bài viết trong chuyên mục "Tịnh Độ"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tịnh Độ. Hiển thị tất cả bài đăng

BỐN MƯƠI TÁM ĐẠI NGUYỆN 
CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ  
Hán dịch: Tào Nguỵ, Pháp Sư Khương Tăng Khải 
Việt dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
1.Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

2.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sau khi mạng chung còn trở lại ba ác đạo thì tôi chẳng lấy ngôi chán giác.

3.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều thân màu vàng ròng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

4.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sắc thân chẳng đồng có kẻ xấu người đẹp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

5.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng biết túc mạng, tối thiểu là biết sự việc trong trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

6.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhãn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

7.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhĩ, tối thiểu là nghe lời thuyết pháp của trăm ngàn ức na do tha chư Phật và chẳng thọ trì hết, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

8.Giả sư khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được tha tâm trí, tối thiểu là biết tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức na do tha cõi nước, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

9.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thần túc, tối thiểu là khoảng một niệm qua đến trăm ngàn ức na do tha nước Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

10.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi nếu sanh lòng tưởng nghĩ tham chấp thân thể thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

11.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn ở nước tôi, chẳng an trụ định tụ quyết đến diệt độ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

12.Giả sử khi tôi thành Phật, quang minh có hạn lượng, tối thiểu chẳng chiếu đến trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

13.Giả sử khi tôi thành Phật, thọ mạng có hạn lượng, tối thiểu là trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

14.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thanh Văn trong nước tôi mà có người tính đếm được, nhẫn đến chúng sanh trong cõi Đại Thiên đều thành bực Duyên Giác cùng nhau chung tính đếm suốt trăm nghìn kiếp mà biết được số lượng ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

15.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi thọ mạng không ai hạn lượng được, trừ họ có bổn nguyện dài ngắn tự tại. Nếu chẳng như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

16.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi mà cón nghe danh từ bất thiện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

17.Giả sử khi tôi thành Phật, mười phương vô lượng chư Phật chẳng đều ngợi khen xưng tụng danh hiệu của tôi thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

18.Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

19.Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát tâm Bồ đề tâm, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước tôi. Lúc họ mạng chung, tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

20.Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu của tôi, chuyên nhớ nước tôi, trồng những cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh về nước tôi mà chẳng được toại nguyện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

21.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhơn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

22.Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi nước khác sanh về nước tôi rốt ráo tất cả đến bực nhứt sanh bổ xứ. Trừ người có bổn nguyện tự tại hóa độ, vì chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ chứa công đức độ tất cả, đi qua các nước Phật tu hạnh Bồ Tát, cúng dường chư Phật mười phương, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh khiến họ đứng nơi đạo chánh chơn vô thượng, vượt hơn công hạnh của hạng tầm thường, hiện tiền tu công đức Phổ Hiền. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

23.Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi thừa thần lực Phật đi cúng dường chư Phật, khoảng bữa ăn nếu không đến khắp vô số vô lượng ức na do tha cõi nước thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

24.Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi ở trước chư Phật hiện công đức mình, nếu những thứ dùng để cúng dường không có đủ theo ý muốn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

25.Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng thể diễn nói nhứt thiết trí thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

26.Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng được thân Kim Cương Na la diên thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

27.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn và tất cả vạn vật trong nước tôi trang nghiêm thanh tịnh sáng rỡ hình sắc đặc biệt lạ lùng vi tột diệu không ai lường biết được, dầu là có thiên nhãn mà biện biệt được danh số ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

28.Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, nhẫn đến người công đức ít nhứt mà chẳng thấy biết đạo tràng thọ màu sáng vô lượng cao bốn trăm muôn dặm thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

29.Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi nếu đọc tụng thọ trì diễn thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

30. Giả sử khi tôi thành Phật, trí huệ biện tài của Bồ tát trong nước tôi mà có hạn lượng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

31.Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi thanh tịnh soi thấy tất cả vô lượng vô số bất khả tư nghị thế giới chư Phật mười phương, như gương sáng soi hiện hình gương mặt, nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

32.Giả sử khi tôi thành Phật, từ mặt đất lên đến hư không, những cung điện, lâu đài, ao nước, cây hoa, tất cả vạn vật trong nước tôi đều dùng vô lượng châu báu, trăm ngàn thứ hương hiệp lại làm thành xinh đẹp kỳ lạ hơn hàng thiên nhơn. Hương ấy xông khắp vô lượng thế giới mười phương. Bồ Tát nghe mùi hương ấy đều tu hạnh Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

33.Giả sử khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương, được quang minh tôi chiếu đến thân, thân họ nhu nhuyến hơn hẳn hàng thiên nhơn. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

34.Giả sử khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi mà chẳng được Bồ Tát vô sanh pháp nhẫn các thâm tổng trì thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

35.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng nữ nhơn của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi vui mừng tin ưa phát tâm Bồ đề nhàm ghét thân người nữ, nếu sau khi chết mà họ còn sanh thân người nữ lại thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

36.Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong vô lượng bất tư nghì thế giới mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi sau khi thọ chung thường tu phạm hạnh đến thành Phật đạo. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

37.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn trong vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi rồi năm vóc gieo xuống đất cúi đầu vái lạy vui mừng tin ưa tu hạnh Bồ Tát thì được chư Thiên và người đời đều kính trọng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

38.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi muốn được y phục liền tùy nguyện hiện đến, y phục đẹp đúng pháp như Phật khen ngợ tự nhiên mặc trên thân. Nếu còn phải may cắt nhuộm giặt thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

39.Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi hưởng thọ khoái lạc chẳng như bực lậu tận Tỳ Kheo thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

40.Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát nước tôi tùy ý muốn thấy vô lượng nước Phật trang nghiêm thanh tịnh mười phương thì liền được toại nguyện, đều được soi thấy ở trong những cây báu, như thấy mặt mình hiện rõ trong gương sáng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

41.Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó đến lúc thành Phật nếu các căn thân còn thiếu xấu chẳng được đầy đủ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

42.Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được thanh tịnh giải thoát tam muội, khoảng một lúc phát ý, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, mà không mất tâm chánh định. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

43.Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, sau lúc thọ chung sanh nhà tôn quý. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

44.Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hớn hở tu hạnh Bồ Tát đầy đủ cội công đức. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

45.Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được phổ đẳng tam muội, an trụ trong tam muội nầy đến lúc thành Phật thường thấy vô lượng bất khả tư nghị tất cả chư Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

46.Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở trong nước tôi tùy chí nguyện của mỗi người muốn được nghe pháp liền tự nhiên được nghe. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

47.Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đến bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

48.Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đệ nhứt nhẫn, đệ nhị nhẫn và đệ tam pháp nhẫn, nơi các Phật pháp chẳng liền được bực bất thối chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

(Pháp Hội Vô Lượng Thọ Như Lai Thứ Năm Kinh Đại Bảo Tích 
Hán bộ từ quyển thứ 17 đến hết quyển thứ 18)

