bài viết trong chuyên mục "Phật Học"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Học. Hiển thị tất cả bài đăng

Lâu nay chúng ta cho thân người là thật, tâm suy tư nghĩ tưởng cũng là thật. Do mê lầm, chấp chặt như vậy nên chúng ta cứ lo tìm cách gom góp tài sản, của cải cho mình và con cháu mai sau. Đầu tiên ta chấp cảnh, sau mình chấp thân và tâm là thường, là ngã. 

Thân và tâm, tức thể xác và tinh thần, cái nào quan trọng hơn? Đa số chúng ta thường lo cho thể xác hay lo cho tinh thần? Chúng ta ai cũng lo cho thân làm sao được sạch đẹp, sung mãn, đầy đủ; còn phần tinh thần ít ai quan tâm tới. Nhưng thử hỏi, chúng ta lo cho thể xác được sung mãn, đầy đủ thì nó có bền bỉ, lâu dài được không? Rất tiếc, dù ta lo cho nó cách mấy thì thân này cũng phải già-bệnh-chết. Ta lo cho thân đầy đủ để rồi ngày mai nó sẽ mất. Vậy lo cho thân như thế là mình khôn hay dại?

Ấy vậy mà ai cũng lo, lo giữ cái không thể bền bỉ, lâu dài mà vô tâm, không để ý đến phần chủ động để mặc tình nó ra sao thì ra. Chúng ta như vậy là sáng suốt hay si mê? Ta nào là lo nhà cửa, lo cơm ăn áo mặc, lo tiền bạc của cải làm sao cho có thật nhiều; nhưng khi nhắm mắt ta chỉ mang theo nghiệp tốt hoặc xấu, tất cả những thứ đó ta đều phải bỏ lại hết, mà nghiệp tốt hay xấu là do tâm tạo tác mà ra. Khi muốn làm gì thì ý phải nghĩ trước rồi thân này mới hành động. Tinh thần là cái chỉ huy, sắp đặt mọi việc trong cuộc sống nên chúng ta phải làm sao lo cho nó được thánh thiện, tốt đẹp, cao quí mới phải. Thân này vốn dĩ tạm bợ, thân chỉ là phần phụ vì tâm đoan chánh, ngay thẳng mới quyết định nghiệp tốt hay nghiệp xấu.   

Lâu nay chúng ta cho thân người là thật, tâm suy tư nghĩ tưởng cũng là thật. Do mê lầm, chấp chặt như vậy nên chúng ta cứ lo tìm cách gom góp tài sản, của cải cho mình và con cháu mai sau. Đầu tiên ta chấp cảnh, sau mình chấp thân và tâm là thường, là ngã. Vì chấp như thế nên Phật dạy thân người do bốn chất đất-nước-gió-lửa giả hợp mà có, song bốn chất này thường xung khắc nhau; đất ngăn ngại nước, nước xói mòn đất, nước làm tắt lửa, gió thổi thì đất rung rinh. Chúng xung khắc mà phải hợp lại nên thường sanh ra những hiện tượng bất hòa như đau yếu, bệnh hoạn. Khi chúng không dung hợp nhau được nữa thì tan rã, tứ đại phân ly; nên mới nói “có thân là có khổ”. Ai cũng có thể biết vậy nhưng làm việc gì cũng lo cho thân, ăn uống bồi bổ cũng vì thân.    
   
Thân chúng ta những chất cứng như da, thịt, gân, xương, tóc, răng thuộc về đất. Những chất lỏng như máu, mủ, mồ hôi, nước mắt thuộc về nước. Những vật có tính động như hơi thở vô, hơi thở ra thuộc về gió. Nhiệt độ trong thân như hơi ấm thuộc về lửa. Khoa học hiện đại ngày nay phân tích thân người có hằng hà vô số tế bào, song cũng từ bốn chất đất-nước-gió-lửa hợp thành. Từ lâu chúng ta lầm tưởng thân này là thật tôi, là của tôi, rồi cứ chấp chặt vào đó. Nếu ai đụng chạm đến “cái tôi” này thì ta liền phản ứng chống trả lại, hoặc tìm đủ mọi cách để bảo vệ, vun bồi cho nó được đầy đủ, thỏa mãn.

Nhưng với tuệ giác của Phật thì Ngài thấy rõ thân do đất-nước-gió-lửa hợp lại mà thành, nếu thiếu một trong bốn chất ấy thì thân này tan rã. Song, mỗi ngày chúng ta muốn duy trì thân để được tồn tại phải ăn cơm, uống nước, hít thở không khí. Cứ thế ta vay mượn đất-nước-gió-lửa bên ngoài để bồi bổ, thay thế cho đất-nước-gió-lửa bên trong. Suốt cả cuộc đời chúng ta sống bằng sự vay mượn liên tục, khi hết vay mượn thì mạng sống dừng. Hơi thở trả về với gió. Hơi ấm trả về với lửa. Máu, nước miếng, nước mắt trả về với nước. Da, thịt, gân xương trả về với đất. Tất cả đều rã tan, trở thành một cái xác thúi chẳng còn gì gọi là thân mạng nữa. Vậy mà ai cũng cố tâm lo cho chúng mà quên hẳn phần tinh thần.

Trong Kinh Bách Dụ có kể một câu chuyện như sau: Thuở xưa có một ngôi nhà cũ bỏ hoang, mọi người đồn có quỉ dữ trong ấy nên ai cũng kinh sợ, không dám ghé vào đó ngủ. Bấy giờ có một chàng trai tự cho mình đủ bản lĩnh bèn tuyên bố với mọi người: “Tôi không sợ gì cả, ma quỷ là cái quái gì, tối nay tôi sẽ vào đó ngủ.” Quả thật, tối đến anh ta vào nhà ngủ. Đồng thời lúc ấy cũng có một người tự cho mình can đảm hơn người nên cũng hiên ngang vào nhà đó ngủ. Người đến sau tới nơi xô cửa vào, người đến trước tưởng quỉ về xô cửa bèn rinh tấm phên ngăn ngang cửa không cho vào. Người phía ngoài tưởng có quỉ bên trong nên ráng sức xô cánh cửa bật ngã để vào chiến đấu với quỉ. Hai người gặp nhau trong đêm tối và đánh nhau dữ dội nhưng bất phân thắng bại. Trời vừa sáng ra hai người thấy nhau rõ ràng mới vỡ lẽ con quỉ mà mình đánh suốt đêm qua là người chớ không phải quỉ. Phật nói bài Kinh này để dụ sự lầm mê, chấp trước của con người là trời tối. Vì tối tăm mê mờ nên không thấy đúng lẽ thật, thân này giả có mà chúng ta lầm tưởng là thật nên làm cái gì cũng lo cho thân hết. 

Trong Kinh A-hàm, Phật dạy người chấp thân tứ đại là ta còn dễ phá trừ hơn những người chấp linh hồn là thật ta. Họ nghĩ cái hồn sáng này vẫn trước sau như một, không biến đổi. Họ tin đời này mình giàu thì đời sau cũng giàu, mang thân người thì trở lại thân người; đời nay ra sao, thế nào thì khi chết đời sau như thế đó. Chấp trong thân này có linh hồn còn hoài là quan niệm thần ngã, thần ngã là chủ của thân này nên không bao giờ thay đổi. Những người mê chấp như vậy rất có hại vì họ cho rằng thần ngã là cố định, họ không chịu tu tâm sửa tánh mà mặc tình ăn chơi, tạo các nghiệp xấu ác, đến khi phước hết hoạ đến phải chịu quả báo khổ đau không có ngày cùng.

Phật dạy tâm người là cội nguồn của thiện-ác, thân người là rừng tội lỗi hay là rừng công đức. Khi tâm chúng ta khởi nghĩ một điều gì thì ta cho đó là chân lý, nếu có ai không chấp nhận và chống đối lại ta sẽ tức giận, mắng chửi, la hét um sùm… Từ đó, tất cả mọi mầm mống đấu tranh đều từ tâm mà ra, tâm bảo vệ, tâm chấp ngã và tâm si mê quyết ăn thua đủ. Như vậy, tâm rõ ràng là cội nguồn của tội ác. Tuy nhiên, đến khi tâm có ý thức thấy được mầm đấu tranh sẽ dẫn đến sự chống đối và tìm cách sát phạt nhau, thấy được sự tác hại của nó thì tâm sẽ quay lại chính mình. Thân này khi muốn ăn một bữa ngon miệng thì phải mua tôm, cua, gà vịt về cắt cổ nhổ lông, chiên xào luộc nướng để bồi bổ thân này. Có người vì nuôi thân mà phải làm những nghề đồ tể như giết heo, bò, trâu, dê. Vì tham vọng cho bản ngã mà thân tạo vô số việc ác, nên nói thân là rừng tội lỗi.

Nhưng thân này gây tội lỗi là do đâu? Do tâm điều khiển, tức tâm là ông chủ chỉ huy. Người Phật tử thấy rõ tâm là chủ nhân ông của bao điều hoạ phúc thì mỗi khi tâm khởi nghĩ những điều bất thiện hại mình, hại người ta liền dừng ngay. Không phát ra lời nói hay hành động thì làm gì phát sinh tội lỗi. Chúng ta theo lời Phật dạy biết quán xét và thấy rõ tâm là người điều khiển nên thân mới hành động. Tâm hiểu đúng, phát ra lời nói chân chính sẽ dẫn đến hành động thiện ích. Thông thường, chúng ta thấy người nghèo đói thì cho cơm gạo để họ được no lòng; thấy người lạnh rách ta cho áo chăn để họ được lành ấm; thấy người đau bệnh ta cho thuốc men để họ được khỏe mạnh; đó là cứu khổ, cứu người. Nhưng nếu tâm tham lam, ích kỷ, keo kiết thì làm sao mở lòng giúp đỡ cho người được?

