tại Miến Điện.     
Tóm lại, SỰ KIỆN THÀNH ĐẠO CỦA ĐỨC PHẬT THÍCH CA MÂU NI qua phương thức Thiền quán, ngài đã chứng được Tam Minh, đó là đỉnh cao của trí tuệ siêu tuyệt. Minh là sáng suốt, không mê lầm. Không mê lầm gọi là tỉnh thức Giác ngộ hoàn toàn. Như vậy, không phải ngài nhìn vào sao Mai mà tỏ ngộ. Chư Tổ bảo: “Nếu cho rằng Đức Thích-ca Mâu-ni nhìn vào ánh sao mà tỏ ngộ chẳng khác gì mạt vàng rơi vào con mắt.”
Tam Minh là ba nguồn Tâm lực sáng suốt, thấu tột khắp không gian, thời gian, không chướng ngại. Theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy đó là Ba Pháp Yếu từ Bát Chánh Đạo mà xưa kia Bồ tát Tất-đạt-đa tu hành trải qua ba vô số kiếp, đối trị với ba căn bệnh độc chướng Tham-sân-si và nay Ngài đã thành tựu Vô thượng Bồ đề:
Giới  gồm Chánh ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh mạng.
Định gồm Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm và Chánh định.
Huệ  gồm Chánh kiến, Chánh Tư duy.
Đó là điều kiện tiên quyết để đi vào Thánh đạo và đạt tới Niết-bàn.
Phật giáo Phát triển hiểu Bát chánh đạo có phần khác với Phật giáo Nguyên thủy. Nếu Phật giáo Nguyên thủy xem Bát chánh đạo là con đường dẫn đến Niết-bàn thì Phật giáo Phát triển đặc biệt coi trọng phương pháp giải thoát khỏi vô minh để Giác ngộ Tánh Không Bát nhã (śūnyatā prajnã), là Bản thể của mọi hiện tượng sự vật.
Ngoài ra Ba minh khác với Sáu thông. Vì sáu thông (Thiên nhãn, thiên nhỉ, tha tâm, thần túc, túc mạng và lậu tận thông), do nơi kỹ năng tu tập từ sáu căn mà được Sáu phép thần thông của các bậc A-la-hán. Tam minh biểu hiện năng lực trí tuệ của chư Phật .
Căn cứ Luận câu xá, quyển 27, trong 5 phép thần thông đầu, mọi người kể cả thiên ma ngoại đạo đều có thể tu chứng, nhưng phép thần thông thứ 6 thì chỉ có những bậc A-la-hán và Bồ tát ở ngôi bát địa mới có thể đạt được. Tuy nhiên trong sáu loại thần thông này, Thiên nhãn thông, Túc Mệnh thông và Lậu tận thông, dùng năng lực Trí Tuệ quán chiếu chuyển thành Minh tuệ gọi là Tam minh. Tam Minh cũng còn gọi Tam Đạt, sau khi đã tu Tám pháp Giải thoát (Bát Chánh đạo), A La Hán có đủ sáu thông và suốt biết (chánh biến tri ) gọi là Minh. Đại A-la-hán (Phật) thấu triệt tận cùng gọi là Đạt.
Bằng tuệ giác thực chứng Tam Minh, dẫn dắt mọi hành động hợp với bản hoài Tự giác - Giác tha và Giác hạnh viên mãn, đức Phật đã từ tòa ngồi dưới cội cây Bồ đề đứng lên tuyên bố: "Lạ thay ! Lạ thay ! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ trí huệ đức tướng của Như Lai, chỉ vì vô minh, vọng tưởng, chấp trước mà không chứng ngộ được”. “Như lai là Phật đã thành. Nhân loại chúng sanh là Phật sẽ thành". Điều đó dạy cho chúng ta có một tầm nhìn thấu rõ các pháp đúng Như thật: “Tâm–Phật–Chúng sanh không sai khác”. Chúng ta hãy tự chủ vươn lên, ứng dụng Giáo pháp, để đem lại an lạc cho thân tâm mình và cho cộng đồng xã hội.

Thích Giác Nguyên

Mọi người không phải là một mảnh; họ là nhiều mảnh, bằng cách nào đó giữ gắn chúng lại với nhau. Chúng có thể rời ra vào bất kì khoảnh khắc nào. Chúng là tất cả nhân vật Humpty-Dumpties - cậu bé "quả trứng", chỉ là một đống nhiều thứ. Bất kì tình huống mới nào, bất kì nguy hiểm mới nào, bất kì bất an nào, và chúng có thể rã rời ra.

Vợ bạn chết hay bạn phá sản hay bạn thất nghiệp - bất kì điều nhỏ bé nào cũng đều có thể chứng tỏ là cọng rơm cuối cùng trên lưng lạc đà. Khác biệt chỉ ở mức độ. Ai đó sôi ở chín mơi tám độ, ai đó ở chín mươi chín độ; ai đó có thể ở chín mươi chín phẩy chín độ, nhưng khác biệt chỉ ở mức độ, và bất kì cái gì nhỏ bé nào cũng đều có thể làm thay đổi cân bằng. Bạn có thể phát điên vào bất kì khoảnh khắc nào, bởi vì bên trong bạn đã là đám đông rồi.

Biết bao nhiêu ham muốn, biết bao nhiêu mơ mộng, biết bao nhiêu người đang sống trong bạn. Nếu bạn quan sát cẩn thận, bạn sẽ không tìm thấy một người ở đó mà nhiều khuôn mặt, thay đổi mọi khoảnh khắc. Cứ dường như bạn chỉ là bãi chợ nơi biết bao nhiêu người tới và đi, ồn ào thế, và chẳng cái gì tạo ra nghĩa cả.

Bạn có thể mơ chỉ nếu bạn là nhiều người. Bạn có thể mơ chỉ nếu bạn có nhiều ham muốn. Mơ là sản phẩm phụ của ham muốn: điều bạn muốn ban ngày, bạn mơ ban đêm. Việc mơ là tàn tích; cái gì đó còn lại không đầy đủ trong ngày mà phải được làm đầy đủ. Tâm trí là kẻ cầu toàn; nó muốn thử, theo mọi cách có thể, để hoàn tất mọi sự.

Trên đường bạn thấy một nhà hàng đẹp, nhưng bạn đang vội. Bạn định đi làm việc gì đó và bạn không thể vào được nhà hàng này. Và mùi thơm phức của thức ăn hấp dẫn thế và màu sắc của thức ăn... Bạn muốn vào những bạn không thể vào được. Bạn sẽ mơ về nhà hàng này; bạn sẽ phải mơ chỉ để hoàn chỉnh toàn thể quá trình, để cho nó được vứt bỏ và không còn bám riết lấy bạn nữa. Nhưng mơ của bạn sẽ phản xạ cái điên khùng của bạn.