PHẬT GIÁO VỚI QUAN NIỆM CẦU AN, CẦU SIÊU
(CTV)

cauancausieuRõ ràng, mình chính là vị cứu rỗi cho chính mình, chứ không hề có một năng lực nào khác nữa. Vậy thì, tại sao trong sinh hoạt của đạo Phật lại có mặt lễ cầu an và cầu siêu? Có phải điều đó đi trái lại với tinh thần đức Phật đã chỉ dạy? Có phải ta đang giao phó toàn bộ cuộc đời cho một đấng khuất mặt nào đó?
Đức Phật đã đặt toàn bộ con đường vào đôi chân của chúng ta, và chính chúng ta phải tự đi trên những hướng đường để đến đích. Thế Tôn không phải là một vị thần linh ban ân sủng hay trừng trị bất kỳ ai. Ngài chỉ là vị thầy thuốc trị liệu thân tâm tài giỏi, đã bào chế ra rất nhiều bài thuốc hay. Ngài cũng chỉ là một vị dẫn đường tốt, luôn chỉ dẫn con đường đúng đắn và an toàn nhất cho mọi người về nơi an toàn. Uống thuốc hay đi theo con đường đó không, là tùy vào sự nhận thức và trách nhiệm của mỗi người (Kinh Di Giáo).
Toàn bộ giáo lý ngài truyền trao lại chính là những bài thuốc và con đường dẫn đến hạnh phúc ấy. Việc còn lại là chính tự thân mỗi chúng ta tự quyết định lấy.
Chúng ta hãy lắng lòng để cảm nhận thêm một điều mà bậc thầy của trời người đã từng khẳng quyết:“Những ai sau khi Như Lai diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một pháp gì khác; dùng Chính pháp làm ngọn đèn, dùng Chính pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy là những vị tối thượng” (Trường bộ, Kinh Đại Bát Niết Bàn, thứ 16). Chúng ta, những đệ tử Phật, hiểu gì qua những lời dạy ngắn ngủi đó?
Rõ ràng, mình chính là vị cứu rỗi cho chính mình, chứ không hề có một năng lực nào khác nữa. Vậy thì, tại sao trong sinh hoạt của đạo Phật lại có mặt lễ cầu an và cầu siêu? Có phải điều đó đi trái lại với tinh thần đức Phật đã chỉ dạy? Có phải ta đang giao phó toàn bộ cuộc đời cho một đấng khuất mặt nào đó?
Mỗi một chúng ta đều chứa đầy đủ hạt giống của từ bi và trí tuệ, nhưng bên cạnh đó cũng xen lẫn rất nhiều hạt giống xấu ác. Chính hạt giống xấu ác này, nếu được chăm sóc kỹ lưỡng và thường trực thì sẽ nẩy mầm lớn mạnh, sẽ khỏa lấp tất cả những tâm thức tốt đẹp.
Cần có một sức mạnh để chuyển hóa. Người chuyển hóa giống như một người nông dân cầy ruộng và gieo hạt, biết cầy thế nào là đúng cách, khi nào là đúng thời và gieo những hạt giống nào trong thời tiết nào để nó phát triển tốt và cho năng suất cao.
Sự chuyển hóa ấy đôi lúc cũng cần đến những tác động bên ngoài, cũng giống như người bệnh cần thuốc để điều trị, người lạc lối cần nghe theo người dẫn đường thông minh.
Chúng ta cũng cần một lời kinh thức tỉnh, một người thầy khai sáng để tâm trí được đánh thức sau những tháng ngày dong ruổi ngủ mê quên đường về an trú trong hạnh phúc chân thật. Cầu an hay cầu siêu là một trong những pháp thực tập để ta nhận ra những nhiệm mầu và nhận ra sự trở về chân thật đó.
Tổ chức một buổi lễ cầu an hay cầu siêu tại nhà hoặc tại chùa, đó là việc làm rất ý nghĩa, rất có giá trị, nếu chúng ta thực hiện với suy nghĩ chân chính (Chính tư duy) và cái nhìn đúng đắn (Chính kiến).
Trước tiên, chúng ta nói về mục đích Cầu An.
Cầu An là hai từ ngắn ngủi nhưng bao hàm nhiều nghĩa. Từ “An” thì ai cũng hiểu rồi. An tức là sự an ổn, an lạc, thanh thản, bình yên, chung quy là tất cả những gì đem tới sự thảnh thơi trong cuộc sống chén cơm, manh áo, bát gạo, đồng tiền, trên phương diện vật chất lẫn tinh thần. Còn chữ “Cầu” theo quan niệm Phật giáo thì thật rộng rãi và sâu sắc. Cầu ở đây không phải là cầu xin, là van xin, là quỵ lụy trước một đấng thần siêu hình có khả năng hô mưa gọi gió, ban ơn giáng nạn.
Cầu có nghĩa là mơ ước, là mong muốn, là nguyện vọng, là hướng nhìn về một vấn đề gì. Mình mơ ước học giỏi thì không thể chỉ ngồi đó mà ảo vọng từ năm này qua năm khác, phải cần nỗ lực học tập thì ước mơ đó mới có thể thành sự thật. Mình mong muốn có một cuộc sống đầy đủ thì không thể ngày nào cũng lười biếng nhác nhớm chẳng chịu làm việc, hay la cà quán rượu quán cà phê mà thèm khát một tương lai tươi sáng được. Phải hết lòng làm việc dựa trên khả năng, sức lực và nhân đức của mình thì mong muốn ấy mới không còn là giấc mơ, nó sẽ thành sự thật. Cũng vậy, khi nguyện vọng, ao ước về một cuộc đời bình an cả vật chất lẫn tinh thần thì mình phải biết cách sống trọn vẹn với tâm nguyện đó.
Thường thường chúng ta suy nghĩ rằng, khi nào gia đình thật sung túc về tiền bạc thì khi đó gia đình mới yên ổn ấm no được. Hẳn nhiên, tiền bạc của cải là một trong những nhân tố không thể thiếu để quyết định vào đời sống của chúng ta. Nhưng bạn thử đi tới một ông giám đốc, một vị bộ trưởng để hỏi thẳng: Ông có cảm thấy hạnh phúc và an lạc thật sự hay không? Người đó có thể sẽ trả lời bạn bằng một cái lắc đầu, họ không trả lời bằng miệng. Cái lắc đầu đó cho bạn biết họ rất thiếu thốn về một cuộc sống bình dị yên ổn. Cái vỏ bọc bên ngoài vẫn thường đánh lừa chúng ta rất tài tình. Nhà càng lớn họ càng thấy cô đơn trống vắng. Địa vị càng cao họ càng thấy lo lắng sợ hãi.
Trong lúc đó, có những người nông dân, những thợ thuyền tầm thường lại được sống rất nhẹ nhàng thoải mái bên cạnh gia đình mình. Có thể vật chất họ không đầy đủ, nhưng hạnh phúc họ là vô bờ bến. Và chính hạnh phúc trong tâm hồn đã nuôi dưỡng, đã vỗ về, đã chỉ dạy cho cả gia đình họ nhận ra được giá trị chính thực của cuộc đời, thấy được bạc tiền không phải là thước đo của hạnh phúc, mà một nội tâm vui vẻ, người thân hòa đồng quý trọng nhau mới là hạnh phúc rất thật. Họ là những người biết “thiểu dục tri túc”, ít tham muốn và luôn luôn biết vừa đủ. Những nhà nghiên cứu tâm lý đạo đức cũng từng xác định về vấn đề này:
“Trong lĩnh vực khoái cảm vật chất, khoái cảm càng mạnh thì càng ngắn ngủi. Cường độ của khoái cảm tỷ lệ nghịch với độ dài thời gian tồn tại. Trong lĩnh vực những khoái cảm về tinh thần, nhân tố thời gian có một vai trò hoàn toàn khác: thời gian tác động có lợi cho con người. Ở đây không có qui luật tỷ lệ nghịch, ngược lại, cường độ khoái cảm càng cao trong lĩnh vực này thì nó càng kéo dài” (Banzeladze, Đạo đức học, Nxb. Hà Nội, 1985).
Đó mới là cái An mà đệ tử Phật cần Cầu.
Cha mẹ luôn thương yêu nhau. Con cái luôn quý mến cha mẹ. Mọi người trong gia đình luôn biết ngồi lại chia sẻ, lắng nghe nhau trong sự cảm thông sâu sắc, trong sự tin tưởng tuyệt đối, trong sự không phán xét tất cả niềm vui nỗi buồn. Thực tập như vậy chúng ta sẽ đi dần đến và sống chung với hạnh phúc bền vững. Sự an lạc đâu cần phải tìm kiếm từ bên ngoài. Chính mỗi một thành viên trong xã hội này đều có thể tự tạo dựng cho mình đời sống an ổn và hạnh phúc đúng nghĩa. Sẽ chẳng bao giờ có hạnh phúc đúng nghĩa, nếu lòng chúng ta chưa an. An ổn và hạnh phúc đó được bồi đắp trên tình thương, sự tôn trọng, sự bảo vệ mạng sống và sức khỏe của nhau, nghĩa là chúng ta phải thực tập năm giới căn bản của đệ tử Phật: Không giết hại, không trộm cắp, không tà hạnh trong các dục, không nói dối, không uống rượu bia và sử dụng các chất gây rối loạn tâm trí.