Đức Phật trước kia ở trong hoàn cảnh cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh. Vật chất quá đầy đủ nhưng tại sao Ngài từ bỏ tất cả để vượt thành xuất gia? Vì Ngài thấy rõ ngôi vua, quyền thế, của cải là những hạnh phúc tạm bợ. Có khi vì thế mà con người giết hại lẫn nhau nhưng cuối cùng ai cũng phải chết với hai bàn tay trắng. Con người vì mê lầm nên làm cái gì cũng để hưởng thụ, bồi bổ thân này mà không biết tu tâm dưỡng tánh. Thành ra đại đa số con người thế gian chỉ lo cho phần vật chất mà lãng quên phần tinh thần. Phật có đầy đủ tất cả nhưng tại sao Ngài không hưởng, ngay khi đã thành tựu đạo pháp ngài cũng chỉ tuỳ duyên khất thực xin ăn để gieo phước điền cho nhân loại?

Có được tinh thần sáng suốt, minh mẫn, định tĩnh nên Phật không thấy ai là kẻ thù, chỉ có người chưa thông cảm với nhau mà thôi. Cái thân vật chất này lúc nào cũng làm chúng ta lo lắng, tìm cách vun bồi, xây đắp, thỏa mãn nó; nhưng nó lại do tứ đại hoà hợp giả có nên rồi cũng phải chịu già-bệnh-chết. Phật dạy chúng ta phải luôn thấy rõ thân này giả hợp, thân chỉ là phương tiện còn tâm mới là cứu cánh để chuyển ba nghiệp thân-khẩu-ý cho thanh tịnh mà được giải thoát luân hồi-sinh tử. Thấy biết đúng như vậy là người giác, thấy ngược lại là người mê. Từ trước chúng ta mê lầm không nghe, không thấy, không biết nên làm cái gì cũng lo cho thân bất chấp có tội hay không có tội. Thân này tạo tác, làm việc là do ai điều khiển? Do tâm điều khiền chứ còn ai? Tâm biết phục thiện, tin sâu nhân quả thì chỉ huy, điều hành thân này làm nhiều việc thiện ích giúp người, cứu vật.

Cuối cùng, rồi cũng buông tay… trả lại khoảng trời xanh những nhịp đời chênh vênh nụ cười, nước mắt; trả biển tình mênh mông mập mờ niềm tin lay lắt; trả khuya sớm chất chồng bao mặn nồng hư thực; trả con tim chòng chành những giây phút chạnh lòng ngơ ngác heo may!

Rong chơi vu vơ giữa cõi mơ này, như ngọn cỏ xanh mong manh ngỡ ngàng lặng trong ngân nga tiếng gió, như tiếng hót sơn ca hết mình véo von một thuở, như dòng nhựa trắng trong từ mật đời tinh khiết, tan trong lộng lẫy bày sắc cầu vồng, dệt  thiên đường thong dong.

Em! Thực giữa Hư không! Vô tư Ảo huyền - Mông muội. Trong veo đầu nguồn sông  suối, reo vui ngọn lửa rực nồng, lướt mùa Xuân Hạ Thu Đông, hồn nhiên đường dài như không điểm cuối, một ngày vu vơ vấp hòn đá cuội, rưng rức lụi tàn.

Nước mắt vẫy vùng bức tường đêm loang, khắc chạm lung linh phù điêu vũ khúc, tìm ẩn số đớn đau từ trái tim thương tích, ân sủng vô tình trôi trên sóng lang thang, nắng mưa đan xen nỗi buồn cô tịch, nhặt đóa phù du cài nét môi cười.

Hoàng hôn buông mây vắt ngang trời, vệt lửa non ngẩn ngơ màu son thắm, ủ men đời mặn đắng, vô vọng niềm tin mong manh…  Chắt lọc cõi trời xanh, mênh mang mùa ấm lạnh, tâm hồn héo khô mỏi mòn xao động, đường trần hiu hắt, chơ vơ.

Cuộc đời bao phần là mơ? Vật vờ mơ hồ điểm cuối! Chưa từng vỡ trên vai nhau những giọt buồn tích lũy, tiếc nuối cuộc tình hấp hối… nhặt khoan tiếng lòng bối rối, thời gian mịt mờ gỏ từng nhịp buồn khôn nguôi.

Huyễn hoặc tình yêu, huyễn hoặc cuộc đời! Thôi tình yêu, thôi nước mắt rơi! Buông tay... nẻo về không còn vạn dặm, nơi cuối trời thăm thẳm, trên đôi vai gầy… gánh huyễn hoặc hoàng hôn!

Giữa dòng chảy cuộc đời nhộn nhịp, bất giác ta tự thấy bản thân đang bị cuốn theo luồng xoáy vô định của những giá trị vật chất và tinh thần bề ngoài tự lúc nào không hay. Để rồi ta chới với, ta lạc lõng trong cái bản ngã mà ta vô tình hoặc hữu ý lựa chọn. Ta cố gắng kiếm tìm nguồn gốc sâu xa của những vấn đề rắc rối đang bủa vây quanh mình. Và ta mừng vui khôn xiết khi đọc được triết lý đạo Phật về tiền, quyền, tình. Tuệ giác đạo Phật đã dùng thuyết nhân – quả để soi tỏ những vấn đề đang đi song hành với cuộc sống hiện đại, chỉ ra ngọn nguồn gây nên những vướng bận cho đời sống của con người và cũng bật luồng ánh sáng soi tỏ con đường để ta bước vào chân trời hạnh phúc thực sự.

Tiền bạc, quyền lực chỉ là “tiện nghi” của đời sống

Cuộc sống hiện đại khiến cho rất nhiều người đổ xô vào cuộc chạy đua nước rút trên đường trường vật chất. Tâm nguyện hàng đầu của giới trẻ bây giờ là bắn hai mũi tên: tiền bạc và danh vọng. Bằng con đường này hay con đường khác, thông qua cách này hay cách khác, họ cố sức để đạt được mục đích nói trên. Người thì nỗ lực khoác thêm hết lớp áo bằng cấp này tới chứng chỉ nọ, có người thì giành tâm huyết cho công việc “ngoại giao” với cấp trên để thăng quan tiến chức, có người lại tận dụng mọi kẽ hở thời gian để lao đầu vào công việc…Có nhiều hình trạng, cách thức khác nhau để con người lựa chọn nhằm mục đích  soán ngôi vị xứng đáng trong vương quốc tiền – quyền. Nhưng có bao giờ nhìn nhận quãng thời gian vụt qua, họ có thực sự cảm thấy sự thảnh thơi, bình an và hạnh phúc. Hay tiền – quyền chỉ dán cái nhãn mác cao sang giả tạo? Là bức bình phong che đậy một tâm hồn chống chếnh? Một sự bất hạnh đến tội nghiệp!

Trong cuộc sống, ai cũng phải có tiền. Con người có tiền, có quyền thì càng được xã hội nể trọng hơn. Đúng. Nhưng người có đồng tiền và quyền lực trong tay thì dù ít dù nhiều cũng nên biết đến triết lý về nó để sống cho đúng với đạo lý. Dẫu chúng ta có tiền, có quyền nhưng không có đạo lý để sống thì chưa chắc chúng ta đã được hưởng hạnh phúc. Bởi lẽ, hạnh phúc là cái gì vô hình, do quan điểm sống, triết lý sống tạo nên, do tâm bình thản và trái tim đầy yêu thương kết thành.

Có lẽ căn nguyên dẫn đến sự ham hố giành giật tiền – quyền là do con người không xác định được cái gì là phương tiện và cái gì là mục đích sống. Tất cả những cái vật chất chỉ đem lại không gian thoải mái cho cuộc sống con người mà ta gọi là tiện nghi, nhưng nó không phải là lý do để ta sống. Dẫu điều kiện tiện nghi có dư dả đi chăng nữa thì nó không thể làm thay đổi lẽ sống của con người. Giá trị đích thực của cuộc sống không phải lấy phương tiện để làm hư hại mục đích sống.

Đời sống đầy đủ vật chất đã gắn con người vào nhãn mác “phong lưu”. Chữ “phong lưu” có nghĩa đen là gió cuốn trôi, tức là phải nhẹ lắm thì gió mới cuốn đi được; còn nghĩa bóng là sự sung sướng, thoải mái, không phải lo toan gì nữa. Nếu ta đang sở hữu những thứ tiện nghi sang trọng đắt tiền, hay vị trí xã hội mà rất nhiều người mơ tưởng, thì không lý do gì ta không tự nhận mình là kẻ thành công, có cuộc sống phong lưu. Nhưng khi có được những thứ đó trong tay mà hạnh phúc gia đình lại đổ vỡ, người thân không muốn nhìn mặt, hoặc không thể tin tưởng và cảm thông những người xung quanh…thì có được gọi là thành công, hạnh phúc mỹ mãn được chăng?