Với bạn, người điên là trong nhà thương điên còn mọi người bên ngoài đều lành mạnh. Điều đó không phải như vậy. Chỉ bức tường nhà thương điên không phân chia người lành với người điên. Có người điên bên trong và có người điên bên ngoài. Những người ở bên ngoài còn chưa bị bắt hay có thể họ vẫn trong biên giới của hành vi thông thường. Ít nhất trên bề mặt họ có thể xoay xở được; trong cốt lõi bên trong nhất của mình họ có thể điên khùng.

"Tôi lo lắm. Đêm qua tôi mơ tôi mỗi mình với hàng trăm cô gái tóc hung đẹp đẽ, hàng trăm cô tóc nâu và hàng trăm cô tóc đỏ đẹp tuyệt vời. Thật là khủng khiếp!"

"Trời đất, này anh! Khủng khiếp gì về điều đó?" nhà tâm thần hỏi bệnh nhân.

"Tôi mơ tôi là con gái nữa!"

Giấc mơ của bạn sẽ phản xạ bạn. Chúng còn có thể phản xạ ai khác được? Giấc mơ của bạn là chìa khoá; qua giấc mơ của bạn nhiều điều có thể được biết về bạn.

Toàn thể phân tâm học phụ thuộc vào giấc mơ của bạn để lần ra manh mối. Khi bạn thức bạn không thật đáng tin cậy; điều bạn nói về bản thân bạn là lừa dối. Trong mơ bạn hồn nhiên hơn, bởi vì không có ai kiểm soát và kìm nén. Lương tâm đang ngủ say, đạo đức mất rồi; bạn tự nhiên hơn, bình thường hơn. Trong giấc mơ bạn là thuần khiết hơn. Do đó phân tâm phải tuỳ thuộc vào giấc mơ của bạn và qua giấc mơ của bạn nó đi tới kết luận về bạn.

Đây là trạng thái rất đáng buồn của mọi chuyện: rằng bạn không thể được tin cậy chút nào, bởi vì bạn nói điều này và bạn là điều gì đó khác toàn bộ. Và vấn đề không phải là bạn cố ý chủ định lừa dối; lừa dối đã gần như trở thành bản tính phụ của bạn. Đó là lí do tại sao bạn lập tức quên mất giấc mơ của bạn; nó là chiến lược của tâm trí. Trong vòng năm giây khi thức dậy... khi bạn thức dậy có chút ít rơi rớt, chút ít kí ức - chỉ vài mảnh mẩu, những phần cuối cùng của giấc mơ của bạn. Nhưng trong năm giây chúng mất đi. Tới lúc bạn ra khỏi giường tất cả giấc mơ của bạn đã biến mất, bạn đã quên tất cả về chúng. Chừng nào bạn còn chưa làm nỗ lực rất ý thức bạn sẽ không có khả năng nhớ được chúng. Đây là chiến lược của tâm trí, nó đơn giản đóng cánh cửa lại, bởi vì giấc mơ của bạn có thể là sự quấy rối cho bạn.

Nếu bạn đi tới biết rằng trong giấc mơ của mình bạn đã giết bố bạn thì điều đó sẽ đè nặng lên bạn, bạn có thể cảm thấy phạm tội. Nếu bạn là người rất, rất đạo đức, người thuần đạo đức và bạn thấy rằng trong giấc mơ của mình bạn đã chạy trốn, lẩn trốn cùng vợ hàng xóm bạn và bạn thích thú điều đó lắm, bạn sẽ bị bối rối. Bạn sẽ trở nên hoài nghi về đạo đức của bạn, về thuần khiết của bạn. Nó sẽ treo lơ lửng trên bạn như đám mây tối.

Tâm trí đơn giản cắt bạn khỏi các giấc mơ của bạn. Nó đã tạo ra hai loại thế giới: một thế giới, thế giới mơ, tách biệt toàn bộ, và một thế giới, cái gọi là thế giới thức, tách biệt toàn bộ. Bạn sống trong các ngăn. Khi bạn đi vào mơ bạn quên mất tất cả về thức; khi bạn đi vào thức bạn quên tất cả về mơ.

Giấc mơ của bạn đơn giản chỉ ra rằng bạn sống một cách bộ phận, và các bộ phận chưa được sống phải được sống trong mơ của bạn. Nếu bạn sống một cách toàn bộ từng khoảnh khắc, thế thì không có khả năng nào của bất kì mơ cả.

Bạn đang sống bên trong trạng thái rất lẫn lộn. Và không chỉ thanh niên; ngay cả khi họ trở nên già cùng trạng thái đó vẫn tiếp diễn - không chỉ tiếp diễn, nó trở nên ngày một lẫn lộn hơn bởi vì, khi bạn tích luỹ kinh nghiệm, lẫn lộn của bạn trở nên lớn hơn.

Thiên nhiên không sinh ra một thứ gì thừa, mỗi loài mỗi vật đều có lý do để tồn tại. Thuận với thiên nhiên thì sống, nghịch với thiên nhiên trước sau gì con người cũng phải trả giá, kể cả nghịch với thiên nhiên trên đồng ruộng.

Từ lâu lắm rồi các nhà khoa học đã kết luận sở dĩ đàn hươu ở vùng Siberia bị suy thoái là do chó sói bị săn bắn quá nhiều, đó là do khi còn nhiều chó sói những con hươu yếu ớt đều bị chó sói diệt, chỉ những “giống tốt” mới tồn tại sinh sôi. Hổ báo, chó sói và các động vật “dữ” khác đều đưa vào Sách đỏ cần bảo vệ. Chuyện bảo tồn thiên nhiên hoang dã ngày nay ai cũng biết, nhưng lại không nhiều người biết ngay thiên nhiên ở xung quanh ta cũng cần được đối xử như vậy.


Ngày xưa trên đồng ruộng nước Nam ta không có sâu bệnh, không có chuột cắn phá, không có châu chấu cào cào tàn hại. Không phải ngày xưa không có những giống đó, mà do cha ông ta biết thuận với thiên nhiên. Lúa và hoa màu được phân bố hợp lý theo mùa, theo thổ nhưỡng khiến cho cây trồng, vật nuôi sinh sôi nhịp nhàng với các sinh vật tự nhiên, “nước sông không đụng đến nước giếng”.

Nên hiểu đúng về loài chuột

“Minh oan” cho loài chuột là một chuyện tức cười, nhưng phải có cái nhìn đúng mức. Con chuột vốn không ở đồng ruộng, không phải là thứ cắn hại lúa và hoa màu. Nó làm tổ, đào hang sống trong rừng rú, ăn những thứ mà thiên nhiên ban cho nó. Chuột cũng góp phần điều hòa sinh thái, khi đến chân ruộng, nó cũng tham gia chế ước, cân bằng vi sinh.