Buổi lễ cầu an để nhắc nhở chúng ta một lần nữa ý thức rõ rệt về vấn đề thực tế này.
Bây giờ, chúng ta nói về mục đích Cầu Siêu.
Cầu Siêu là một việc làm tâm linh, vì vậy, chúng ta cần đem toàn bộ tâm linh ra để thực hiện. Tâm linh tất là tấm lòng sáng suốt, thấy được bản chất của cuộc đời khi mình biết vận dụng tâm trí một cách đầy hiểu biết và đúng phương pháp. Cầu siêu, đó cũng là cơ hội để chúng ta nhìn lại vào tự thân, nhìn lại ý nghĩa mình có mặt trên cuộc đời.
Khi nói đến cầu siêu, chúng ta sẽ nghĩ ngay đến một nghi thức hành lễ chỉ để dành riêng cho người thân quá cố, với ước mong thông qua buổi lễ, người thân yêu đã mất của mình nhờ vào uy thần Tam Bảo tiếp dẫn mà được sinh về một cõi tốt đẹp nào đó, như thế giới Cực lạc của đức Phật A Di Đà, thế giới thanh tịnh trang nghiêm của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai.
Ước nguyện đó vô cùng chính đáng và cần được thực tập trong cuộc sống. Nhưng giá trị một buổi lễ cầu siêu không chỉ có như vậy mà thôi. Sự cầu nguyện bằng một thời kinh cùng sự thành tâm của chư Tăng, của gia đình sẽ tạo ra những năng lượng truyền thông tốt. Năng lượng truyền thông ấy có thể ví như một làn gió mát thổi qua sa mạc nóng bức, như chén nước thơm trong cho kẻ đi đường cơ khát, như ngọn lửa sưởi ấm lòng những mùa đông. Sự cầu nguyện sẽ tác động mạnh mẽ lên tâm thức của người quá cố cũng như của người sống còn, khiến họ biết hướng tâm về điều thiện, hướng tâm về nẻo sáng để có được những chuỗi ngày tiếp theo được sống trong hạnh phúc và bình yên siêu thoát.
Người nhà trong lúc phát tâm hành lễ cầu siêu, sẽ có cơ hội tiếp xúc với những người thân yêu đã qua đời trong bao nhiêu thế hệ. Mình sẽ thấy mình là sự tiếp nối rõ rệt nhất trong dòng chảy huyết thống của gia đình. Giống như một đóa hoa sau khi tỏa hương dâng hiến cho đời, sẽ héo tàn và rụng xuống miền đất lạnh. Thông thường chúng ta nghĩ rằng đóa hoa đó đã tàn, đã chết, đã mất hẳn trên cuộc đời. Nhưng mà sự thật thì không phải vậy. Nếu quan sát kỹ, nếu có cái nhìn đúng, chúng ta phải thấy rằng, đóa hóa đó rụng xuống, hòa tan vào đất, hóa thành phân bón và trở lại nuôi dưỡng cây, để cái cây tiếp tục phát triển và nở những đóa hoa hiến dâng cho cuộc đời tiếp theo. Một đóa hoa như thế thì làm sao mà chết, mà mất hẳn được. Đóa hoa trước đã hóa thân rất nhiệm mầu, đã có mặt rất nhiệm mầu trong những đóa hoa tiếp theo. Cuộc tương duyên tồn sinh cứ nối dài mãi mãi. Tổ tiên ông bà cha mẹ chúng ta cũng vậy, khi có cái nhìn đúng về bản chất cuộc đời, chúng ta phải biết rằng họ không bao giờ mất. Tổ tiên ông bà cha mẹ đã hóa thân nhiệm mầu, đã có mặt nhiệm mầu trong mỗi một hơi thở, trong từng tế bào, từng suy nghĩ của con cháu họ. Và chúng ta từ đó không bao giờ cảm thấy mất đi những người thân yêu, chúng ta mãi hoài không bao giờ mồ côi, mãi hoài vẫn cài lên ngực bông hồng tươi thắm.
Cầu siêu là một tiếng chuông nhắc nhở cho tất cả biết rằng, người thân của chúng ta đang có mặt, và ta đang được gặp gỡ, nói chuyện rất thật với họ thông qua thân thể và tâm thức ta. Cho nên, thể hiện là một người con có hiếu có tình thì khi người thân của mình qua đời, không có cách gì ý nghĩa hơn bằng việc chúng ta phải chăm sóc cơ thể và tâm thức ta đúng cách, có nghĩa là càng ngày phải nỗ lực khiến nhân cách hoàn thiện, sống biết kính trên nhường dưới, biết quý trọng những thành viên trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Làm được vậy tức là chúng ta đang tiếp nối đời sống tổ tiên ông bà cha mẹ một cách xứng đáng và tròn hiếu đạo. Đừng để khi những người xung quanh mất đi thân mạng rồi mới khóc lóc, hối hận thì thật muộn màng và đáng thương.
Đạo Phật không phải chỉ nói suông. Đức Phật luôn đưa ra những phương pháp thực tập rất cụ thể để mỗi người sống theo. Việc giữ gìn thân thể và tâm thức có nhân cách, điều căn bản chính là việc chúng ta giữ gìn năm giới mầu nhiệm của đệ tử Phật: không được giết hại mạng sống kẻ khác, không được gian tham trộm cắp làm hư hao tài sản kẻ khác, không được tà hạnh trong các dục gây ra đổ vỡ hạnh phúc gia đình, không được nói dối dẫn đến sự chia rẽ ân tình, không được uống rượu bia và sử dụng các sản phẩm độc hại rối loạn tâm trí dẫn đến sự đánh mất tự chủ về lời nói, hành động và suy nghĩ của mình. Giữ gìn năm giới căn bản đó, tức là ta tự đảm bảo được hạnh phúc cho ta, cho gia đình và xây dựng sự hòa hợp thân ái với những người xung quanh, cũng ngay lúc ấy, như đã nói, chính là khi chúng ta thật sự đền đáp được thâm ân nuôi dưỡng dạy dỗ của cha mẹ và tiếp nối dòng dõi tổ tiên ông bà một cách xứng đáng.
Kinh Pháp Hoa kể lại câu chuyện về một vị thầy thuốc nổi tiếng tài giỏi có rất nhiều người con. Trong lúc ông đi xa chữa bệnh, những đứa con ở nhà, do không có hiểu biết chính xác, đã uống nhầm phải các loại thuốc độc. Khi ông trở về nhà thì những đứa con đang rên la thống khổ thân tâm vì bị chất độc xâm hại với rất nhiều biểu hiện tướng trạng bệnh tật khác nhau, khóc la tha thiết xin cha chữa lành bệnh cho.
Vị thầy thuốc mới tìm hiểu bệnh tình, chế biến những loại thuốc quý và hiệu quả lập tức để cứu con mình. Những đứa con tâm trí sáng suốt thì tin vào tài năng cha mình, nhanh chóng uống thuốc và liền khỏi bệnh. Những đứa con mà tâm trí quá rối loạn thì vẫn tin cha mình mà không chịu uống thuốc, cứ bảo rằng đã có cha bên cạnh, mình cần gì phải uống thuốc, thế nào cha cũng có cách khiến mình khỏi bệnh. Vì nhận thức sai lầm đó nên bệnh càng kéo dài và càng thêm hệ lụy.
Người cha biết những đứa con đang ỷ lại nơi mình và sẽ không bao giờ lành bệnh nếu không uống thuốc, nên tìm cách trốn đi và dùng phương tiện nhờ người về báo với những đứa con rằng cha họ đã chết. Những đứa con buồn rầu, biết cha đã chết, không còn cha bên cạnh để cứu mình nữa, mới nhớ đến thuốc cha bào chế, liền uống vào và khỏi bệnh. Nghe tin đó, người cha mới trở về và cho con mình gặp mặt.
Đức Phật và những bậc giác ngộ ví như ông thầy thuốc. Chúng ta, nếu chưa giải thoát, còn mê lầm trong điên đảo tâm, điên đảo tưởng, điên đảo tình, điên đảo kiến thì ví như những đứa con đang trúng độc. Thuốc chính là những giáo lý đưa đến sự đoạn trừ khổ đau do hành động và nhận thức sai lầm về cuộc đời. Hình ảnh uống thuốc ví cho sự thực hành những phương pháp đó.
Phương pháp Phật chỉ bày là để thực tập, để hành trì chứ không phải chỉ để tin, để ỷ lại, để cầu nguyện suông, để hiểu suông, hay chỉ đặt trên bệ thờ mà chiêm ngưỡng. Cầu an, cầu siêu, và tất cả những phương pháp khác, đều là những pháp sống. Đạo Phật là đạo của sự sống, của sự tiến bộ chứ không phải là những nội dung chết khô trên mảng lý thuyết hay nguyện cầu. Chúng ta phải luôn luôn khắc nhớ như vậy.
Đó chính là ý nghĩa cao cả và nhiệm mầu mà mỗi lần phát tâm tổ chức lễ cầu siêu hay cầu an, chúng ta nên nắm vững và thực tập, để buổi lễ thật sự đem lại lợi ích một cách sâu sắc cho người thân yêu đã qua đời cũng như cho người còn sống.