Trong vài thập kỷ qua có hàng loạt nghiên cứu xã hội và tâm lý học cho thấy không có sự quan hệ then chốt giữa số tiền kiếm được và mức độ thỏa mãn có được. Càng tích góp bao nhiêu con người càng thấy thiếu thốn và lạc lõng bấy nhiêu. Để phục vụ cho cơn cảm xúc hãnh diện nhất thời ấy, con người đã tiêu tốn rất nhiều năng lượng và đôi khi chấp nhận phương hại đến phẩm chất đạo đức, để rồi khi cảm xúc rút lui thì tâm hồn ta trở nên quạnh hiu, xơ xác. Người ta cảm thấy hụt hẫng khi bỏ ra quá nhiều thời gian và năng lực để tích góp tiền bạc, đến khi có nó trong tay thì tuy có nhận được cảm giác sung sướng nhưng nó rất cạn cợt và lại tan biến rất nhanh. Dần dần con người không còn tin tưởng và định nghĩa những cảm giác thỏa mãn vật chất ấy chính là hạnh phúc. Họ tỉnh táo nhận ra rằng tiền bạc và quyền lực không thể mua được hạnh phúc mà có thể hủy diệt cả hạnh phúc.

Con người bận rộn để kiếm thật nhiều tiền và tất nhiên sẽ không còn nhiều thời gian để thưởng thức trọn vẹn một bữa ăn được chuẩn bị chu đáo, hay ngồi xuống thật yên lắng nghe những khó khăn bế tắc của người thương sống bên cạnh, thậm chí cũng chẳng buồn hỏi han đến những người thân quen. Vì căng thẳng và mệt mỏi với công việc mà họ còn vung vãi không biết bao nhiêu “rác rưởi” qua lời nói và hành động bất cẩn của mình. Thật đáng buồn!

Người ta nói không có kinh tế thì tình cảm sẽ khó bền nhưng người ta lại quên rằng không có tình cảm thì kinh tế cũng trở thành vô nghĩa. Làm giàu để làm gì mà ta không thể sống vui tươi, bình an, hạnh phúc và trải lòng ra để thương yêu? Vì vậy trong liên hệ tình cảm thì tiền bạc, quyền lực không thể tạo nên sự kính trọng chân thành, chỉ có khả năng làm chủ bản thân để cho đạo đức luôn tỏa sáng thì cuộc sống của con người mới thực sự bình an và hạnh phúc. Hãy buông xả mọi lo âu, muộn phiền, toan tính để giành giật tiền bạc và quyền lực. Hãy sống thật với bản chất và tâm hồn mình. Hãy nhẹ nhàng đưa con thuyền đời sống cập bến bình an. Con người sẽ tìm lại được niềm vui sống cho bản thân và hạnh phúc cho những người xung quanh. Tức là ta gieo hạt giống niềm vui ta sẽ gặt được quả hạnh phúc. Triết lý nhân – quả của đạo Phật đã bao quát vấn đề nhân sinh về tiền – quyền rất rõ ràng.

Khi con người lĩnh hội và thực hiện đúng theo nội dung buông xả  thì có thể tự tin đưa bản thân sang một trình độ khác, đó là bất xả. Nghĩa là ta không cần buông xả bất cứ thứ tiện nghi nào cả, ta cứ giữ nó để tùy duyên mà làm nên lợi ích cho người cho đời. Điều đó quả thật thú vị và ý nghĩa biết bao. Bởi vì con người sẽ được sống trong niềm hạnh phúc vô bờ và được trang hoàng các giá trị vật chất đẹp đẽ. Cả hai lĩnh vực: đời sống vật chất và đời sống tinh thần đều có thể tồn tại trong con người.

Vườn tâm kết trái tình yêu

Những người đang sống trong cảm xúc ngọt ngào của tình yêu thì chớ quên nguyên tắc của thương yêu là phải có sự hiến tặng và chia sẻ. Ta phải có nguồn năng lượng tích cực để hiến tặng cho người thương để họ được hay thêm và đẹp thêm khi gắn bó cuộc đời với ta. Mỗi khi người kia rơi vào tình cảnh khó khăn bế tắc, bị gục ngã giữa muôn trùng cám dỗ của cuộc đời thì ta phải có khả năng đánh thức và đưa cánh tay tình thương đến để nâng đỡ hay chở che. Thái độ đúng đắn nhất là mở lòng ra chấp nhận và giúp đỡ người ấy. “Mình với ta tuy hai mà một” – hai thể xác hòa quyện thành một linh hồn, một số phận thì đó mới đích thực là thương yêu. Ta muốn thương yêu thì chỉ xin được tham dự vào cuộc đời của người đó chứ không phải là vứt cuộc đời của họ ra mà để cuộc đời ta vào. Khi ta chưa thấy được đối tượng thương yêu ở ngay trong chính ta thì ta vẫn chưa đến được đỉnh cao của tình yêu. Đó mới là tình yêu chân thành, sâu sắc và trong sáng. Yêu người cũng chính là yêu ta. Tình yêu nhân đôi tiếp năng lượng và sức mạnh cho những người đang sống trong thế giới yêu thương có thêm động lực sống đẹp và yêu đẹp hơn.

Chỉ cần có tình thương yêu chân thật, không vụ lợi thì mới có thể vượt qua bức tường của sự tự ái hay vị kỷ để tích cực chăm sóc lại khu vườn tâm quý báu của ta và cả người thân thương. Khi vườn tâm của ta hay của người kia nở hoa kết trái thì cả hai đều được thừa hưởng, bởi vì hạnh phúc không bao giờ là vấn đề của cá nhân. Hạnh phúc là của đôi lứa. Mộng đẹp cho người cũng là tình đẹp cho ta.

Trong tình yêu khó có thể tránh khỏi đôi lần con người cảm thấy hờn ghen. Hờn ghen có thật là hương vị của tình yêu, là chất keo sơn bảo trì một hạnh phúc, hay nó là trá hình của một cảm xúc bị tổn thương của riêng ta? Ta chẳng quan tâm gì đến cái khát vọng của người kia. Nếu đó là những nhu yếu quá đáng thì ta phải tìm cách điều chỉnh lại nhận thức của người kia. Nếu đó là những nhu yếu hợp lý nhưng lại là khiếm khuyết của ta thì ta hãy xin người đó giúp ta thay đổi. Trách móc, tức giận, hờn ghen hay trừng phạt đều là những phản ứng ích kỷ của cảm xúc, chỉ đẩy người kia đi xa hơn mà thôi.

Nhưng mặt khác, chút biểu hiện hờn ghen tinh tế cũng có thể làm cho người kia thấy mình vẫn còn được thương yêu. Nhưng nếu trở thành một thói quen, một cơn sốt mãn tính, thì người kia sẽ rất mệt mỏi và sợ hãi vì thấy được cái không gian nhỏ xíu mà ta đã qui định cho họ. Lúc nào thoát được khỏi ta mà người kia cũng thở phào nhẹ nhỏm là chứng tỏ tình thương họ giành cho ta chỉ còn là trách nhiệm.

Bên cạnh đó, vấn đề trách nhiệm được đặt ra như chìa khóa mở cánh cửa kỳ bí của tình yêu. Khi một người con trai và con gái chung bước trên con đường tình yêu thì luôn có những điều kiện thuận lợi để ràng buộc nhau. Trước tiên, họ công khai quan hệ tình cảm của mình thì mọi người đều ngầm hiểu rằng họ là một cặp với nhau nên không được phép chen vào, và chính họ cũng không được phép đụng tới những đối tượng khác. Điều ấy có nghĩa là đôi tình nhân đã tuyên bố giành trọn phần trách nhiệm với những gì xảy ra cho nhau. Họ là của nhau trong khung trời yêu đương đắm say đó.

Nhưng có một thực tế dường như là nghịch cảnh: Con người càng bỏ ra nhiều thời gian, năng lực, tiền bạc để chinh phục được đối tượng thương yêu, nhưng khi chiếm hữu được rồi thì họ lại mau chóng nhàm chán, coi thường và ruồng rẫy. Những kẻ yêu hết mình như vậy là những kẻ yêu bằng cảm xúc, yêu bằng con tim ham muốn nhiều hơn là chịu trách nhiệm, yêu như những cơn sốt chứ không phải là để thăng hoa giá trị tinh thần.

Các đôi tình nhân cứ ngất ngây trong cảm xúc yêu đương quấn quýt như hồn bướm mơ hoa. Để rồi càng quấn vào nhau thì càng làm tăng thêm cảm xúc thỏa mãn cho nhau dẫn tới sự ham muốn và đòi hỏi. Nếu một bên không đủ đáp ứng thì bên còn lại sẽ kháng cự, bực tức, và sẽ chán chường. Chính nó đã dẫn dụ con người khát khao kiếm tìm hương vị của những mối tình lạ lẫm. Mầm mống của sự phản bội đã hình thành. Nó là điểm kết thúc của một mối tình.

Vả lại, chính sự quấn quýt quá đỗi vào nhau cũng dễ tạo cho con người cảm giác bị kìm kẹp, gò bó. Mà bản năng của con người cần sự tự do rất lớn, càng bị giam hãm thì càng muốn thoát ly. Thương yêu mà người này trở thành lính gác của người kia thì có khác gì một chuyến lưu đày. Không còn không gian riêng tư sẽ giết chết khả năng sáng tạo và bất ngờ của tình yêu. Nếu cứ lần lữa bước theo lối mòn cũ rích thì chẳng mau thì chóng dễ đẩy con người tới cảm giác chán chường. Từ chán chường mà từ bỏ mối tình này để chạy theo mối tình khác. Đó không phải là tình yêu đích thực. Nó chỉ là sự chạy đua để thỏa mãn cảm xúc yêu đương bình thường, chứ không phải yêu đương để làm thăng hoa giá trị tâm hồn nhau.