Ai cũng biết chuột là giống sinh sôi “dữ dằn” nhất trong các giống vật có vú, nhưng tự nó biết hạn giới hạn “dân số” của nó. Trong hai cuốn sách thuốc gia truyền của nhà Nguyễn mà chúng tôi đã nhắc tới và cả trong một cuốn sách quý khác là cuốn “Nguyễn Phúc tộc đế phả tường giải đồ” đều nói đến một hiện tượng lý thú của loài chuột:

Mỗi năm vào mùa thu, từng đàn chuột leo lên ngọn tre cắn ngọn, cắn lá, rồi rơi xuống chết, chỉ còn khoảng 20% số chuột còn sống sót. Đó là những con rất khỏe mạnh và tiếp tục sinh sản. Không phải do cắn lá tre mà nó chết, vì lá tre cũng là thứ thuốc (lá tre Đông y gọi là “trúc diệp”, đọt tre gọi là “trúc tâm”) chữa được nhiều bệnh tật, mà do “khí số” đã hết, nó phải tìm đến lá tre để tìm “cửa sinh”.

Nhưng những đàn chuột không cưỡng được “mệnh trời”, nên chỉ một số ít con khỏe mạnh nhất mới tồn tại, và được lá tre “tiếp sức” chúng càng khỏe mạnh hơn. Điều kỳ lạ là những lá tre, đọt tre do chuột cắn làm thuốc tốt hơn là những lá tre, đọt tre thường.

Rắn, rết, bọ cạp còn chữa được các chứng ung tỉ, bệnh viêm xoang mũi, bệnh nha cam (răng bị hỏng, thối)… Trên chân ruộng, các loài này góp phần làm cân bằng sinh thái do chúng nó tiêu diệt những sinh vật kém cỏi không đáng sống.

Thiên nhiên còn “bổ sung” một cách cân bằng khác, ấy là mỗi khi trời trở gió thì chuột trong hang chết hàng loạt. Dọn dẹp những xác chết này, thiên nhiên giao cho đàn quạ. Chớ nên coi khinh con quạ (và con kền kền). Quạ và kền kền chỉ chuyên ăn xác chết, nhờ chúng nó mà môi trường trong sạch.

Con người không công bằng với con quạ chút nào. Quạ kêu khi có người hoặc súc vật chết (thường do chiến tranh nên chậm an táng, dọn dẹp), nên người ta gán tiếng quạ kêu báo hiệu sự tang tóc, nhưng nó đâu có “ý thức” được đâu là vật đâu là người, nó chỉ đến để “làm nhiệm vụ” của nó mà thôi.

Chuột bắt đầu đến làm tổ trên chân ruộng khi rừng rú bị con người phá. Hủy diệt môi trường sống của chúng, chúng phải tìm cách tồn tại. Chuột là loài gặm nhấm nên chúng cắn phá nhiều hơn ăn, nếu hàng ngày không cắn một cái gì đó thì răng chuột sẽ mọc dài ra mà chết (do không ăn được). Trước đây chúng cắn cây cối trong rừng rú, nay thì cắn lúa.

Tóm lại, không phải thiên nhiên mà chính con người đã biến chuột thành một thứ “ăn hại”. Còn nói chuột là giống truyền bệnh dịch hạch là nói bừa, nước ta có chuột nhưng không có vi trùng dịch hạch, vi trùng dịch hạch là do người phương Tây mang tới. Cho đến năm 1960 bệnh này mới có tại Việt Nam.

Châu chấu có hại hay có lợi?

Xem phim ảnh chúng ta thường thấy những trận dịch châu chấu kinh thiên động địa, tưởng tượng đến cảnh châu chấu tràn đến đồng ruộng Việt Nammà thấy hãi hùng. Nhưng châu chấu vốn cũng là một loài vô tội. Châu Phi thời trung cổ không có nạn châu chấu, nạn này chỉ phát sinh từ khi châu Phi thuộc Anh, thuộc Pháp. Phương thức canh tác của người phương Tây áp dụng tại châu Phi đã làm phá vỡ môi trường sống, nạn châu chấu là một trong cái giá mà con người phải trả.

Công bằng mà nói, ở nước ta xưa kia châu chấu cũng “phá hoại” mùa màng, nhưng ông Ưng Viên bảo, nó “phá hoại 1 năm thì có lợi cho 10 năm”. Là vì khi nào mùa màng bị sâu bệnh thì châu chấu mới tới, nó tới để ăn hết ruộng bị sâu bệnh, diệt luôn cái mầm bệnh cho tương lai. Còn hạn chế châu chấu thì đã có đàn chim trời làm nhiệm vụ, thiên nhiên khắc biết cách tự cân bằng.

Cái lợi của rắn, rết, bọ cạp

Ngày nay báo chí liên tục cảnh báo nên người ta đã hiểu được cái lợi của những con rắn độc, nhưng đa số vẫn còn thấy ghê ghê với con vật “độc ác” này. Đối với thiên nhiên, con người ác độc hơn nhiều so với thú dữ. Các nhà bảo vệ môi trường tính rằng, cứ một người bị cá mập ăn thịt thì có 1 triệu con cá mập bị con người giết chết, ai độc ác hơn ai đây?

Và đừng tưởng rắn độc cắn chết người rồi suy ra hễ là rắn độc là cắn người. Con rắn độc tự nhiên không cắn người, giẫm vào nó, nó mới cắn để tự vệ, nhưng ngay cả khi giẫm vào nó chưa chắc nó đã cắn. Theo thống kê kinh nghiệm của người xưa, cứ 4.000 người chạm vào rắn độc chỉ có 1 người bị rắn cắn. Rắn độc, nhất là rắn hổ mang, mai gầm… là thứ thuốc quý.

Rắn mai gầm kết hợp với rết (Đông y gọi là “ngô công”), bọ cạp (gọi là “toàn yết”), xác ve sầu (“thiền thoái”), con tằm chín sắp nhả kén (“cương tàm”) chữa được bệnh ngộ độc kháng sinh, ngộ độc hóa chất, chữa chứng phong tê đau nhức, bại xuội… Bệnh thiên đầu thống nếu không có rắn hổ mang, rết, ve sầu thì rất khó chữa khỏi.

Hoàng Hải Vân

Hỏi: Kính thưa Thầy, sắp đến ngày 23 Tết Âm lịch, năm nào cũng vậy, mọi nhà lo mua ba bộ mũ, hia, giày và một con cá chép sống để cúng tiễn đưa ông Táo về Trời và ông Táo sẽ tâu trình với Ngọc Hoàng việc làm ác và thiện của gia chủ. Như vậy có không, xin Thầy chỉ dạy? Có người còn bảo, năm nào mà không mua mũ cho ông Táo, thì đêm đến nằm mơ thấy ông Táo về đòi. Như vậy có đúng không thưa Thầy?

Đáp: Ông Táo là một chuyện mê tín của dân gian, mục đích là để răn người làm điều ác, vì làm điều ác là ông Táo sẽ về chầu Trời tố cáo tội ác trong năm, và Ngọc Hoàng sẽ cho giáng họa và người làm ác sẽ chịu biết bao nhiêu đau khổ. Mũ hia áo mão của ông Táo giống như mũ hia áo mão của một vị quan phong kiến. Ông Táo không có thật mà chỉ là một tưởng tri của loài người để khiến cho người ta sợ mà không làm điều ác.