(Phật Tử Việt Nam)

THẾ GIỚI CỰC LẠC
TỊNH ĐỘ NHÂN GIAN TRONG KINH A DI ĐÀ

Thích Nhật Từ 
Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn, TP. HCM 2011

thegioicuclac-bia-content

Khi một hành giả tu Tịnh độ chuyển hoá tận gốc rễ tham ái, hận thù và si mê, gieo trồng vạn thiện công đức: phụng sự xã hội và con người trên tinh thần vô ngã vị tha thì việc sanh về Tây phương không còn quan trọng nữa. Lúc ấy, hành giả đang sống trong cõi Ta Bà với chất lượng cuộc sống của Tịnh độ. Nói cách khác, với chất liệu và chất lượng cuộc sống như vừa nêu, hành giả có mặt ở đâu thì nơi đó được xem là Tịnh độ trần thế. Sau khi phân tích kinh, tác giả đã khẳng định không có yếu tố tha lực trong kinh A-di-đà, dầu chỉ là nghĩa ám chỉ. Theo đó, có thể sự khác biệt căn bản giữa pháp môn Tịnh độ trong kinh A-di-đà và pháp môn Tịnh độ của các vị Tổ sư về tông này. Tu Tịnh độ theo kinh A-di-đà dù có phần khó hơn so với Tịnh độ của các vị tổ sư, nhưng kết quả của sự tu tập và xây dựng Tịnh độ nhân gian khi còn sống và vãng sanh Tịnh độ sau khi qua đời có đảm bảo và chắc chắn hơn. Đó chính là những đóng góp của tác phẩm này.
Mục Lục
Pháp hội và bản chất Tịnh Độ
Tiểu Kinh A Di Đà
Đối tượng pháp hội
Cảnh giới Tây phương
Con đường sanh về Tịnh Độ
Thiết lập Tịnh Độ ở ta bà
Sinh thái và sinh hoạt Tịnh Độ
Tâm linh ở Tịnh Độ
Hạ tầng cơ sở
Mô hình sinh thái
Ao thất bảo và nước tám công đức
Hoa sen bảy báu
Nhạc trời và mưa hoa
Nhặt hoa cúng dường
Ăn trong tỉnh thức
Pháp âm nhiệm mầu
Cư dân cõi Tịnh Độ
Điều kiện vãng sanh
Danh hiệu của Phật A Di Đà
Làm bạn bậc trí
Giá trị của khuyến tấn
Điều kiện vãng sanh
Yếu tố hỗ trợ vãng sanh
Nghệ thuật tán dương
Bản chất của sự tán dương
Nghệ thuật tán dương của Phật Thích Ca
Nghệ thuật tán dương của của chư Phật
Như Lai - Bậc hy hữu trong loài người
Ngũ trược ở cõi Ta bà
Học hạnh tuỳ hỷ của chư Phật
Tông chỉ niệm Phật
Giá trị niệm Phật
Phương pháp niệm Phật
Nắm lấy danh hiệu Phật
Chánh niệm tỉnh thức
Thể nghiệm nhất tâm
Thể nghiệm bất loạn
Xa lìa vọng tưởng điên đảo
Viên kim cương tâm linh
Vượt qua hình ảnh trước cửa tử
Visa nhập cảnh cõi Tịnh Độ
Phụ lục
Kinh A Di Đà
Hạ tải phiên bản PDF của sách "Thế Giới Cực Lạc - Phân tích ứng dụng kinh A Di Đà"