Như vậy, theo triết lý của đạo Phật về tình yêu thì tình yêu của con người cũng trải qua nhiều cung bậc cảm xúc thăng trầm, lắm niềm vui và cũng không ít muộn phiền. Dẫu sao thì tình yêu chỉ được coi là đích thực khi con người yêu thương bằng cảm xúc chân thành, có trách nhiệm, yêu người như yêu chính ta. Cảm xúc chân thành từ trái tim sẽ kết nối đến được với trái tim.

(Xin cám ơn thầy Minh Niệm với cuốn sách “Hiểu về trái tim” đã cung cấp những nội dung có ý nghĩa cho bài viết này.)

Có một người kia, sau khi chết, trên đường đi đến điện Diêm La, nhìn thấy một tòa cung điện nguy nga tráng lệ. Anh bèn ghé vào vãng bước. Chủ nhân của tòa cung điện niềm nở đón tiếp và mời anh ở lại chơi vài ngày.
***

Trong lúc trò chuyện, vị khách tâm sự:

- Lúc tôi còn ở chốn nhân gian, cả đời lúc nào cũng bận rộn với công việc. Vì thế, bây giờ tôi chỉ muốn được ăn, được ngủ, được nghỉ ngơi thoải mái và rất ghét phải làm việc.

Người chủ cung điện cười nói:

- Thế à! Như vậy, trên thế gian này còn nơi nào thích hợp hơn ở nơi này. Ở đây tôi có đầy đủ sơn hào hải vị, anh muốn ăn gì cũng có và cũng không ai cấm anh được ăn uống, nghỉ ngơi. Vả lại, tôi có thể bảo đảm không ai có thể ép buộc anh làm bất cứ công việc gì. Và như thế, vị khách nọ đồng ý ở lại nơi tòa cung điện.

Thời gian đầu, nguời khách này thật sự cảm thấy rất thoải mái, hết ăn rồi ngủ, ngủ thức dậy lại được dọn sẵn bàn ăn. Dần dà ngày tháng qua đi, anh ta bắt đầu cảm thấy có chút cô đơn, trống trải. Anh bèn đến tìm chủ cung điện, tỏ vẻ trách móc:

- Mỗi ngày chỉ biết ăn, ngủ riết rồi cũng chán, chẳng thấy thích thú gì nữa. Anh có thể tìm giúp tôi một công việc được không?

Người chủ cung điện nhìn anh đáp:

- Rất tiếc! Ở chỗ chúng tôi từ xưa tới giờ chưa từng có công việc gì để làm.

Vị khách cảm thấy vô cùng thất vọng, lê từng bước chân chậm chạp về phòng.

Rồi ngày tháng dần qua, vị khách gần như hết chịu đựng cảnh nỗi "ăn không ngồi rồi" này. Anh lại đến tìm chủ nhân cung điện và đưa ra đề nghị:

- Tôi không chịu đựng nỗi nữa cảnh như thế này. Nếu như anh không giúp tôi tìm việc làm thì tôi thà chịu đọa địa ngục chứ không muốn ở lại đây nữa.

Người chủ cung điện cười khinh miệt: Vậy chứ anh cho rằng đây là chốn thiên đường chắc? Nơi này chính là địa ngục!

Có thể tìm thấy động lực sáng tạo trong mối quan hệ giữa sự sống và cái chết. Trong đó, giá trị tinh thần cao cả nhất của cuộc sống có thể bắt nguồn từ những ý nghĩ và nghiên cứu về cái chết...

Sinh lão bệnh tử là quy luật lẽ thường của tự nhiên, cái chết không loại trừ bất cứ ai. Trong số những người sẽ ra đi về cõi vĩnh hằng, có không ít người trong số họ là người thân của chúng ta.

Con người thường lấy nước mắt để thể hiện sự thương nhớ của mình đối với những người đã khuất. Đã là con người ai cũng biết rồi cũng đến lúc mình sẽ “ra đi”, nhưng chỉ khác nhau ở chỗ có những sự ra đi được báo trước và không được báo trước.

Có những điều chúng ta tưởng chừng như ai cũng biết nhưng sự thực chưa chắc đã vậy. Có thể bạn đã biết “kiếp luân hồi", hay "sự sống trở lại sau cái chết” nhưng để nhận thức được sự tồn tại của đặc tính “sống” và “chết” trong bản thân của mỗi con người và làm thế nào để cân bằng mối quan hệ giữa chúng thì không phải ai cũng biết.

Từ khi một đứa bé cất tiếng khóc chào đời cho đến khi trở thành một ông cụ “gần đất xa trời” thì đó là cả một quá trình dài. Theo bản năng, con người thường ý thức trước được cái chết của mình.

Đôi lúc, khi con người ý thức được cái chết sẽ đến với mình thì sự ra đi của họ thật thanh thản.

Theo đạo Phật Mahayana được tôn thờ tại Nhật Bản và một số nước khác các nhà sư đôi khi biết được thời điểm họ sẽ chết. Đó là trường hợp như nhà sư Hofaku của Đạo Phật Mahayana. Một lần ông gọi các chú tiểu lại và nói: “Sức khoẻ của ta đang suy yếu dần, nhưng không việc gì phải lo lắng, đây chỉ là dấu hiệu cho thấy cái chết đang đến gần”.

Các chú tiểu vội hỏi: “Thầy sắp chết à! Chết có nghĩa là gì? Chúng ta phải tiếp tục sống. Điều đó có nghĩ là gì?” Nhà sư trả lời: “Đó chính là hai mặt của một vấn đề, là câu hỏi mà tất cả chúng ta đang đi tìm kiếm câu trả lời".

Các chú Tiểu lại hỏi: “Làm sao chúng ta có thể nhận biết được hai trạng thái khác nhau như vậy?” Đối với câu hỏi này, nhà sư trả lời: “Khi mưa thì nước trên trời sẽ đổ xuống và sau đó trời sẽ quang, mây sẽ tạnh trở lại”.

Nhà tâm thần học được sinh ra tại Thuỵ Điển tên là Elisabeth Kubler-Ross – tác giả của cuốn sách “Sự sống và cái chết” cũng đã chia sẻ quan điểm trên, bà cho rằng: “Đối với những ai đang cố gắng tìm hiểu về mối quan hệ giữa sự sống và cái chết thì sẽ thấy cái chết chắc chắn sẽ là một động lực sáng tạo. Giá trị tinh thần cao cả nhất của cuộc sống, có thể bắt nguồn từ những ý nghĩ và nghiên cứu về cái chết”.

Mỗi ngày trôi qua sẽ làm cho mỗi con người trở nên già đi, chuỗi ngày sống sẽ ngắn lại. Do vậy, điều muốn nói ở đây chính là: mặt “sống”của con người được thể hiện qua lao động thì con người phải biết tận dụng nó để làm lợi cho bản thân và xã hội.

Còn đối với mặt “chết” thì con người cần phải xác định trước tư tưởng để không quá đau buồn vì điều này thể hiện được sự ra đi phù hợp với quy luật khách quan.

Đứng trước cái chết, không nên dùng từ “sự lo lắng” để miêu tả mà nên thay bằng “sự nhận thức” thì sẽ phù hợp hơn. Do nhận thức được ý nghĩa của điều này mà nhà sư Hofaku đã điều phối cuộc sống của mình sao cho phù hợp, dễ chịu hơn.

Sẽ là một ý tưởng rất hay nếu mỗi người đều có được một đồng hồ báo thức biết nói. Vào mỗi buổi sáng, chuông đồng hồ reo lên “Thức dậy đi, hôm nay có thể là ngày bắt đầu của chuỗi ngày chán chường, nhưng cái chết thì có thể còn lâu mới xảy đến”.

Trong mỗi con người luôn tồn tại hai mặt: sự sống và cái chết. Khi con người sinh ra và lớn lên cũng đồng nghĩa với việc tiến dần tới cái chết. Do vậy, nếu tất cả mọi người đều hiểu được sinh tử là quy luật tự nhiên thì họ sẽ sống tích cực hơn và ra sức đóng góp cho đời nhiều hơn.

Hồng Hiệp
Nguồn: Vietimes

Học Phật 4 chữ để sống chung với mẹ chồng không còn là nỗi ác mộng

Sống chung với mẹ chồng có lẽ là đề tài sôi nổi không bao giờ có hồi kết của các chị em phụ nữ. Người khen có, người chê có, người than vãn, người trách móc. Không bàn ai đúng ai sai, xin mượn đôi lời Phật dạy để có thêm hướng nhìn về vấn đề n
Phật giáo không chỉ là tôn giáo mà còn là nhân sinh, có rất nhiều lời khuyên, lý lẽ, lời Phật dạy có thể áp dụng vào cuộc sống để hoàn thiện bản thân hơn, hướng tới sự hạnh phúc và bình an. Sống chung với mẹ chồng không phải điều xa lạ nhưng vẫn thường xuyên gây ra những làn sóng tranh luận. Có lẽ với nhiều người, đó là chuyện rất khó giải quyết, vậy hãy thử xem, theo cách nhìn Phật giáo thì nên làm như thế nào.

Hoc Phat 4 chu de song chung voi me chong khong con la noi ac mong hinh anh 2
 

1. Chữ hiếu
 

Phật dạy trong trăm ngàn việc thiện thì thiện nhất là hiếu, trong trăm ngàn nghiệp lành thì lành nhất là hiếu. Hiếu thuận với cha mẹ là cái đức hàng đầu của con người. Cha mẹ sinh thành, dưỡng dục, chăm lo cho con cái từ khi chưa thành hình đến khi trưởng thành, cung cấp từ cái ăn cái mặc cho tới học hành, vui chơi. Chưa tính tới lòng yêu thương, quan tâm, lo lắng thì chỉ ngần ấy công sức thôi cũng đủ để đời đời không báo trả hết.

Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể, không mong hòng báo đáp, con lớn lên rồi có thể đối tốt với cha mẹ được không? Con dâu về nhà chồng, gọi mẹ chồng một tiếng “mẹ” xin hãy hiểu đạo lý này. Mẹ anh ấy mang tới cho mình một người đàn ông vững vàng, mạnh khỏe như vậy, chữ hiếu này thay lời cảm ơn, cũng xứng đáng phải không?
 

2. Chữ tình
 

Làm người sống ở trên đời, không thoát khỏi vòng chữ tình. Mẹ chồng – nàng dâu không phải đối thủ của nhau, hãy luôn tâm niệm như vậy. Hai người phụ nữ giành nhau điều gì? Giành nhau tình cảm của một người đàn ông. Nhưng con người đâu phải hàng hóa mà của anh, của tôi. Tình cảm không giới hạn, tình mẹ con khác tình vợ chồng.
 
Người với người ở bên nhau đã khó, dung hợp với nhau lại càng khó hơn. Mẹ chồng và con dâu ở hai thế hệ khác nhau nên xảy ra xung đột, xích mích là điều hoàn toàn bình thường. Lúc này, con dâu hãy học Phật chữ “nhẫn” để sống chung với mẹ chồng và mẹ chồng cũng học chữ này để sống chung với con dâu.

Hoc Phat 4 chu de song chung voi me chong khong con la noi ac mong hinh anh 2
 
Mối quan hệ này không phải một phía, chỉ là con dâu đối phó với mẹ chồng hay mẹ chồng đối phó với con dâu mà cả hai cùng phải thay đổi để sống cho trọn chữ “tình”. Có người nghĩ con dâu và mẹ chồng vốn chẳng có quan hệ gì nên tình cảm không phải chân thực. Trước chưa có tình cảm nhưng sau là mẹ con, sống dưới một mái nhà, qua bao nhiêu năm vun đắp, không phải tình thì là gì?
 

3. Chữ đạo
 

Sống chung với mẹ chồng không dễ, sống chung với con dâu lại càng khó. Ai cũng nghĩ tới cái khổ của mình nhưng không nghĩ tới cái khổ của người khác, đó là không phải đạo. Ai cũng dùng lòng tham, lòng chiếm hữu của mình để giành giật một người đàn ông, ấy là sống sai đạo. Ai cũng làm những điều quá quắt, phạm khẩu nghiệp, phạm lỗi dối trá, bất hiếu, thất đức ấy là phạm đạo.
 
Làm người sống lỗi như vậy thì tìm đâu thấy hạnh phúc? Con dâu nên coi mẹ chồng là mẹ mà cha mẹ thì có quyền và trách nhiệm dạy dỗ, chỉ bảo cho con cái trong nhà. Mẹ chồng nên coi nàng dâu là con mà uốn nắn, hướng dẫn chân thành. Hai người cùng sống phải đạo thì đời êm ấm.
 

4.Chữ đức
 

Chúng Phật tử vẫn thường kể nhau nghe câu chuyện thiền sư thấy con bọ cạp bị rơi xuống nước liền vớt nó lên bờ, con bọ cạp theo phản ứng tự nhiên chích vào tay vị thiền sư rất đau nhưng ngài không tỏ ra tức giận. Vừa đi được vài bước, thấy con bọ cạp lại rơi xuống nước, thiền sư quay lại nhặt nó lên và vẫn bị đốt nhưng cũng chẳng mảy may khó chịu. Có người thấy thế liền hỏi tại sao ngài vẫn cứu con vật dù bị nó làm tổn thương. Thiền sư chỉ nhỏ nhẹ giải thích: đốt người là thiên tính của bọ cạp, cứu vật là thiên tính của ta, tại sao lại vì thiên tính của nó mà thay đổi thiên tính của ta.
 
Với mẹ chồng, nàng dâu cũng vậy, người tốt với mình mình tốt lại không phải đạo lý, sống thế nào cho đúng tâm, đúng đức của mình mới là đáng quý. Người có tâm, có đức có thể cảm hóa người khác, sống đời thanh thản nhưng người vô tâm, vô đức thì chỉ gây thêm nhiều phiền muộn mà thôi. 

Lời nguyền của Ma Vương đối với Đức Phật đang ứng nghiệm tới ngày nay?

Lời nguyền của Ma Vương đối với Đức Phật là lời dự báo về tương lai của thế giới này và cũng chính là hiện tại của chúng ta. Ai cũng cảm thấy đau lòng thì mọi thứ đang diễn ra đúng như thế, khi các giá trị của những lời dạy của Đức Phật đang dần bị biết mất.
Từng là người cai quản thế giới này nên Ma Vương dùng đủ mọi hình thức để chống phá không cho Đức Phật thành đạo nhưng cuối cùng lại nhận về sự thất bại. Ma Vương đã đưa ra lời nguyền và dường như chúng là lời tiên đoán về thời kỳ khi Đức Phật qua đời và dường như chúng đã, đang là hiện thực hiện nay mà chúng ta đang đối mặt.
 

Học được gì từ cách Phật đánh bại được Ma Vương?

 
Đức Phật nhờ sử dụng “Cây cung thiền định thanh tịnh” và “Cây kiếm trí tuệ bát nhã” để biết những việc Ma Vương dẫn con người luẩn quẩn đi trong luân hồi, hầu hạ nó. Từ đó mà giúp loài người giải thoát được những mê lầm này.
 
Cuộc sống luôn tồn tại đồng hành có âm - có dương, có thiện - ác, có trắng - đen, có cương ắt có nhu,... và Đức Phật - Ma Vương cũng đại diện cho hai mặt cuộc sống như thế. 

Và chính mỗi con người của chúng ta cũng tồn tại Phật tính và Ma tính, đó là lý do nếu bạn muốn phát huy Phật tính cũng đồng nghĩa với việc là bạn phải chiến thắng Ma tính trong chính chúng ta. Đó là lý do có câu nói: Kẻ thù lớn nhất đó là chính mình.

Muốn có được sự thanh tịnh thì phải chấp nhận sự khó chịu, đớn đau khi ta bắt đầu phải buông bỏ ham dục, danh lợi, vui thú... để giữ tâm trong sáng, an lành. Thế nhưng, ta ưa sự nhàn hạ nên con người mãi không đủ lý trí và tịnh tâm để thoát khỏi vòng luẩn quẩn này. Xem thêm: Đức Phật dự đoán về tương lai: Quá nhiều điều đau lòng đang thực sự diễn ra.

Để thắng Ma Vương, Đức Phật đã phải sử dụng:
 
- Cây cung thiền định thanh tịnh: tức là sự thanh tịnh tận sâu trong tâm hồn (thường có được sau quá trình thiền định) nhờ đó mà không bị những ham muốn thế gian như danh vọng, vinh hoa, tiền tài, tình cảm thế nhân dẫn động lôi kéo. 
 
- Cây kiếm trí tuệ bát nhã: tức là phải dùng trí tuệ của Phật Pháp để soi sáng nhằm phân biệt thật giả, chính tà, thiện ác. Bám chắc vào Pháp, chứ không chạy theo số đông, không nghe theo danh tiếng người thầy nào đó, hay danh tiếng môn phái nào đó.
 
Để hiểu thêm về trí, ta có thể tham khảo câu chuyện Lương Võ Đế hỏi Bồ đề Đạt Ma: “Trẫm một đời cất chùa, độ tăng, bố thí, cúng dường, đúc chuông, tạc tượng, ấn tống kinh sách, như vậy có được công đức gì chăng?”.
 
Bồ đề Ðạt Ma trả lời một cách rõ ràng rằng: “Những việc làm ấy thực không có công đức gì cả!”. Vua lại hỏi: “Tại sao không công đức?”.
 
Ngài Đạt Ma đáp: “Bởi vì những việc vua làm là ‘hữu lậu’, chỉ có những quả nhỏ trong vòng nhân thiên, như ảnh tùy hình, tuy có nhưng không phải thật”.
 
Vua lại hỏi: “Vậy công đức chân thật là gì?”. Ngài Đạt Ma đáp: “Trí phải được thanh tịnh hoàn toàn, thể phải được trống không vắng lặng, như vậy mới là công đức, và công đức này không thể lấy việc thế gian (như xây chùa, chép kinh, độ tăng) mà cầu được”.
 
loi nguyen cua Ma Vuong voi Duc Phat
 

Lời nguyền của Ma Vương đối với Đức Phật đang ứng nghiệm?


Trước khi bỏ đi trong trận thua với Đức Phật, Ma Vương có lời nguyền rằng: “Này ông Cồ Đàm! Hôm nay ta thua ông, vì ông còn trụ ở thế giới này, nên ta không làm gì được ông. Ông nên biết rằng, sau khi ông diệt độ, sau này các đệ tử của ông, dù là lớn hay nhỏ, tuy là hình thức tu theo ông, chớ việc làm của họ phải làm theo sự điều khiển của ta cả, ông phải chống mắt mà xem ta sai khiến họ!”.

Lời nguyền của Ma Vương đối với Đức Phật nếu soi xét đến thời điểm này chúng ta có thể thấy chúng đang ứng nghiệm.