Từ câu chuyện dân gian răn nhắc đừng làm ác, biến dần thành một phong tục đến cuối năm nhà nào cũng đều cúng ông Táo, để ông về tâu bớt những chuyện làm ác của mình, để ông Trời không có gieo tai họa. Câu chuyện biến dần thành câu chuyện lo lót hối lộ. Từ câu chuyện răn nhắc đừng làm ác thì dần dần biến thành phi công lý, đạo đức (hối lộ mũ hia giày, quần áo, cá chép cúng bái thần linh là một hình thức hối lộ).

Nằm mộng thấy ông Táo về đòi, đó là tưởng mộng chứ ông Táo đâu có thật. Người ta huyền thoại nhiều câu chuyện về Táo quân “Một bà hai ông” bây giờ đã thành một phong tục truyền thống dân tộc cứ đến ngày 23 tháng chạp nhà nhà đều cúng đưa ông Táo về trời.

Phật giáo Đại Thừa cũng chịu ảnh hưởng, nhưng lấy ngày đó làm ngày lễ đưa chư thiên về chầu trời. “Dân gian thì đưa Táo Quân, Phật Giáo thì đưa chư Thiên về trời”.

Qua câu chuyện ông Táo đã chỉ cho chúng ta thấy được Phật Giáo Đại Thừa có trí tuệ hay không trí tuệ, điều này chắc ai cũng rõ. Câu chuyện mê tín dân gian mà Phật Đại Thừa lại biến thành mê tín Phật Giáo. Bởi vậy Phật Giáo Đại Thừa có đáng cho chúng ta đủ niềm tin chăng? Phật Giáo Đại Thừa đi đến đâu cũng viên dung và viên thông, lấy tất cả các pháp của mọi tôn giáo và sự mê tín của con người làm giáo pháp của mình. Hay nói cách khác cho dễ hiểu hơn Phật Giáo Đại Thừa đi đến đâu đều gieo rắc mê tín đến đó.
Cho nên giáo pháp Đại Thừa là giáo pháp lượm lặt của các tôn giáo khác chỉ cần thay danh từ là biến thành giáo pháp của mình. Khi dân gian mê tín cúng Táo Quân thì Đại Thừa biến danh từ Táo Quân thành danh từ chư Thiên.

Nếu các nhà nghiên cứu Đại Thừa Giáo xét kỹ, đừng kẹt trong danh từ thì thấy rất rõ giáo pháp đó là đờm dãi của các tôn giáo khác. Đó là đứng về nội dung, còn đứng về hình thức thì Đại Thừa Giáo không có gì đặc biệt chỉ giống như chiếc áo nhiều mảnh vải kết lại mà thành.

Cho nên câu chuyện Táo Quân là câu chuyện tưởng tượng, chứ không có thật Táo Quân, chỉ có người vô minh mới tin rằng có thật. Cúng lễ Táo Quân ngày 23 là phong tục mê tín dân gian.

Trưởng lão Thích Thông Lạc
Trích: Đường Về Xứ Phật tập VII

1. Sống lầm, mất mình

Lâu nay chúng ta sống ở trên đời, nhưng Phật nói mỗi người sống ở đây mà không có thực sống. Vì chúng ta sống mà đánh mất chính mình, sống mà đánh mất thực tại, nên thiếu đi ý nghĩa sống. Như chúng ta đang ngồi đây nghe pháp, nhưng có thực là chúng ta đang ở đây không hay là đang ở đâu? Có khi thân đang ngồi ở đây nhưng tâm để ở nhà, hoặc tâm đang đi lang thang ngoài đường. Đó gọi là sống mất mình, sống với cái đã chết. Cho nên đa số chúng ta luôn luôn đi tìm cái để sống, do thấy thiếu nên tìm cầu. Nhà thiền gọi là cỡi trâu đi tìm trâu.


Có câu chuyện: Gần ngôi Thiền viện có một tiệm bán đậu hũ. Ông chủ bán đậu hũ có tính hiếu kỳ, không biết ở ngôi thiền đường mấy ông thầy làm gì ở trong đó. Nên ông năn nỉ vị sư Hương đăng trông coi việc ở thiền đường, xếp cho ông vào trong đó. Ông cũng ngồi thiền với quý thầy, nhưng ông ngồi một góc ở phía dưới để quan sát cho biết. Thời gian ngồi thiền là một nén hương, khoảng một giờ. Ông tréo chân ngồi, thấy cảnh lặng lẽ khác thường hơn ở nhà, ai cũng ngồi im không ai ngó qua ngó lại.

Ông lén lén mở mắt ra, nhìn qua nhìn lại thấy ai cũng mắt ngó xuống, ông cũng bắt chước theo ngồi yên mắt ngó xuống. Bình thường ông sống ở ngoài, bận rộn lăng xăng trong sinh hoạt hàng ngày, bây giờ được một chút duyên ngồi yên trong khung cảnh trang nghiêm lặng lẽ, tâm cũng lặng xuống chút ít. Khi tâm lắng xuống, ông thấy những chuyện quá khứ nó trồi lên, vì lâu nay lăng xăng không có thời gian nhớ bây giờ ngồi yên nó nhớ lại rõ ràng. Sau khi về nhà rồi, gặp ai ông cũng khen ngồi thiền hay quá, tôi thực tập có một buổi thôi mà cảm nhận rất là sáng suốt. Hôm đó, tôi đã nhớ ra được ông lão họ Vương kia mua đậu hũ của tôi tổng cộng còn thiếu năm đồng mà lâu nay tôi quên, giờ nhớ là ông chưa trả.

Mọi người bình thường nghe cũng thấy vui vẻ, nhưng với người chuyên tu thiền thì thấy ông đang ngồi thiền ở trong thiền đường, nhưng tâm ông về nhà bán đậu hũ. Như vậy rõ ràng sống mà đánh mất chính mình. Cũng như chúng ta ngồi đây nhưng không có thực tại sống ở đây, chỉ sống với bóng của quá khứ hoặc ảo tưởng tương lai. Sống với thực tại là ngay bây giờ ở đây, chúng ta phải có mặt sự tỉnh thức ngay đây, chứ không phóng tâm lang thang, mất mình.

Thiền sư Cảnh Thanh đang ngồi, liền hỏi vị tăng bên cạnh:

- Ở bên ngoài là tiếng gì?

Lúc đó trời đang mưa, nên ông tăng thưa:

- Là tiếng mưa rơi.

Thiền sư Cảnh Thanh bảo:

- Chúng sinh điên đảo quên mình theo vật.

Ông tăng hỏi:

- Còn Hòa thượng thì thế nào?

Ngài đáp:

- Vẫn chẳng quên mình.