7 CÂU HỎI TÌM HIỂU VỀ PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ
Thích Giác Khang
---- O ----
 1- Đi tu Phật thất, tu pháp môn niệm Phật hay niệm Phật A-Di-Đà mục đích để làm gì ?
 Tu Phật thất, tu pháp môn niệm Phật hay niệm Phật A-Di-Đà mục đích để cầu vãng sanh về xứ Cực lạc của Đức Phật A-Di-Đà.
 2- Xứ Cực lạc của Đức Phật A-Di-Đà ở đâu ?
 Xứ Cực lạc của Đức Phật A-Di-Đà ở hướng Tây, hướng mặt trời lặn, cách đây mười muôn ức cõi. Theo ’sự’, xác định hướng Tây là nhằm giúp cho hành giả có một niềm tin để tu thiền và tịnh được nhất niệm. Vì có được nhất niệm và phát nguyện thì mới cảm ứng đạo giao với Phật A-Di-Đà và sẽ được vãng sanh.
 3- Lấy gì để vãng sanh về xứ Cực lạc của Đức Phật A-Di-Đà ?
 Lấy thần thức để vãng sanh về xứ Cực lạc của Đức Phật A-Di-Đà. Thần thức còn gọi là linh hồn.
 Khi chúng ta còn sống thì thần thức thể hiện qua 6 căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, óc. Khi chết thì xác thân trở về tứ đại, chỉ còn lại thần thức nó bàng bạc khắp mọi nơi trong không gian. Thần thức tỏa ra xa hay gần tùy theo định lực mạnh hay yếu.
 4- Muốn vãng sanh về xứ Cực lạc của Đức Phật A-Di-Đà có mấy điều kiện ?
 Muốn vãng sanh về xứ Cực lạc của Đức Phật A-Di-Đà cần phải có 3 điều kiện : Tín - Hạnh - Nguyện.
 *Tín: là lòng tin, tin phải sâu. Tin có 6 :
1/ Tin tự : tin chính mình niệm Phật đạt nhất niệm thì chắc chắn được vãng sanh về xứ Cực lạc của Đức Phật A-Di-Đà.
2/ Tin tha : tin chắc chắn rằng Đức Phật A-Di-Đà sẽ tiếp dẫn những chúng sanh nào niệm Phật được nhất niệm và có phát nguyện về xứ Cực lạc.
3 + 4Tin nhân và Tin quả : hiện nay ta đã gieo nhân niệm Phật đạt nhất niệm thì sẽ được hưởng cái quả vãng sanh về xứ Cực lạc của Đức Phật A-Di-Đà.
5/ Tin sự : tin có thế giới Cực lạc thật sự ở phương Tây, cách đây mười muôn ức cõi, có Đức Phật A-Di-Đà và chư Thánh chúng. Đức Phật A-Di-Đà và chư Thánh chúng là Chánh báo, còn thế giới Cực lạc là Y báo.
 6/ Tin lý : tức là Chánh báo và Y báo cũng phát hiện từ Chân tâm Phật tánh mà ra.
 Hạnh: là hành chuyên. Hành có 4 điều kiện : rành rõ, tương ưng, chí thành, nhiếp tâm
1/ Rành rõ : rành là từng chữ, từng câu rành rẽ không lộn lạo ; rõ là mình tự nhận lấy tiếng niệm Phật rõ ràng không trại, không mờ.
2/ Tương ưng : là tiếng hiệp với tâm, tâm duyên theo tiếng, tâm và tiếng hiệp khắn khít nhau.
3/ Chí thành : một lòng tha thiết luôn tưởng nhớ đến Phật, như con thơ mắc nạn mà kêu cầu từ mẫu cứu vớt.
4/ Nhiếp tâm : là để tâm vào tiếng niệm Phật, không để tạp niệm xen vào, nếu xao lãng thời liền thâu lại, chăm chú nhận rõ tiếng niệm Phật của mình.
 Nguyện là phải mong mõi về Cực lạc, chí thành tha thiết như viễn khách nhớ cố hương, lúc nào cũng nhớ Phật, tưởng Phật như con thơ nhớ từ mẫu.
5- Tín – Hạnh – Nguyện cái nào có trước, cái nào có sau ?
 Nói về sự: Tín - Hạnh - Nguyện là cái vòng lẩn quẩn, nó cũng giống như cái kiềng ba chân không thể thiếu một. Nhưng tùy theo nhân duyên, hoàn cảnh và trình độ của mỗi người đến với pháp môn Tịnh độ : tín trước hoặc hạnh trước hay nguyện trước.
 Thường thì người sơ cơ đến với pháp môn Tịnh độ bằng tín trước. Tức tin rằng thế giới Cực lạc thật sự ở phương Tây, cách đây mười muôn ức cõi, có Đức Phật A-Di-Đà và chư Thánh chúng. Rồi sau đó mới nhàm chán cõi Ta bà mong mõi về Cức lạc. Mà muốn về Cực lạc phải hành câu niệm Phật cho được nhất niệm.
 Nói về lý: thì Tín - Hạnh - Nguyện có cùng một lúc, không thể nói cái có trước, cái có sau. Vì trong tín có hạnh và nguyện, trong hạnh có tín và nguyện, trong nguyện có tín và hạnh. Tức là ba phương diện của một thực thể.
 6- Tín – Hạnh – Nguyện cái nào quan trọng ?
 Nguyện quyết định cho sự vãng sanh.
 *Tín: nói về phẩm, có bốn :
1/ Tin sự: của người, trời. Vãng sanh về cõi Phàm Thánh đồng cư Tịnh độ thuộc Hạ phẩm.
2/ Tin lý: của 4 bậc Thánh. Vãng sanh về cõi Phương tiện hữu dư Tịnh độ thuộc Trung phẩm.
3/ Tin sự- lý vô ngại pháp giới: của chư Bồ tát. Vãng sanh về cõi Thật báo trang nghiêm Tịnh độ thuộc Thượng phẩm.
4/ Tin sự - sự vô ngại pháp giới: của Như lai. Vãng sanh về cõi Thường tịch quang Tịnh độ thuộc Thượng phẩm.
 Hạnh: nói về sanh, có ba: nếu hành được: 8/24 là Hạ sanh, 16/24 là Trung sanh – 24/24 là Thượng phẩm.
- Người- trời: niệm Phật được nhất niệm: .8/24 là Hạ phẩm- Hạ sanh.
 .16/24 là Hạ phẩm- Trung sanh.
 .24/24 là Hạ phẩm- Thượng sanh.
 - Bốn bậc Thánh: vừa niệm Phật vừa nhận lại Phật tánh. Vô niệm.
 .8/24 là Trung phẩm- Hạ sanh.
 .16/24 là Trung phẩm- Trung sanh.
 .24/24 là Trung phẩm- Thượng sanh.
Bồ tát: vừa niệm Phật vừa tùy thuận giáo hóa chúng sanh. Vô niệm-niệm, niệm-vô niệm: .8/24 là Thượng phẩm- Hạ sanh.
 .16/24 là Thượng phẩm- Trung sanh.
 .24/24 là Thượng phẩm- Thượng sanh.
 Nguyện: có nguyện thì mới được vãng sanh và phải nguyện chí thành tha thiết.
 Tóm lạiTín- Hạnh- Nguyện nếu nói về sự thì nguyện quan trọng hơn hết. Vì nó quyết định cho sự vãng sanh. Còn nói về lý thì Tín- Hạnh- Nguyện đều quan trọng như nhau.
 7/ Tu Tịnh độ có chắc chắn vãng sanh không ?
 - Đối với những vị tu đắc Tứ thiền, Tứ không và ba quả Thánh đầu thì câu hỏi này là thừa. Vì định lực của những vị này rất mạnh, nếu muốn vãng sanh sẽ được vãng sanh. Những vị tu đắc Tứ thiền, Tứ không định lực của họ rất mạnh, sau khi chết lập tức sanh về cõi trời ngay. Và trường hợp của những người tạo tội ngũ nghịch, vì quá ác mất hết cái biết nên khi chết bị đọa địa ngục ngay, nên không mang thân trung ấm.
 - Đối với 4 đường ác đạo, cõi người, cõi trời dục giới thì câu hỏi này không trả lời được, vì hiện tượng giới rất là phức tạp, thuộc về nhân quả ba đời mà chỉ có Như lai mới hiểu rõ thôi. Cho nên câu hỏi này phải nên sửa lại là “chúng ta tu Tịnh độ có đầy đủ tín - hạnh - nguyện chưa? Và nhất là nguyện lực có chí thành khẩn thiết không?”.
 Nếu mà chấp nhận câu hỏi này thì trả lời rằng: chúng ta tu Tịnh độ có đầy đủ tín - hạnh - nguyện và nguyện lực có chí thành tha thiết thì chắc chắn sẽ được vãng sanh 100%. Nhưng nếu lỡ lâm chung do cận tử nghiệp nào đó làm trở ngại cho sự vãng sanh phải đọa vào ác đạo, đó là trường hợp ngoài ý muốn. Và do thường ngày chúng ta có huân tập sẵn những chủng tử niệm Phật vào trong alaya thức, thì khi đó chúng ta nhớ lại, liền niệm Phật với một lòng chí thành tha thiết nhớ tưởng Phật, nguyện về Cực lạc. Do nhờ định lực niệm Phật của mình cảm ứng với từ lực của Đức Phật A-Di-Đà thì lập tức cảnh “ác đạo” sẽ được chuyển hóa thành cảnh “Cực lạc” và chúng ta sẽ được vãng sanh. Vì “Tất cả cảnh giới đều do tâm tạo”, chỉ cần chuyển đổi cái tâm thì cảnh giới sẽ được chuyển đổi.