Người có chức có quyền tàn phá giá trị Đạo Phật 

 
- Ma Vương nói: “Còn sau khi ông diệt độ, người nào dám viết lại những lời dạy về Như Lai thanh tịnh thiền của ông, đều là kẻ chống đối với ta, ta quyết chí triệt phá họ cho bằng được. Ta sẽ sai khiến người có chức có quyền trong đạo của ông phụ giúp ta triệt phá người này.

Hiện nay có quá nhiều sự biến tướng về chùa chiền với những người đứng đầu đã lợi dụng niềm tin của người dân nhằm thu lợi về mình, họ sẵn sàng dùng lời Phật chỉ dạy và biến tướng chúng đi theo cách hiểu của mình bất chấp hậu quả.

Nhưng thế sự vạn biến, thật giả khó lường, cái giả, cái tà, cái ác sẽ mượn danh cái chân, cái chính, cái thiện để lừa dối người ta, mê hoặc dẫn dụ người ta. 

Với những sai lầm của "người dẫn đường" tưởng là đệ tử của Phật nhưng họ đang xa rời các giá trị cao quý, từ đó chúng ta cũng bị mê lầm theo. 
 
chung ta dang di xa dan gia tri dao Phat
 

Việc cúng lạy cầu xin vô số kể


- Ma Vương nhấn mạnh: Ta cũng báo cho ông Cồ Đàm biết, số người tu theo đạo của ông, một ngàn người chưa chắc có một người biết pháp môn thanh tịnh thiền này, nhưng việc cúng lạy và cầu xin thì là vô số kể. Ông đừng mong đem giáo pháp thiền thanh tịnh này để đưa người sống trong vật lý (vật chất) do ta cai quản, hầu thoát ra ngoài sự cuốn hút của vật lý (vật chất) được!”.

Đức Phật dạy ta cần phải giữ tâm thanh tịnh, và dùng trí tuệ bát nhã, chứ đâu có dạy xây chùa, thắp hương lễ bái, cầu khấn, đốt vàng mã, phóng sinh ồ ạt như hiện nay? Đau lòng hơn nữa việc này lại hoàn toàn xuất phát từ tâm Ma mà ra.

Hay những ngày rằm mồng một, đặc biệt là dịp lễ tết, đến các chùa sẽ thấy Ma Vương đang tha hồ hoành hoành thế giới này với sự vắng mặt của Đức Phật khi quá nhiều nghi lễ bày ra gây hao tốn tiền bạc, sức lực và mất đi giá trị niềm tin chân thực.

Nếu soi chiếu về chính con người mình thì có thể nói, ta đang ngày một nuôi dưỡng tâm Ma và đánh rơi tâm Phật bằng việc tham lam mong cầu, thiếu hiểu biết. 

Thử hỏi việc cố xây thêm nhiều chùa thật to hiện nay hay cố đi hết nơi này để cầu xin Phật ban ơn thì có ích gì trong khi việc nhà thì tan hoang, không ai trông nom, chăm sóc. Tâm của bạn có thực sự an khi chính lòng bạn còn nhiều phiền nhiễu và những người xung quanh mình cũng đang hoang mang giữa cuộc đời.

Chúng ta nên hiểu rằng, việc cúng chùa chỉ là cách tưởng nhớ tới lòng thành, là việc khơi gợi tâm Phật trong mỗi chúng ta chứ không phải thỏa mãn điều kiện gì cho Phật để Ngài trả ơn lại cho ta bằng một điều kỳ diệu gì đó.

Xưa kia, Thái tử Trần Anh Tông hỏi cha mình:

- Kính thưa Phụ vương, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lập ra đạo dạy Giác ngộ và Giải thoát, cớ sao các chùa ở kinh thành Thăng Long này chùa nào cũng cúng, vậy cúng Đức Phật Thích Ca có ăn không? Kính xin Phụ vương dạy con?

Đức vua Trần Nhân Tông dạy: "Này Thái tử Trần Anh Tông: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lập ra đạo là giúp cho ai muốn Giải thoát ra ngoài súc hút luân hồi tạo ra nhân quả nơi trái đất này, chớ Đức Phật không phải lập ra đạo để ăn thức cúng của loài Người. Người nào lập chùa ra mà không biết lời của Đức Phật dạy, nên tưởng tượng cúng cho Phật ăn. Đức Phật đâu có ở Thế giới này mà ăn".
 

Nhiều pháp môn mạo danh để kiếm tiền


 - Ma Vương lại nói thêm: “Này ông Cồ Đàm, sau này có rất nhiều người đem pháp môn tu trong vật lý (vật chất), mạo danh thanh tịnh thiền để dụ nhiều người đến nghe để họ kiếm tiền, những người này cũng là do ta xúi bảo cả”. 

Những thuyết giảng của Phật Thích Ca sau 2500 năm đã sai lệch đi ít nhiều, người học thời nay đã không tiếp cận được nguyên văn lời giảng của Ngài qua nhiều lần biên dịch, phiên dịch, qua nhiều ngôn ngữ khác nhau, và qua lời giải thích kinh sách của những người ở các tầng thứ, nhận thức khác nhau, khiến nghĩa lý ban đầu đã không còn mấy.

Từ đấy, có quá nhiều mạo danh khiến thực hư lẫn lộng và nhiều người thiếu niềm tin về Đức Phật khi nhận thấy các giá trị sau những lần "tam sao thất bản" đã chẳng có chút ích lợi lạc gì. Thời Đức Phật, với sự chỉ dẫn của Ngài, con trai La Hầu La đã đạt được giác ngộ viên mãn khi mới tròn 20 tuổi, vợ của Đức Phật đắc quả A-la-hán ngay trong một đời... nhưng ngày nay chúng ta có học mãi vẫn chưa thấy trí tuệ khai thông và mãi lầm được lạc lối mãi không tìm đâu ra lối đi cho mình. Tham khảo: Vợ của Đức Phật là ai? Người phụ nữ tài sắc vẹn toàn không phải ai cũng biết
VDO.AI
 
Đức Phật nghe lời nguyền và tiếng cười của Ma Vương nên trước khi nhập niết bàn, Ngài căn dặn: “Này các đại đệ tử lớn của Như Lai, cũng như các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc và ưu bà di, các ngươi là người tu theo thanh tịnh thiền, phải chú ý lời nguyền của Ma Vương và dạy lại cho người sau. Vị nào tu tập theo chánh pháp thanh tịnh thiền, phải nhớ những lời nguyền của Ma Vương này!”.
 
Nhưng con người rốt cuộc vẫn là con người, vẫn cứ bị ma dẫn động, vẫn chạy theo giá trị bên ngoài mà quên mất việc tu ở ngay tâm của chính mình chứ không phải nơi nào khác

Tụng Kinh Dược Sư – Bệnh tật tiêu tan, Thân Tâm thoát khỏi bể khổ

Dược Sư Bồ Tát phát nguyện cứu độ chúng sinh, giúp chúng sinh chữa bệnh và chữa nghiệp. Kinh Dược Sư thể hiện rõ 12 đại nguyện của Đức Dược Sư trong chuyện cứu nhân độ thế
Bạn có thể Tải trọn bộ Kinh Dược Sư TẠI ĐÂY!

Dưới đây là bản tụng niệm Kinh Dược Sư do Hòa thượng Thích Trí Quảng biên soạn mà Lịch ngày tốt sưu tầm, mong rằng có thể giúp ích cho các bạn độc giả. 

tung kinh duoc su de tieu tru benh tat, hoa giai ac nghiep

NGUYỆN HƯƠNG

Đốt nén tâm hương trước Phật đài,
Ngũ phần dâng trọn Đức Như Lai.
Cầu xin nhân loại lên bờ giác,
Hạnh phúc bình an khắp muôn loài.
Đốt nén tâm hương cúng Phật Đà,
Lòng thành gởi tận chốn bao la.
Cầu xin Tam Bảo thường gia hộ,
Đạo pháp hoằng thông đến mọi nhà.
Đốt nén tâm hương ở Ta bà,
Nhớ lời di huấn Đức Thích Ca.
Cầu xin Bồ Tát Tùng Địa Xuất,
Thầm giúp cho người tụng Pháp Hoa.
 NAM MÔ HƯƠNG CÚNG DƯỜNG BỒ TÁT MA HA TÁT (3 lần)
 
Bạn có biết Dược Sư Như Lai là Đức Phật phát nguyện chữa bệnh, chữa nghiệp cho chúng sinh?

TÁN PHẬT
 

Tâm Thế Tôn mảy trần không bợn,
Thân của Ngài vô tận phước lành.
Từ bi cứu khổ độ sanh,
Chúng con đảnh lễ chí thành quy y.                     

LỄ PHẬT
 

 * Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Tận Hư Không Biến Pháp Giới Quá, Hiện, Vị Lai Thập Phương Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng Thường Trụ Tam Bảo (1 lạy).
 * Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Ta Bà Giáo Chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư tôn Bồ tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát (1 lạy).
 * Chí tâm đảnh lễ: Nam mô Đông phương Giáo chủ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật, Nhật Quang Biến Chiếu Bồ tát, Nguyệt Quang Biến Chiếu Bồ tát, Cứu Thoát Bồ tát, Dược Sư hội thượng Phật Bồ tát (1 lạy).

TÁN DƯƠNG CHI
 

Cành dương nước pháp rưới ba ngàn
Quan Âm cam lộ cứu trần gian
Trời người trong sạch vào pháp giới
Lửa đỏ làm nên đóa sen vàng.
 NAM MÔ THANH LƯƠNG ĐỊA BỒ TÁT MA HA TÁT (3 lần)
 NAM MÔ ĐẠI BI HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT (3 lần)
 Đà la ni của tâm đại bi vô ngại:
Con xin quy y Phật, Pháp, Tăng, Tam bảo. Nguyện theo Bồ tát Quan Âm, vì Ngài có đủ sức mạnh của tâm đại bi. Con xin quy y với đấng cứu giúp loài người ra khỏi tai nạn. Vì Ngài có đủ thần lực nên gọi là Đấng toàn năng.