Đa số người là sống như vậy, đang ngồi đây, nghe tiếng mưa rơi thì chạy ra ngoài hiên, tâm nhớ theo tiếng mưa rơi nên quên mất cái gì đang nghe, đang biết. Thiền sư hỏi bên ngoài là tiếng gì, tức muốn nhắc ông tăng nhớ lại cái gì đang nghe, đang biết rõ ràng, đang hiện có mặt ở đây, chứ không phải ý ngài ở ngoài mái hiên. Nhưng vị tăng quen sống theo duyên, tâm duyên theo tiếng mưa rơi bên ngoài nên chỉ nghe tiếng mưa rơi. Do đó, Thiền sư nói: "Chúng sinh điên đảo quên mình theo vật", quên chính mình đây mà chạy theo bên ngoài. Vị tăng hỏi lại: "Còn Hòa thượng thì thế nào?", Ngài đáp: "Vẫn chẳng quên mình". Thiền sư cũng nghe tiếng mưa rơi, biết rõ tiếng mưa rơi nhưng vẫn không quên mình. Sống như vậy mới gọi là không mất mình, chứ còn ngồi đây mà chạy theo tiếng là quên mất chính mình, là đánh mất thực tại đang hiện hữu.

2. Sống ngay thực tại, bây giờ

Trong nhà thiền luôn nhắc mọi người, phải sống trở về với cái thực tại đang hiện hữu sáng ngời, đó là thiền chân thật. Thiền dạy hành giả là sống trở về ngay thực tại, bây giờ và ở đây. Mặt trời tâm phải luôn luôn mọc ngay đây, luôn chiếu sáng không cho mây che khuất. Thiền sư Pháp Loa, Tổ thứ hai của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, có lần ngài Pháp Loa hỏi Tổ Trúc Lâm:

- Khi muôn dặm mây tạnh thì thế nào?

Tổ Trúc Lâm đáp:

- Mưa tầm tã.

Lại hỏi:

- Khi muôn dặm mây che kín hết thì thế nào?

Đáp:

- Trăng vằng vặc.

Theo tâm lý thế gian nghe vậy là không hiểu gì hết, nói chuyện ngược đời. Muôn dặm mây tạnh tức là trời trong sáng, không có vết mây thì làm sao mưa, đây Ngài lại đáp: "Mưa tầm tã". Còn hỏi: "Muôn dặm mây che kín hết" là đang mưa, mà Ngài lại đáp: "Trăng sáng ngời". Theo thế gian thấy giống như nghịch lý, nhưng trong nhà thiền là đánh thức cho hành giả sống trở về ngay thực tại sáng ngời, phải sống "ngay bây giờ đây".

Muôn dặm mây tạnh, tức là trời trong sáng, trời trong sáng đây có hai ý: Thiền sư vừa mượn hình ảnh trời trong sáng, nhưng cũng muốn nói bầu trời tâm của mình trong sáng không có vết mây, mà ông còn hỏi chi cho động niệm, động niệm là mây mưa tầm tã rồi. Câu thứ hai hỏi: "Muôn dặm mây che kín thì sao?". Nếu nói tâm mình bị che kín, không còn chỗ nào để ló đầu. Vậy ai biết hỏi đây, đã biết hỏi thì đâu có che, nên Sơ Tổ đáp: "Trăng sáng ngời". Tâm vẫn hiện hữu sao còn chưa tỏ ngộ? Chúng ta thấy Thiền sư đáp, mới nghe dường như nghịch lý, nhưng hiểu ra thì rất chí lý.

Quả thật, tâm thiền của Ngài luôn luôn hiện hữu sáng ngời, chưa từng vắng mặt bao giờ. Ngay lúc đang hỏi đáp, tâm của Ngài vẫn sáng nên đáp một cách trực tiếp bén nhạy. Chân lý thiền rất đơn giản, gần gũi đâu có gì xa lạ. Ngay thực tại đây thôi. Ngay chỗ chúng ta ngồi đây, biết sống trở về là thiền là đạo. Nhưng do con người quen thêm vào, quen tưởng tượng nên thành ra rắc rối, khó hiểu. Nếu chúng ta buông bỏ những tưởng tượng thì thiền rất đơn giản.

Như câu chuyện trà Triệu Châu. Có vị tăng đến chỗ Thiền sư Triệu Châu. Ngài Triệu Châu liền hỏi:

- Ông từng đến đây chăng?

Vị tăng thưa:

- Đã từng đến.

Triệu Châu liền bảo:

- Vậy thì uống trà đi!

Vị tăng khác đến, Sư hỏi:

- Ông từng đến đây chăng?

Vị tăng thưa:

- Chưa từng đến.

Sư cũng bảo:

- Uống trà đi.

Vị viện chủ thấy vậy thắc mắc hỏi:

- Từng đến cũng bảo uống trà đi, chưa từng đến cũng bảo uống trà đi, vậy là sao?

Ngài Triệu Châu liền gọi:

- Viện chủ.

Viện chủ đáp:

- Dạ.

Sư cũng bảo:

- Uống trà đi!

Mới nghe thấy giống như thầy trò đùa chơi, nhưng đó chính là đánh thức cho người học sống trở về ngay thực tại đang hiện hữu, không khởi thêm niệm gì khác. Ông đã từng đến đây, có mặt tại đây thì còn hỏi gì nữa, uống trà đi là xong. Vị tăng kia bảo ông chưa từng đến, chưa từng đến vậy ai đang đứng đây? Đang đứng đây tức là đã đến rồi, mà nói chưa từng đến là ông đang nhớ về chuyện quá khứ hôm qua, hôm kia. Hiện tại đang đứng đây thì ông đang ở đây, cho nên cũng uống trà đi, là xong. Vị viện chủ cũng giống như mình, chuyện đến hay chưa đến là việc của người ta, không dính dáng gì tới ông hết. Gọi thì ông biết dạ, ngay đó đủ rồi khỏi phải hỏi thêm chuyện của người chi nữa, cũng uống trà đi là xong.

Chúng ta thấy các Thiền sư rất thực tế, đang ở đây thì có mặt ở đây, nghĩ cái khác là quên mất thực tại đang hiện hữu gọi là mất mình, là mặt trời bị mây che, cần phải tỉnh lại là xong. Có lần Thiền sư Huyền Sa đang ngồi chỉ một điểm trắng ở dưới nền đất, Ngài hỏi ông tăng kế bên:

- Ông có thấy không?

Vị tăng thưa:

- Dạ thấy.

Ngài nhấn mạnh trở lại:

- Ông có thật thấy không?

Vị tăng nói:

- Dạ thấy.

Ngài hỏi thêm lần thứ ba nữa:

- Ông thấy thật không?

Vị tăng nói:

- Dạ thấy.

Ngài Huyền Sa mới bảo:

- Ông cũng thấy, ta cũng thấy. Vì sao nói là chẳng hội?

Như bây giờ bình hoa ở đây, ai cũng thấy mà sao có người ngộ có người chẳng ngộ? Hai người đồng thấy một điểm trắng rõ ràng, nhưng Thiền sư thì ngộ còn vị tăng chẳng ngộ, là vì vị tăng thấy nó nhưng lại chạy theo nó nên quên mất chính mình. Chúng ta ở đây cũng vậy, nhìn thấy bình hoa rồi đồng hóa mình với bình hoa nên quên mất thực tại. Học thiền rất đơn giản, thực tế ngay trong cuộc sống, ngay nơi thực tại đây thôi. Nhưng chúng ta không thấy được là do tâm mình quen tưởng tượng xa xôi.