TƯ TƯỞNG TỊNH ĐỘ TRONG PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA Thích Tiến Đạt
Đại thừa Phật giáo đối với việc tự cầu giác ngộ của Tiểu thừa Phật giáo mà nói, thì chẳng những tự độ mà còn chuyên chở hết thảy chúng sinh đến Niết Bàn giác ngạn.
Pháp môn Tịnh độ lấy “Thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật” (Tâm này là Phật, tâm này làm Phật) làm nguyên tắc, dùng phương pháp trì danh niệm Phật khắp nguyện cho hết thảy chúng sinh (đới nghiệp vãng sinh) rốt ráo thành Phật. 
Giáo nghĩa và Phương pháp của Tịnh độ tông thể hiện những gì tinh tuý nhất, cốt tuỷ nhất của Phật giáo Đại thừa. Vì thế tư tưởng Tịnh độ của Phật giáo Đại thừa là nhất quán, rộng lớn sâu xa. Bài viết này căn cứ vào những kinh điển Tịnh độ được lưu truyền; 4 hệ thống Đại thừa giáo và các chủng loại Tịnh độ để trình bày thảo luận.
I. Sự truyền bá của kinh điển Tịnh độ
Sau khi đức Thế Tôn nhập diệt khoảng 500 năm, toàn cõi Ấn Độ chỉ hoằng truyền thịnh hành 5 bộ A Hàm, kinh điển Đại thừa chưa được thịnh truyền. 
Vào khoảng 700 năm sau Phật nhập Niết Bàn, Bồ tát Long Thụ xuất hiện ở Nam Thiên Trúc, hàng phục ngoại đạo, xiên dương Đại thừa, khi đó giáo nghĩa, kinh điển Đại thừa được hoằng truyền khắp cõi Ấn Độ.
Trong Phật giáo sử còn ghi lại rằng Bồ tát Long Thụ nhập đại định xuống Long cung tụng kinh Hoa Nghiêm; mở tháp sắt lấy được kinh Đại Nhật và các kinh điển Đại thừa; y cứ vào kinh Bát Nhã viết bộ luận Vô Uý, luận Trung Quán và Thập nhị Môn luận, v.v... Thuyết minh về các pháp vốn là KHÔNG, không có chỗ sở đắc. 
Lại nữa trong Đại Trí Độ luận và Thập Trụ Tỳ Bà Sa luận thuyết minh về giáo nghĩa Tịnh độ. Bồ tát được tám đại tông phái Đại thừa Phật giáo ở Trung Quốc tôn xưng là sơ tổ và đều công nhận Ngài là người tập hợp, hệ thống hoá học lý Đại thừa.
Vào trước thời đại ngài Long Thụ, kinh điển có đầy đủ tư tưởng Tịnh độ đã được lưu hành ở Ấn Độ, đó là kinh Ban Đan Tam Muội. Vào khoảng thế kỷ 11 trước Công nguyên bộ kinh này được truyền bá. 
Trong phẩm Thụ Quyết của kinh Ban Đan Tam Muội có huyền ký rằng: “Sau khi ta nhập Niết Bàn thì tam muội này tồn tại 140 năm, sau đó sẽ không xuất hiện. Về sau vào đời loạn, kinh Phật sắp đoạn, các Tỷ kheo không tuân theo lời Phật dạy, các nước tranh giành xâm lấn nhau, khi đó tam muội này lại xuất hiện trong cõi Diêm Phù Đề”. 
Một bản dịch khác của kinh này có tên là “Đại Phương Đẳng Đại Tập kinh” có đoạn: “Bạch Thế Tôn, chúng con sau khi Như Lai diệt độ 500 năm, vào cuối thời kỳ ấy, sa môn điên đảo, chính pháp muốn hoại diệt, phi pháp tăng thịnh, chúng sinh hỗn loạn, các nước tranh giành lẫn nhau, kinh tam muội này lại lưu hành ở cõi Diêm Phù Đề”. 
Căn cứ vào lời truyện ký đó có thể suy luận ra rằng: “Kinh Ban Đan Tam Muội” được lưu truyền trong khoảng thế kỷ 2 trước Công nguyên.
Vào sơ kì Phật giáo Đại thừa, trong kinh Hoa Nghiêm và kinh Pháp Hoa đều có chuyền tải tư tưởng niệm Phật của Tịnh độ. Trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử đi về phương nam tham học với 53 vị Thiện Tri Thức. 
Đầu tiên đến chỗ Tỷ kheo Công Đức Vân được nghe nói về niệm Phật tam muội và trong định được thấy Phật. Trong kinh Pháp Hoa cũng từng nói đến sự thật vãng sinh thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà. 
Trong rất nhiều kinh điển Đại thừa có nhiều đoạn xưng tán Phật A Di Đà và chỉ dẫn vãng sinh Tây Phương Cực Lạc. Kinh điển Tịnh độ tông được lưu truyền ở nhân gian và trong các bộ luận do các bậc tổ đức trước tác ở Ấn Độ trước kia cũng thấy có ít nhiều đề cập đến tư tưởng Tịnh Độ. 
Bồ tát Long Thụ trước tác Đại Trí Độ luận và Thập Trụ Tỳ Bà Sa luận v.v... có rất nhiều đoạn khai thị khuyên hành giả niệm Phật vãng sinh.
Trong bức thư của Tôn giả Sa Đà Bà Hán Na gửi quốc vương Đạt Na xứ Nam Ấn Độ thế kỷ 1 TCN có đoạn: “Sinh lão bệnh tử tam độc trừ, Phật quốc thác sinh vì thế phụ, thọ mệnh thờ trường lượng nan tri, đồng bỉ đại giác Di Đà chủ” (Đoạn trừ ba độc sinh già bệnh chết, thác sinh cõi nước Phật thành bậc thế phụ, thọ mệnh dài lâu chẳng thể tính lường, bằng với bậc giáo chủ đại giác A Di Đà). 
Được tôn xưng là đệ nhị Thích Ca, Bồ Tát Long Thụ có nhân duyên rất sâu sắc với Tịnh Độ Tông. Đức Thế Tôn trong kinh Nhập Lăng Già đã từng huyền kí: “Về đời sau này có vị Tỷ kheo ở xứ Nam Thiên Trúc gọi là Long Thụ, hay phá Hữu - Vô tông hiển phát giáo pháp Đại thừa của ta, chứng đắc Hoan Hỷ Địa, vãng sinh cõi nước An Lạc”.
Ngược về trước thời đại Long Thụ, trong một số trước thuật ở đời đã có tư tưởng Tịnh độ A Di Đà. Như trong Đại Thừa Khởi Tín Luận, Mã Minh đại sĩ có viết: “Nên biết Như Lai có phương tiện tối thắng nhiếp hộ chúng sinh tín tâm, nghĩa là dùng nhân duyên chuyên tâm niệm Phật, tuỳ nguyện được sinh vào cõi nước Phật kia, thường được thấy Phật, vĩnh viễn xa lìa ác đạo”. 
Như trong đó nói: “Nếu người nào chuyên niệm Đức Phật A Di Đà ở thế giới Tây Phương Cực Lạc, đem những thiện căn công đức tu tập được hồi hướng nguyện cầu sinh về thế giới kia, liền được vãng sinh.” 
Bồ tát Mã Minh cũng là nhân vật được Đức Bản sư huyền ký có nhân duyên rất sâu xa với Tịnh độ tông. Trong kinh Đại Bi (Bi Hoa) có đoạn: “Xứ Bắc Thiên Trúc có Tỷ kheo Kỳ Bà Ca (Mã Minh) tu tập vô lượng thứ thứ tối thắng thiện căn Bồ Đề, mệnh chung nguyện sinh về cõi nước Cực Lạc Phương Tây của Phật Vô Lượng Thọ”. 
Sau có Bồ tát Thiên Thân, còn được gọi là “Thiên luận chủ”, trước tác bộ “Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Ba Đề Xá Vãng Sinh Kệ”, gọi tắt là “Vãng Sinh Luận”. Trong đó xưng dương tán thán tín ngưỡng Phật A Di Đà, nguyện hết thảy chúng sinh đều vãng sinh nước Cực Lạc. Ngoài ra, Mật tông sau này cũng chú trọng đến công đức thù thắng của thần chú vãng sinh.