VDO.AI
Con xin trì tụng thần chú của Ngài. Thần chú làm cho chúng sanh được an vui lợi ích. Thần chú rất là thù thắng, vì nó làm cho ác ma không thể tới gần; thật là linh nghiệm vì nó có thể tịnh hóa thế giới sanh tử luân hồi.

Hãy tụng Thần chú như sau: Cúi xin Đấng sáng chói, Đấng có trí tuệ sáng chói, Đấng siêu thoát thế gian, Bậc sư tử vương, Bậc Bồ tát vĩ đại! Xin Ngài hãy ức niệm chơn ngôn, trì tụng chơn ngôn, làm cho chơn ngôn linh nghiệm.

Đấng tối thắng, hỡi Đấng tối thắng! Xin Ngài làm cho thần chú linh nghiệm.

Đấng đại tự tại! Xin Ngài phát huy sức mạnh thần thông tự tại. Xin Ngài phát huy sức mạnh đại tự tại.

Đấng không ô nhiễm, Đấng xa rời trần cấu, Đấng có thân hình không ô nhiễm! Hãy đến, xin Ngài xuất hiện.

Đấng tự tại trong đời! Xin Ngài trừ độc tham lam, trừ độc sân hận, trừ độc ngu si tham ái, trừ sạch phiền não nhiễm ô.

Đấng sư tử vương! Xin Ngài xuất hiện, tiến lên, hãy tiến lên.

Đấng giác ngộ! Xin Ngài làm cho chúng sanh giác ngộ.

Đấng có đầy đủ lòng từ! Chúng con muốn được thấy Ngài, lạy Ngài.Xin Ngài ban cho an vui hạnh phúc, mọi điều mong ước đều được thành tựu.

Bậc thành tựu đệ nhất! Xin ban cho con thiền định an vui, sức mạnh vô cùng.

Đấng thành tựu vĩ đại! Người mặc giáp đen, mình choàng da hổ, tay cầm hoa sen, tay cầm kim cang, tay cầm pháp loa giác ngộ mọi người, tay cầm tích trượng chiến đấu và cũng chiến thắng, bên tả thì có mãnh thú, bên hữu lại có sư tử trợ lực. Xin ban cho con an vui, hạnh phúc.

Con xin quy y Phật, Pháp, Tăng, Tam bảo. Con xin quy y Bồ tát Quan Âm, tất cả ước mơ đều được thành tựu.

Thật linh nghiệm, thần chú thật linh nghiệm, thần chú của Đấng toàn năng thật là linh nghiệm.
 NAM MÔ ĐẠI BI QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT (3 lần)

Có thể bạn chưa biết: 30/9 âm lịch Dược Sư Phật đản sinh, phát đại nguyện cứu chúng sinh
 

tung niem kinh duoc su

TIÊU TAI KIẾT TƯỜNG THẦN CHÚ
 

Con xin quy mạng đảnh lễ chư Phật nói pháp thanh tịnh vi diệu.
Này Hư không! Hãy uống cạn tất cả họa tai, hãy làm sạch tất cả họa tai.
Này Sức nóng! Hãy phát hỏa, phát hỏa thiêu đốt tất cả họa tai, đốt sạch tai họa.
Này Tinh tú! Hãy xuất hiện, xuất hiện để tiêu trừ họa tai đen tối, làm cho bầu trời trong sáng, an lành, thật an lành.

NAM MÔ TIÊU TAI GIÁNG KIẾT TƯỜNG BỒ TÁT MA HA TÁT (3 lần)
  

TÁN HƯƠNG
 

Lò hương vừa bén gỗ chiên đàn
Khói thơm ngào ngạt khắp trần gian
Ba ngàn thế giới đều thanh tịnh
Mười phương chư Phật hiện thân vàng

NAM MÔ HƯƠNG VÂN CÁI BỒ TÁT MA HA TÁT (3 lần)
   

KHAI KINH

NAM  MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT (3 lần)
Kính lạy Đức Thế Tôn
Quy mạng mười phương Phật
Con nay phát đại nguyện
Thọ trì kinh Dược Sư
Trên đền bốn ơn nặng
Dưới cứu khổ tam đồ
Nếu có kẻ thấy nghe
Đều phát tâm Bồ đề
Khi mãn Báo thân này
Sanh vào các Tịnh độ.
NAM MÔ DƯỢC SƯ HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT (3 lần)
Bạn có biết Thờ Phật Dược Sư tại gia có thể khỏe thân an tâm, tiễu trừ bệnh ách.

KINH DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG VƯƠNG NHƯ LAI BỔN NGUYỆN CÔNG ĐỨC

Tôi nghe như vầy, một thuở nọ Đức Phật châu du giáo hóa đến thành Quảng Nghiêm dưới cây tiếng nhạc, cùng với tám ngàn Tỳ kheo, ba vạn sáu ngàn Bồ tát, bát bộ Thiên long, người với quỷ thần, Bà la môn, cư sĩ, quốc vương, đại thần cung kính thỉnh Phật thuyết pháp.

Bấy giờ Văn Thù Bồ tát nương Phật thần lực, quỳ gối chắp tay, hướng Phật, bạch rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Cúi xin nói rõ danh hiệu, bổn nguyện, công đức thù thắng của các Đức Phật, để cho mọi người theo đó tu hành, được sanh công đức và nêu gương tốt cho chúng đời sau”.

Đức Phật liền bảo: "Hay thay, hay thay, Văn Thù Sư Lợi! Ông muốn Ta nói danh hiệu, bổn nguyện, công đức chư Phật cho chúng hữu tình khỏi bị nghiệp chướng buộc ràng, luôn được bình an trong đời Tượng pháp. Ông nên lóng nghe và suy nghĩ kỹ, ta sẽ vì ông mà nói”.

Văn Thù Sư Lợi Bồ tát bạch rằng: "Chúng con muốn nghe. Cúi xin Thế Tôn mở lòng chỉ giáo”.

Đức Phật liền bảo: "Này Văn Thù Sư Lợi, từ đây hướng đến phương Đông cách mười muôn ức cõi nước chư Phật có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly; Giáo chủ cõi này là Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai. Mọi người tôn kính, vì Ngài biết rõ thật tướng các pháp, giải được mọi việc xảy ra trong đời và vượt khó khăn, làm Thầy Trời người, là bậc tôn quý. Khi còn tu hạnh Bồ tát, có phát Mười hai Đại nguyện khiến cho hữu tình cầu chi được nấy.

THỨ NHỨT: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, hào quang của Ta chiếu khắp vô lượng vô biên thế giới, khiến chúng hữu tình thấy ánh quang này, thân tâm thanh tịnh, đủ tướng trượng phu, siêng tu Lục độ, rời biển trần khổ, vào chốn Niết Bàn.

THỨ HAI: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, thân Ta như ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, hào quang rực rỡ chiếu khắp mười phương. Các chúng hữu tình ở nơi tăm tối cũng thấy thân Ta và được an lành, tùy tâm mãn nguyện.

THỨ BA: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, dùng trí phương tiện dạy chúng hữu tình khiến tin lẫn nhau, làm cho dân giàu nước mạnh.

THỨ TƯ: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình tu theo tà đạo, thì Ta khiến họ trở về chánh đạo. Nếu theo nhị thừa, thì Ta khiến họ cầu Vô thượng giác.

THỨ NĂM: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình ở trong giáo pháp tu hạnh thanh tịnh, thì Ta khiến họ đầy đủ Tam tụ tịnh giới. Nếu ai hủy phạm mà nghe danh Ta, tâm liền thanh tịnh, không đọa ác đạo.

THỨ SÁU: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình thân hình hèn hạ, không đủ sáu căn, xấu xí, khờ khạo, tai điếc, mắt mù, nói năng ngọng liệu, tay chân tật nguyền, lác hủi, điên cuồng, chịu nhiều khổ não. Nghe được danh Ta, liền được khỏi bệnh, thân hình đoan chánh, trí huệ sáng suốt.

THỨ BẢY: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình mang bệnh hiểm nghèo, không người cứu chữa, không chỗ cậy nhờ, nghèo cùng khốn khổ. Nghe được danh Ta, liền được khỏi bệnh, thân tâm thanh tịnh, quyến thuộc sum vầy.

THỨ TÁM: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình mang thân phụ nữ chịu nhiều đau khổ, muốn cầu ra khỏi, nghe được danh Ta, thân tâm thanh tịnh, đủ tướng trượng phu, tiến đến Vô thượng Bồ đề.

THỨ CHÍN: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình sa vào lưới ma, tà giáo ràng buộc, Ta dùng phương tiện khai thị cho họ, khiến khỏi đường mê, tu hạnh Bồ tát, chứng quả Vô thượng Bồ đề.

THỨ MƯỜI: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có hữu tình do vì vô minh phạm phải sai lầm, nên bị giam cầm, chịu nhiều đau khổ. Nghe được danh Ta, tất cả khổ ấy liền được tiêu trừ.

THỨ MƯỜI MỘT: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có người nào nghèo cùng, đói khát, vì cầu thức ăn mà tạo nghiệp ác. Nghe được danh Ta, chuyên lòng thọ trì, thì Ta khiến họ có đủ vật thực và dạy pháp Phật, khiến cho họ được Vô thượng Bồ đề.