Có lần một học giả đến học đạo với Thiền sư Việt Khê, người Nhật Bản. Ông tha thiết hỏi về thiền đạo:

- Bạch thầy! Con đã nghiên cứu về Phật học, Nho học hơn hai mươi năm. Những điều đó con hiểu rất nhiều, nhưng còn một điểm con chưa rõ biết là thiền đạo. Xin thầy giải thích cho con hiểu về thiền đạo.

Ngay đó Thiền sư Việt Khê tát cho một tát tay. Ông bực tức bỏ đi, đến gặp vị thủ tọa ở trong chùa. Vị thủ tọa thấy vẻ bực bội của ông, biết có chuyện nên Ngài cũng nhẹ nhàng bảo:

- Có việc gì vậy? Người học thiền cần phải bình tĩnh, có việc gì mà phải bực bội, thôi ông hãy ngồi đây uống tách trà đi.

Ông nghe vậy cũng hơi cởi mở, ngồi xuống uống trà với Ngài thủ tọa. Trong khi ngồi uống trà thì ông liền tuôn ra những lời bực bội về Thiền sư Việt Khê, đến hỏi đạo chưa gì bị tát cho một bạt tay. Bất chợt, vị thủ tọa cũng đánh vào tay ông, tách trà rơi xuống đất vỡ tan.

Vị thủ tọa mới nói:

- Vừa rồi ông nói là hiểu được Phật học, Nho học chỉ còn có chút thiền đạo là ông chưa hiểu thôi. Bây giờ đây tôi đã đem thiền đạo cúng dường cho ông rồi, ông có biết cái gì là thiền đạo chăng?

Lúc đó ông ngơ ngẩn không biết gì. Ông nghĩ Thiền đạo gì đâu, chưa chi đã bị đánh, tách trà rớt xuống đất. Vậy là cái gì chứ?

Vị thủ tọa hỏi lại lần nữa, ông cũng không biết. Vị thủ tọa mới nói:

- Thật là không xứng cho ông thấy thiền đạo của chúng ta.

Vị thủ tọa bèn cúi xuống nhặt những mảnh vỡ của tách trà lên, lấy giẻ lau khô nước trà ở trên nền đất. Rồi bảo:

- Ngoài những thứ này ra còn có thiền đạo nào nữa không?

Ngay đó ông liền tỉnh ngộ. Ông ở lại tham thiền với Thiền sư Việt Khê.

Vậy thiền đạo ở chỗ nào? Đa số người đi học thiền, cứ nghĩ thiền đạo là cái gì cao siêu trên trời trên mây. Trong khi đó Thiền sư chỉ rất là đơn giản, ngay chỗ việc làm hàng ngày của mình đây, như tách trà rớt xuống, lượm lên lau khô nước. Mọi cử chỉ chúng ta làm trong tỉnh giác, sáng suốt thì đó là thiền đạo. Sống ngay thực tại hiện tiền sáng ngời đó là thiền đạo. Như chúng ta đang làm bếp nấu nướng, làm trong tâm sáng suốt tỉnh táo đó là thiền đạo.

3. Buông chổ duyên

Do tâm con người cứ đuổi theo duyên bên ngoài, nhớ cảnh nhớ đối tượng, tâm luôn bám víu nên quên mất thực tại. Bây giờ khéo buông những chỗ tâm duyên theo đó thì sống trở về thực tại. Kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy: "Những người tu hành chẳng thể thành tựu được Vô thượng Bồ-đề, cho đến thành Thanh văn, Duyên giác hay làm quyến thuộc của ma, là đều do không biết được hai thứ căn bản, nên tu học lầm lộn.

Thứ nhất là căn bản sanh tử từ vô thủy đến nay, tức các ông cùng chúng sinh dùng tâm phan duyên làm tự tánh. Thứ hai là thể Bồ-đề Niết-bàn thanh tịnh sẵn có từ vô thủy, là thức tinh nguyên minh hay sanh ra các duyên mà bị các duyên bỏ sót. Do chúng sinh bỏ sót cái sáng suốt sẵn có nên trọn ngày tu hành mà không tự giác được".

Cái biết nguyên vẹn, sáng ngời (thức tinh nguyên minh) hay sanh các duyên tức là nó biết cái này, biết cái kia, biết đủ thứ hết. Nhưng khi nó biết cái nào rồi thì nó chỉ nhớ cái đó thôi, mà quên mất chính nó gọi là các duyên bỏ sót. Cũng như nó biết bình hoa thì nó chỉ nhớ bình hoa mà quên mất chính nó, tức bị các duyên bỏ sót. Cho nên, tu hành trọn ngày mà không có giác ngộ. Bây giờ chúng ta khéo tu chỉ chuyển lại, nó biết cái này, biết cái kia, biết tất cả hết, nhưng không bỏ sót chính nó. Chúng ta học thiền, chỉ khéo buông những chỗ duyên đó, luôn luôn nhớ lại chính nó để nhận trở lại cái "gốc biết". Như vậy, chúng ta cũng thấy nghe, hiểu, biết rõ ràng nhưng luôn luôn sáng ngời, đó gọi là trở về nguồn, sống với thực tại. Ngược lại, chúng ta sống mà đánh mất chính mình gọi là sống mà giống như chết, sống thiếu chủ.

Hàng ngày chúng ta sống là ai sống? Mình sống, nhưng hỏi cái gì là mình thì không biết, đó gọi là sống thiếu hồn. Có vị thầy Tây Tạng, khi qua Tây phương thấy trong nghĩa địa có những ngôi mộ xây cho người chết rất khang trang, tốt đẹp. Vị thầy Tây Tạng mới nói với những người đi theo: "Ở đây người ta xây những ngôi nhà rất tốt đẹp cho những xác chết. Rồi cũng xây những ngôi nhà rất sang trọng cho những xác sống". Qua đây vị thầy Tây Tạng muốn nhắn nhủ cho chúng ta điều gì?

Ngoài nghĩa địa là những xác chết, còn đây là những xác sống. Tức là những người còn sống mà thiếu đi cái hồn thì giống như xác, cái xác biết đi, biết đứng, biết cử động, tới lui nhưng thiếu cái hồn nên gọi là xác sống. Như vậy nếu có mặt ngay chỗ đó, nghe vậy chúng ta thấy cũng hổ thẹn. Vì chúng ta sống mà giống như những cái xác biết cử động, biết tới lui nhưng thiếu cái hồn. Vậy chúng ta phải sống sao để thật sự gọi là có hồn, nếu không thì là những xác sống. Chúng ta sống có chủ thì cuộc sống mới sinh động đầy đủ ý nghĩa sống.