Như trên có thể thấy trong thời kỳ đầu của Phật giáo Đại thừa, kinh điển Tịnh độ đã được lưu truyền sâu rộng, người tín thụ phụng hành cũng rất đông đảo.
II. Bốn hệ thống Phật giáo Đại thừa:
Thời kỳ bắt đầu của Phật giáo Đại thừa chịu ảnh hưởng của tư tưởng Bát Nhã. Tư tưởng Bát Nhã lại bắt nguồn từ tư tưởng “nhân duyên sinh pháp” của Đại chúng bộ.
Đại chúng bộ đề xướng tư tưởng “Các pháp thế gian, xuất thế gian đều là giả danh” nhằm phản bác lại quan điểm “Ngã không, pháp hữu” của Thượng toạ bộ nên phát khởi tư tưởng “Tính Không”, khiến cho Phật pháp có sự chuyển biến mạnh mẽ, làm sống lại bản hoài độ sinh của Đức Phật. 
Sau khi phá bỏ được chấp pháp, đứng trên tư tưởng Bát Nhã mà xây dựng các hệ thống tư tưởng Phật giáo Đại thừa, làm xuất hiện rất nhiều kinh điển Đại thừa, đại để có thể phân chia làm bốn hệ thống lớn. Đó là: 1. Hệ thống Bát Nhã; 2. Hệ thống Pháp Hoa; 3. Hệ thống Hoa Nghiêm; 4. Hệ thống Tịnh Độ. Bốn hệ thống này đan xen lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau, cuối cùng lấy hệ thống Tịnh độ làm chỗ quy tụ.
Tư tưởng Bát Nhã là nền tảng căn bản của Phật giáo Đại thừa. Tính “Không” của Bát Nhã chẳng phải là “Đoạn Không” và “Ngoan không” mà là “Duyên sinh tính không”. Chẳng phải phủ định sạch trơn các pháp nên nói “Không”, mà cho rằng các pháp do nhân duyên sinh, tính của nó vốn không có thực thể (thật ngã). Ngay trong tính Không của Bát Nhã đã bao hàm tư tưởng “Diệu Hữu”.
Hệ thống Hoa Nghiêm từ một điểm cơ bản đó phát huy ra; từ lập trường “Tịnh tâm duyên khởi” mà triển khai rộng lớn tư tưởng diệu hữu thành nhất chân pháp giới”. Toàn pháp giới đều là pháp thân Phật Tỳ Lô Giá Na hiển hiện, pháp thân thanh tịnh biến mãn khắp pháp giới. Thập Huyền Môn của Hoa Nghiêm phản ánh sự huyền diệu của thế giới Hoa Tạng. 
Hệ thống Pháp Hoa thể hiện bản hoài từ bi hoá độ của Đức Thế Tôn, khiến Tam thừa trở về Nhất Phật thừa. Chẳng hạn những Bồ tát có thể thành Phật mà ngay cả các đệ tử Thanh văn Tỷ kheo, Tỷ kheo uy, cho đến cả súc sinh như Long Nữ đều được thụ ký thành Phật.
Hệ thống Tịnh độ là nhằm chỉ thẳng giải quyết vấn đề sinh tử ngay trong đời hiện tại mà hình thành bản nguyện của chư Phật và các cõi nước Tịnh độ. Đó chính là bản hoài căn bản mà chư Phật xuất thế độ sinh. 
Sự kiến lập bốn hệ thống đều nhằm mục đích độ khắp chúng sinh đều thành quả Phật. Do đó hệ thống Bát Nhã, hệ thống Pháp Hoa và hệ thống Hoa Nghiêm đều đặc biệt coi trọng tư tưởng “Niệm Phật tam muội” và cầu sinh Tịnh độ.
Hệ thống Tịnh độ nhờ sự nhất quán của ba hệ thống trên nên phát triển và lưu truyền rộng khắp. Ví như hệ thống Bát Nhã coi trọng sự phát thệ nguyện độ sinh của Bồ tát, một đặc điểm này có sự liên quan mật thiết đến 48 đại nguyện của Đức Phật A Di Đà đã phát ra trong khi tu Bồ tát hạnh. Do đó, tư tưởng Bát Nhã đã hỗ trợ cho sự hình thành đại nguyện lợi tha của Bồ tát.
Tóm lại: Tư tưởng “Tha lực bản nguyện” của Tịnh độ tông, tuy đã có manh nha trong kinh Bản Sinh, nhưng lý luận về Bồ tát hạnh. 
Với từ bi nguyện lực phải đợi đến khi tư tưởng Bát Nhã, Pháp Hoa hình thành thì mới được sự hỗ trợ đắc lực để kiến lập, lại do tư tưởng Hoa Nghiêm mà tạo nên sự chuyển hướng tích cực đặc biệt (mười đại nguyện của Bồ tát Phổ Hiền đều quy hướng về thế giới Cực Lạc). Do đó tạo thành tư tưởng “nương vào Phật lực, niệm Phật cầu sinh Tịnh độ”.
III. Các chủng loại Tịnh độ và sự lựa chọn
Tư tưởng Tịnh độ được lưu hành vào thời đại Bồ tát Long Thụ, đại để có thể chia làm ba loại: 1. Tịnh độ Đâu Suất của Bồ tát Di Lặc; 2. Tịnh độ Đông phương Diệu Hỷ của Phật A Súc; 3. Tịnh độ Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà.
1. Tịnh độ Đâu Suất của Bồ tát Di Lặc:
Bồ tát Di Lặc là Bồ tát nhất sinh bổ xứ của thế giới Sa bà. Hiện tại Ngài ở Nội Viện Đâu Suất, tương lai sẽ thị hiện ở thế gian này thành Phật hoá độ chúng sinh. 
Trong các kinh “Di Lặc Thành Phật”, “Di Lặc Hạ Sinh” v.v... thuyết minh về việc Bồ tát Di Lặc hạ sinh xuống thế gian này, tu hành thành Phật. Trong thời gian dài khi chưa thành Phật, Ngài ở Nội Viện Đâu Suất giáo hoá chúng sinh. Đó chính là tịnh hoá cõi nước trời. 
Trong kinh “Phật Thuyết Quán Di Lặc Bồ tát Thượng Sinh Đâu Suất Thiên” giới thiệu Tịnh độ Đâu Suất trang nghiêm thanh tịnh và khuyên mọi người vãng sinh Tịnh độ Đâu Suất, lấy việc xưng danh hiệu Bồ tát là một trong những điều kiện để vãng sinh. 
Mục đích cầu sinh Tịnh độ Đâu Suất là để thân cận Bồ tát Di Lặc, tương lai sẽ theo Ngài xuống thế gian này, trợ giúp Ngài hoá độ chúng sinh nơi hội Long Hoa nhằm xây dựng cõi Tịnh độ ngay tại thế gian này. 
Vãng sinh Tịnh độ Đâu Suất là tư tưởng có trong Phật giáo nguyên thuỷ. Đây cũng chính là nền tảng của tư tưởng vãng sinh Tịnh độ của Phật giáo Đại thừa.
2. Tịnh độ Đông phương Diệu Hỷ của Phật A Súc:
Tịnh độ của Phật A Súc là hình thức Tịnh độ của chư Phật, xuất hiện vào thời kỳ đầu của Phật giáo Đại thừa. Các kinh điển nói đến vãng sinh cõi nước của Phật A Súc có: "A Súc Phật Quốc Kinh” - Chi Lâu Ca Sấm dịch; phẩm bất "Động Như Lai Hội” trong “Đại Bảo Tích Kinh” - Bồ Đề Lưu Chi dịch. 
Trong các kinh đó đều thuyết minh về Phật A Súc, khi ở nhân địa tu Bồ tát hạnh làm một vị Tỷ kheo, đối trước Đức Phật Đại Nhật phát 39 đại nguyện, rồi chứa công góp đức, hoàn mãn đại nguyện đó mà thành Phật, xây dựng nên cõi Tịnh độ Diệu Hỷ ở phương đông. 