Có người phê bình đạo Phật là chán đời nói cái gì cũng vô thường, giả dối không thật. Đó là vì người nghiên cứu chưa tới, chỉ thấy trên lý thuyết Phật nói mọi thứ là giả nhưng không thấy được cái chân thật mà Phật muốn chỉ bày cho con người. Sống với cái chân thật đó mới thấy đời sống chúng ta có giá trị, nếu không thì cuộc đời này vô vị lắm. Người tu mà hiểu đúng ý nghĩa Phật pháp thì rất vui vẻ tươi sáng. Hình ảnh các vị Bồ-tát như Bồ-tát Quán Âm, Bồ-tát Văn Thù, Bồ-tát Phổ Hiền các ngài đâu có buồn. Nghi dung các ngài rất trang nghiêm thanh tịnh ai nhìn vào cũng muốn phát tâm tu theo. Do đó, chúng ta tu Phật phải biết được giá trị của Phật pháp, dạy con người khéo sống trở về ý nghĩa chân thật, đừng tìm kiếm xa xôi.

Tổ Lâm Tế khai thị cho học nhân như sau: "Người học hiện nay chẳng nhận được, là bệnh ở chỗ nào? Bệnh ở chỗ chẳng tự tin. Nếu các ông tự tin chẳng kịp, liền lăn xăn theo tất cả cảnh chuyển, bị muôn cảnh khác chi phối chẳng được tự do. Còn nếu các ông hay thôi những niệm rong ruổi, thì liền cùng Phật Tổ không khác". Chúng ta cũng luôn đang đi tìm tâm phải không? Nếu là tâm mình thì sao lại đi tìm? Vậy ai đi tìm? Đó gọi là đem tâm đi tìm tâm. Như Diễn-nhã-đạt-đa ôm đầu mà chạy la lên tôi mất đầu rồi, giống như người điên. Vậy thì chúng ta có làm chuyện này không? Nếu không điên thì khỏi đi tìm. Nhiều khi chúng ta thấy người khác làm giống như chuyện điên, nhưng kiểm lại không ngờ mình cũng điên theo. Tâm chúng ta do mê lâu đời quá nên quên, bây giờ lại đem tâm đi tìm tâm. Đến khi tỉnh trở lại, mới thấy chúng ta xưa nay đầy đủ hết, đâu có thiếu gì.

Ngài Lâm Tế nhắc thêm: "Các ông muốn biết được Phật Tổ chăng, chỉ là người đang nghe pháp ở trước mặt ông đó. Người học tin chẳng kịp liền hướng ra ngoài chạy tìm kiếm, dù cho tìm kiếm được đều là tướng thù thắng của văn tự, trọn chẳng được ý Tổ sống". Ngài Lâm Tế nhắc chúng ta muốn biết được lẽ thật cùng Phật Tổ không khác, thì chính là "người đang nghe pháp ở trước mặt" thôi. Chính đó là lẽ thật.

Phật Tổ giác ngộ cũng giác ngộ ngay chỗ đó, không đâu khác. Do người học tin chẳng kịp, mới hướng ra ngoài chạy tìm kiếm, lo học Phật, học Bồ-tát, tìm thấy Phật, Bồ-tát v.v... nhưng học được những cái đó là Phật, Bồ-tát gì? Phật, Bồ-tát trong kinh điển, trong sách vở; học Phật trong kinh Kim Cang, kinh Pháp Hoa. Còn Phật, Bồ-tát sống là đang ngồi nghe đây. Chúng ta có giải nghĩa được Phật, Bồ-tát thế này thế kia cũng là tướng thù thắng của văn tự. Như Phật là giác, giác gồm có tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Bồ-tát là hữu tình giác, vừa giác cho mình rồi giác hữu tình, là giác cho người. Giải thích rất hay nhưng hỏi Phật, Bồ-tát ở đâu thì không biết.

Có lần Quốc sư Huệ Trung nói chuyện với một pháp sư thời Đường, là Cung Phụng Tử Lân.

Quốc sư hỏi:

- Phật nghĩa là gì?

Ông giải thích:

- Phật nghĩa là giác.

Ngài hỏi lại:

- Vậy Phật có từng mê hay không?

Ông đáp:

- Chẳng từng mê.

Quốc sư Huệ Trung gạn lại:

- Vậy thì dùng giác để làm gì?

Ông trả lời không được.

Như vậy, vị pháp sư chỉ hiểu trên văn tự, nên chưa thấy Phật. Đó là muốn nhắc cho những người học Phật, phải học sao cho thấu được ý nghĩa sống của Phật, chứ không phải chỉ học trên văn tự. Phật chẳng từng mê, vậy dùng giác để làm gì? Nếu người khéo thì cũng có câu trả lời: do chúng sinh mê nên dùng giác để giác ngộ cho chúng sinh. Chúng ta học Phật là học đến những cái gọi là Phật pháp sống, chứ không phải chỉ học trong văn tự, chữ nghĩa.

4. Tóm kết

Thiền là sống ngay thực tại, trả về cho niệm hiện tiền sáng ngời đây thôi, chứ không gì khác. Nhiều người nghe nói thiền tưởng đâu xa xôi, nên nghe học thiền rồi sợ nắm bắt không tới. Nhưng hiểu kỹ rồi thiền đâu có xa, ngay chỗ chúng ta ngồi hiện thực nơi đây. Có lần Mã Tổ đi dạo ngoài vườn cùng với ngài Hoài Hải, thấy bầy vịt trời bay ngang qua, Mã Tổ liền hỏi:

- Đó là cái gì?

Hoài Hải thưa:

- Bầy vịt trời.

Mã Tổ hỏi:

- Bay đi đâu?

Hoài Hải đáp:

- Bay qua mất rồi.

Mã Tổ liền nắm lỗ mũi Hoài Hải nhéo mạnh một cái. Hoài Hải đau quá la lên. Mã Tổ bảo:

- Sao không nói bay qua đi!

Ngay đó Hoài Hải liền tỉnh ngộ.

Thông thường chúng ta thấy bầy vịt trời, chỉ nhớ bầy vịt trời, cho nên nó bay qua mình cũng nhớ nó bay qua. Vậy thì còn cái gì "đang biết", "đang thấy" hiện hữu đây? Nên Mã Tổ liền nhéo lỗ mũi ngài Hoài Hải một cái. Đau quá, Hoài Hải la lên. Mã Tổ nói: "Sao không nói bay qua đi!". Bầy vịt trời bay qua, nhưng cái gì đang biết đau, la lên đây, nó đâu có bay? Ngay đó Hoài Hải liền tỉnh ngộ. Chính đó là cái đang hiện hữu nơi mình, nó đâu có bay đi.

Cũng như chúng ta ngồi nghe pháp đây, cái gì đang nghe? Chúng ta chăm chú nghe thầy giảng, rồi chỉ nhớ theo tiếng thầy mà quên mất chính mình lúc nào không hay. Cho nên học thiền là phải học trở lại, chứ không phải cứ lo nghe tiếng này tiếng kia rồi quên mất chính mình. Đây là phải khéo sống trở về với thực tại luôn hiện hữu. Nhưng do con người có thói quen tưởng tượng, suy lường nhiều quá thành ra thấy thiền xa lạ. Chính Hòa thượng Tôn sư cũng nói: "Thiền tông thực tế đến không ngờ", tức là sát với chúng ta đến không ngờ. Chúng ta đang ngồi có mặt đây, vậy còn phải tìm gì nữa? Lẽ thực là vậy, nhưng vì "quá thực" thành ra chúng ta cho đó là lạ. Bây giờ hiểu rõ được lẽ thực, luôn soi trở về chính mình để sống với lẽ thực đó thì không còn bị lầm nữa.

Đây xin kết thúc bằng câu chuyện thiền: Thiền sư Vô Trụ phó chúc cho người đệ tử tên Vô Hữu một công án thiền như sau:

Ngày xưa có một người đang đứng ở trên một ngọn đồi cao. Ở dưới có ba người du khách đi ngang qua đường nhìn lên thấy người kia đang đứng ở trên đồi. Ba người đi ở dưới mới bàn với nhau.

Một người nói:

- Chắc là anh ta đang mất vật gì thân yêu, cho nên anh đứng đó kiếm.

Một người khác nói:

- Theo tôi, chắc là anh ta đang đợi một người bạn thân nào đó.

Người nọ nói:

- Tôi trông thấy dáng vẻ của anh ta giống như đang đứng thưởng thức không khí mát mẻ trên cao.

Ba người tranh luận hoài không ra lẽ, mới đi lên trên đỉnh đồi gặp ngay anh đó hỏi.

Người thứ nhất hỏi:

- Này anh bạn, có phải anh đang mất một vật gì quý hay không?

Người kia đáp:

- Không, tôi không có mất gì hết.

Người thứ hai hỏi:

- Vậy là anh đang chờ người bạn thân nào đó phải không?

Anh ta nói:

- Không, tôi cũng không có chờ ai hết.

Người thứ ba hỏi:

- Vậy thì anh đang đứng đây hóng mát chớ gì?

Anh ta nói:

- Cũng không phải luôn.

Ba người mới cùng gạn hỏi:

- Vậy thì tại sao anh bạn đứng đây, mà chúng tôi hỏi cái gì anh cũng nói không phải hết?

Anh kia nói:

- Tôi đứng đây chỉ là đứng đây thôi!

Rất là đơn giản, đứng đây chỉ đứng đây thôi. Những người kia là đại diện cho chúng ta đang ngồi đây. Bởi vì trong đầu của chúng ta luôn luôn có vấn đề, cho nên nghĩ người ta đứng đó cũng phải có vấn đề, gọi là suy bụng ta ra bụng người. Như vậy là sống mà quên mất thực tại, lẽ thật người đứng đó là đứng đó thôi, nhưng theo thói quen chúng ta nghĩ đứng đó là phải có vấn đề gì, nên bàn theo những vấn đề do ta suy diễn. Đây là một công án thiền, để nhắc nhở đánh thức cho tất cả người học thiền thấy rõ trong tư tưởng của mình nó quen suy nghĩ, quen có vấn đề, sống mất mình là chỗ đó.

Bây giờ, chúng ta tập sống trở về thực tại, "ngay đây và bây giờ" đây. Cửa giác ngộ đang mở sẵn cho mình. Chúng ta nghe nói giác ngộ tưởng đâu xa xôi, nghĩ đó là chuyện dành cho Phật, còn mình chắc không có phần. Nhưng Phật ra đời để giác cho chúng sinh, kinh Pháp Hoa Phật nói: "Bản hoài của Phật ra đời, là để khai thị cho tất cả chúng sinh ngộ nhập tri kiến Phật". Bản hoài của chư Phật ra đời là để đánh thức cho chúng sinh chân lý giác ngộ có sẵn nơi mình. Ngay nơi tâm là Phật, Phật cũng từ tâm mà Ngài giác ngộ, chúng ta cũng từ tâm mình mà mình giác ngộ. Giác ngộ ở nơi tâm chứ không phải ở chỗ khác. Cho nên, không phải tìm giác ngộ ở trong bộ kinh này, bộ kinh kia. Nhiều người cứ tìm giác ngộ ở trong kinh Pháp Hoa, kinh Kim Cang, kinh Hoa Nghiêm, kinh Niết Bàn v.v... mà quên mất giác ngộ thực là ở ngay nơi tâm mình. Chính đó mới là lẽ thực, là sức sống chân thật có sẵn nơi mỗi người.

Vậy trong đây có ai không có tâm? Ai cũng có tâm tức là có giác. Phật Tổ thấy được lẽ thật đó, nên thương xót chúng sinh tìm mọi cách để nhắc nhở, đánh thức cho tất cả đồng giác ngộ, sáng lên lẽ thật của chính mình. Ngài Lâm Tế nói: "Người học hiện nay sở dĩ không nhận được, là bệnh ở chỗ thiếu tự tin". Đó là đem lại một sức mạnh cho chúng sinh, mỗi người đều có tâm, đều có chân lý giác ngộ sẵn nơi mình. Gốc của chúng ta là giác ngộ chứ không phải là chúng sinh. Chúng sinh là tên gọi tạm lúc còn mê, khi giác rồi chúng ta là Phật. Chúng ta có đủ niềm tin để vươn lên, không nên mặc cảm mình là chúng sinh nghiệp nặng, khó mong giác ngộ. Phật đã chỉ rõ tất cả đều có Phật tánh, đều có tánh giác. Trong kinh Kim Cang, Phật nhấn mạnh: "Chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh, đó gọi là chúng sinh". Phật không nói chúng sinh cố định là chúng sinh, mà ngài nói chúng sinh tức chẳng phải chúng sinh, đó tạm gọi là chúng sinh thôi.

Như vậy, Mình là Phật tánh sáng suốt, nên phải vươn lên, tiến lên. Học thiền là sống trở về với thực tại đang sáng ngời, trở về với cái "ngay đây, bây giờ". Có những triết lý của thế gian bàn cãi về thực tại thế này thực tại thế kia, nhưng còn bàn cãi về thực tại thì chưa thấy thực tại. Nếu đã thấy rồi thì không còn gì để bàn nữa. Còn bàn cãi là còn suy tưởng nên xa rời thực tại. Thí dụ có hai người đang nói về anh A, người nói là anh A đó cao lớn, trắng trẻo. Người nói anh A đó cũng hơi lùn lùn, da ngâm ngâm. Rồi cãi nhau hoài không ra lẽ, là vì lúc đó anh A không có mặt ở đó. Nếu thực sự anh A có mặt, chỉ cần chỉ ngay anh bảo: "Đây này!" là xong, không cần cãi. Cũng vậy, người đã thấy rõ thực tại ngay đây thì không phải cãi, còn cãi nhau về thực tại là chưa thấy thực tại. Vì vậy người học thiền cứ lo cãi nhau về thiền thì cũng chưa thấy thiền.

Thực tế, "thiền là ngay đây, bây giờ". Mong tất cả nhận được lẽ thật này, thật sống với thiền sống, chứ không phải sống với thiền chết, để quên mất thực tại sáng ngời ngay đây!

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.