Cõi nước đó thanh tịnh trang nghiêm, công đức vô lượng. Điều kiện để vãng sinh cõi nước Diệu Hỷ là tu Lục độ vạn hạnh của Bồ tát và quán chiếu Bát Nhã tính Không, kết hợp với xưng niệm thánh hiệu của chư Phật. 
Thực chất Tịnh độ của Phật A Súc có quan hệ mật thiết với kinh Bát Nhã, kinh Duy Ma Cắt v.v... Kinh Bát Nhã xuất hiện ở đông Ấn Độ, trong kinh bàn đến Bồ tát Thường Đề hướng về phương đông cầu học diệu pháp Bát Nhã Ba La Mật (cõi Diệu Hỷ của Phật A Súc ở phương đông). 
Kinh Bát Nhã coi trọng đại trí của Bồ tát, bàn đến tha phương Tịnh độ, tức lấy đông phương Tịnh độ làm đạt biểu. Trong phẩm "A Súc Phật Quốc” của kinh Duy Ma có chép: "Có nước tên Diệu Hỷ, Đức Phật hiệu là Vô Động (A Súc). Đó là nơi mà Duy Ma Cật ở đó sinh xuống cõi này”. 
Lại nói: “Bấy giờ Đức Phật Thích Ca bảo đại chúng rằng: Các ngươi nên quan sát thế giới Diệu Hỷ và Bất Động Như Lai. Cõi nước đó trang nghiêm. Bồ tát thanh tịnh, đệ tử thanh bạch v.v… Nếu Bồ tát muốn được cõi nước Phật thanh tịnh như thế thì nên học cách hành đạo tu tập của Đức Bất Động Như Lai (A Súc)”. 
Điều đó chứng tỏ kinh Bát Nhã và kinh Duy Ma Cật có quan hệ mật thiết với Tịnh độ của Phật A Súc. Đức Thế Tôn phổ khuyến đại chúng vãng sinh cõi nước Diệu Hỷ kia và thuyết minh sự thanh tịnh trang nghiêm thù thắng của cõi Tịnh độ A Súc.
3. Tịnh độ Tây phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà:
Tư tưởng Tịnh độ A Di Đà trong thời kỳ Phật giáo nguyên thuỷ đã có manh nha nhưng phải đợi đến thời đại Bồ tát Long Thụ mới được truyền bá rộng ở ấn Độ và Tây Vực. Kinh điển chuyên bàn về Tịnh độ của Phật A Di Đà có ba loạt: 1 Đại thừa Vô Lượng Thọ Kinh; 2. Quán Vô Lượng Thọ Kinh; 3. Phật Thuyết A Di Đà Kinh. 
Ngoài ra, những kinh điển có liên quan đến Tịnh độ Di Đà có đến hàng trăm bộ khác nhau. Đức Phật A Di Đà vì muốn độ thoát cho hết thảy chúng sinh khổ nạn, xứng tính phát khởi 48 đại nguyện, kiến lập thế giới Cực Lạc phương tây hết sức trang nghiêm, vi diệu thù thắng suốt đến tận vị lai tế rộng làm Phật sự hoá độ chúng sinh vãng sinh Cực Lạc.
Như trên đã nêu sơ lược ba loại Tịnh độ đều có những đặc sắc nhất định. Trong quá trình hình thành và phát triển, tư tưởng Tịnh độ A Di Đà được tiếp thu và phát triển rực rỡ, còn Tịnh độ A Súc và Tịnh độ Di Lặc dần dần mai một. Nguyên nhân trong đó là vấn đề lý luận của Tịnh độ tông thích ứng với căn cơ thời đại nên được nhiều người thâm nhập, nghiên cứu và tu tập. Ở đây tạm nêu ra hai vấn đề để xem xét:
- Một là: Từ mức độ thanh tịnh trang nghiêm của Tịnh độ mà xét, ta thấy Tịnh độ A Súc và Tịnh độ Di Lặc, tuy cũng đầy đủ y báo, chính báo trang nghiêm do đại nguyện, đại hạnh của Phật, Bồ tát mà tạo thành, song nó vẫn thấy còn có dấu vết của nhân gian thế tục không hoàn toàn siêu việt thù thắng. 
Ví dụ như ở hai cõi Tịnh độ đó vẫn có nam nữ tạp cư, phiền não không dễ gì đoạn sạch vi tế vô minh vẫn thường hiện hành. Tây phương Cực Lạc thế giới chủng chủng tiếng nghiêm, đó là rốt ráo vi diệu. Cõi nước đó chúng sinh đều đầy đủ tướng trượng phu như Phật A Di Đà không khác, không có tướng nam nữ. 
Do nguyện lực của Phật gia trì, cảnh giới và nhân duyên thanh tịnh nên tuy phiền não chưa đoạn sạch nhưng không thể phát khởi ra hiện hành. Ở cõi nước đó tu hành sẽ dần dần phục đoạn phiền não, không phải trải qua đời kiếp khác mà vẫn thành tựu quả vi Phật. 
Mặt khác, do nguyện lực của Phật Di Đà gia bị, hành giả vãng sinh cũng có “vô lượng thọ, vô lượng quang” như Phật không khác, đầy đủ thần thông trí tuệ, dẫu còn là phàm phu nhưng vẫn có thể thụ dụng tự tại như Phật. 
Đối với những điều này thì ở Tịnh độ Di Lặc và Tịnh độ A Súc không có được. Và ngay cả cõi nước của mười phương chư Phật cũng không thể có được. Đây chính là một đặc điểm quan trọng của cõi Cực Lạc Phương Tây. 
- Hai là: Từ điều kiện vãng sinh Tịnh độ để xem xét, ta thấy điều kiện vãng sinh Tịnh độ Di Lặc và Tịnh độ A Súc là rất cao. Thành tựu “Duy thức tâm định” mới có thể sinh đến Tịnh độ Di Lặc; tu tập Bát Nhã không quán và lục độ ba la mật mới đủ tư cách sinh đến Tịnh độ A Súc. 
Điều đó chủ yếu dựa vào tự lực, tích luỹ tư lương mà không có phương tiện Phật lực tiếp dẫn. Do đó, chỉ có bậc thượng căn lợi trí siêng năng tinh tiến tu hành mới có hy vọng vãng sinh. Đối với đại đa số chúng sinh phàm phu trung hạ căn thì chẳng khác gì người yếu đứng ngước nhìn núi cao, chỉ là không tưởng mà thôi. 
Còn điều kiện để vãng sinh cõi Tịnh độ Cực Lạc của Đức A Di Đà thì hết sức giản dị và thích hợp Do Đức Phật A Di Đà có “Thập niệm tất sinh nguyện” và “Lâm chung tiếp dẫn nguyện” gia bị nên hành giả chỉ cần có Tín - Nguyện - Trì danh là có thể đổi nghiệp vãng sinh. 
Khi lâm chung được Phật Di Đà hiện ngay trước mặt tiếp dẫn, khiến hành giả thong thả nhẹ nhàng vãng sinh nước Phật. Đức Phật A Di Đà có công đức chẳng thể nghĩ bàn như thế, cho nên được mười phương chư Phật, khác miệng đồng lời cùng xưng dương tán thán, khuyên chúng sinh phát khởi tín tâm cầu sinh Cực Lạc. Bởi vậy “ngàn kinh vạn luận cùng chỉ lối về Cực Lạc, cổ Thánh tiên Hiền thảy đều xu hướng pháp môn Tịnh độ”.
Tịnh độ Tây phương được hình thành ở Ấn Độ đầu tiên rồi được truyền bá vào Trung Quốc, Việt Nam và phát triển một cách rực rỡ, sáng lan cho mãi tới ngày nay. 
Có thể nói: tín ngưỡng Tịnh độ Di Đà đã thừa kế được tư tưởng Phật giáo Đại thừa của Ấn Độ, kết tinh được tinh thần Bi - Trí độ sinh của hai Đức Thế Tôn là Thích Ca và Di Đà, cho đến mười phương chư Phật.
Thích Tiến Đạt 
 

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.