THỨ MƯỜI HAI: Ta nguyện đời sau, khi chứng Vô thượng Bồ đề, nếu có người nào nghèo cùng hèn hạ, không có áo mặc, muỗi mòng cắn đốt, nóng lạnh dãi dầu. Nghe được danh Ta, chuyên lòng thọ trì, thì Ta khiến họ có đủ đồ dùng, y phục tốt đẹp, của báu dư thừa.

Đọc thêm Những ai nên cung phụng Phật Dược Sư để được hưởng phúc? 

"Lại này Văn Thù Sư Lợi! Công đức của Phật Dược Sư không thể nghĩ bàn. Vì thế các ông nên khuyên chúng sanh nguyện về cõi Tịnh của Phật Dược Sư. Vĩ cõi Phật ấy, đất bằng lưu ly, cây báu thẳng hàng cũng như Tịnh Độ của Phật Di Đà, là nơi hội ngộ của nhiều Bồ tát Nhứt sanh bổ xứ, dưới sự hướng dẫn của hai Bồ tát Nhựt Quang Biến Chiếu, Nguyệt Quang Biến Chiếu là bậc đại sĩ trợ tuyên chánh pháp của Phật Dược Sư.

"Văn Thù Sư Lợi! Ở thế giới này lại có nhiều người không biết lành dữ, ôm lòng bỏn sẻn, thiếu hẳn đức tin, không ưa bố thí, tham lam, ích kỷ, cướp đoạt của người. Sau khi qua đời, sanh làm ngạ quỷ, đói khát, khổ sở, nhớ niệm danh hiệu của Phật Dược Sư, sanh lại làm người. Nhờ công đức ấy, nhớ khổ ngạ quỷ, nên hành bố thí, giúp kẻ nghèo cùng, tăng trưởng thiện căn, tu Bồ tát pháp.

"Lại nữa, trong đời ngũ trược, có kẻ phá giới, làm mất chánh kiến, khen mình, chê người, tôn thờ ác quỷ, làm bạn với ma, khi chết lại sa ác đạo. Nếu nghe danh hiệu của Phật Dược Sư, liền khỏi đường mê, bờ giác quay về, xuất gia học đạo, kính thờ Tam Bảo, học rộng nghe nhiều, thành tựu Lục độ cao siêu, chóng lên bờ giác.

"Ở trường hợp khác, nếu bị kẻ ác nhờ cậy quỷ thần, hoặc là phù thủy, yếm đối trù ẻo, khổ sở vô cùng. Nếu tụng Dược Sư tiêu tai thần chú, thì kẻ hung dữ cũng phải hiền lành và phát lòng thành quy y Tam Bảo.

"Nếu có Phật tử tu theo Tịnh độ pháp môn, nhưng chưa quyết tâm, đến lúc mạng chung mà nghe danh xưng NAM MÔ DƯỢC SƯ PHẬT, DƯỢC SƯ PHẬT, thì cũng sẽ được Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Quán Thế Âm Bồ tát, Đắc Đại Thế Bồ tát, Vô Tận Ý Bồ tát, Bảo Đàn Hoa Bồ tát, Dương Vương Bồ tát, Dược Thượng Bồ tát, Di Lặc Bồ tát, từ khắp mười phương chỉ lối đưa đường đến ao Thất bảo, sanh trong sen báu của Phật Di Đà, hoặc lên cõi trời, đời đời hưởng phước. Tuổi trời khi hết, sanh lại làm nhân gian, làm Chuyển luân vương, được người tôn kính. Bốn phương yên tĩnh, không có ác ma, khuyến hóa mọi nhà siêng tu thập thiện, ba nghiệp thanh tịnh, đủ tướng trượng phu.

"Lại này Văn Thù Sư Lợi! Sau khi thành đạo, Đức Phật Dược Sư phát tâm đại từ, liền vào Chánh định, hóa Phật trên đỉnh, thuyết Đà la ni Thần chú Tiêu tai, khiến cho ba cõi bốn loài không còn những bệnh quái ác. Nếu chư Bồ tát sanh ở đời sau, gặp bệnh nan y, nên trì chú này vào bát nước sạch, không có vi trùng, cho bệnh nhân dùng, liền được khỏe mạnh. Bồ tát đa hạnh làm thuốc cứu người, phước nhiều vô lượng, hiện đời được người kính trọng; chết lại theo Phật Dược Sư, tinh tấn siêng tu, sẽ thành Vô thượng Chánh giác”.

Bấy giờ Văn Thù Bồ tát xin Phật truyền bá kinh này, giải ách trừ tai, cứu đời mở đạo.

Đức Phật lại bảo: "Nếu có người nào cúng dường cầu phước, thì trước phải tạo bảy tượng của Phật Dược Sư để trên tòa cao, rải hoa dâng hương, đốt đèn tục mạng. Giữ tâm thanh tịnh, không giận, không buồn, thương xót chúng sanh, khởi tâm cứu hộ. Luôn nhớ bổn nguyện công đức của Phật Dược Sư, đọc tụng, suy tư, dạy người làm phước, thì được công đức không thể nghĩ bàn.

"Nếu ở thế gian, vượt núi băng ngàn, luôn gặp tai nạn, nước trôi, lửa cháy, quan lại hành hình, dưới biển cá kình, trên non hổ dữ, sư tử,độc xà, giặc giã khắp nơi, hết đường chạy thoát. Nhờ có căn lành đời trước, nên nhớ danh hiệu của Phật Dược Sư, trừ tai thần chú, nhiếp niệm thọ trì, tất cả tội này theo đây tan mất.

"Nếu có Phật tử lỡ phạm cấm giới, sợ đọa tam đồ, kính trọng tôn thờ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai. Nhờ công đức này, khỏi đường sanh tử.

"Nếu có phụ nữ chịu khổ lúc sanh, sức lực tiêu tan, tưởng chừng phải chết. Nhờ phước đời trước, nghe được danh hiệu của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai, liền hết khổ đau, hạ sanh mau lẹ, mẹ con bình an”.

Phật hỏi A Nan có tin việc ấy? A Nan đứng dậy mà bạch Phật rằng: "Mặt trăng nóng lên, mặt trời lạnh lại, lời nói Như Lai không bao giờ sai. Nhưng chúng đời sau tánh hay tự cao, không tin lời Phật, sẽ bị đọa lạc ở chốn tam đồ”.


duoc su bo tat chua benh chua nghiep

Bấy giờ, trong chúng hội này có một Bồ tát tên là Cứu Thoát quỳ gối chắp tay bạch với Phật rằng: "Bạch Đức Thế Tôn! Sau khi Như Lai diệt độ, những người đau khổ, bệnh nặng, ốm gầy; bà con, bạn bè hết lòng cứu chữa, mà vẫn không khỏi, lại thấy sứ giả Diêm Ma sau khi kiểm tra đưa hồn về địa phủ đang chờ xét xử. Nếu có Phật tử vì người bệnh này, rước đủ bảy Thầy, treo phan tục mạng, hết lòng cầu nguyện Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai. Thần thức người này có thể trở lại, nhớ rõ mọi việc ở chốn âm ty; cho nên từ đây siêng năng tu phước, dẫu sanh trong đời ngũ trược mà vẫn an lành”.

Bấy giờ, A Nan muốn hiểu rõ ràng về đèn cứu mạng cùng với thần phan, làm sao giải oan cho người đã chết.

Cứu Thoát Bồ tát bạch Đức A Nan, ở trong thế gian nếu có kẻ bệnh, muốn được bình an, tất cả người thân phải giữ tám phần trai giới, mở kho bố thí, cúng dường chúng Tăng, lập đàn treo phan tục mạng trước bảy hình tượng của Phật Dược Sư, bốn mươi chín ngày đêm đốt đèn bổn mạng. Chư Tăng cầu nguyện, lễ Phật Dược Sư, giải ách trừ tai thần chú. Làm đủ việc ấy, bệnh khổ tiêu trừ.

Bấy giờ, A Nan nói mạng đã hết, làm sao không chết, mà được sống thêm?

Cứu Thoát Bồ tát thưa liền: "Thế Tôn có dạy chín loại hoạnh hồn, cho nên ta khuyên làm phan và đèn tục mạng, để khỏi tai nạn, được sống lâu dài. Chín thứ hoạnh này thật chưa hết số, nhưng vì quá khổ, nên phải chết oan.

"Thứ nhứt, người bệnh không đủ thuốc thang, không người chăm sóc, bệnh không đáng chết mà phải qua đời. Thứ hai, những kẻ chơi bời, đam mê tửu sắc. Thứ ba, bị bắt, bị xử tử hình. Thứ tư, chết chìm. Thứ năm, chết cháy. Sáu, bị ác thú. Thứ bảy, rơi từ trên cao. Tám, bị khổ đau vì lầm thuốc độc. Thứ chín, mai một vì thiếu thức ăn, phải bị chết oan, nên làm hoạnh tử.

"Lại nữa A Nan! Ở trên thế gian thường làm việc ác, Diêm vương xử phạt, nên giảm tuổi đời. Ta khuyên các người phóng sanh, tu phước, để được thọ mạng lâu dài”.

Bấy giờ, trong chúng hội này, mười hai Dược Xoa đại tướng cùng với thần binh, tất cả phát tâm quy y Tam Bảo và nguyện vì đạo, cứu giúp người đời. Bất cứ nơi nào kinh này lưu bố, quyết lòng ủng hộ người trì kinh này thoát khỏi nạn tai, cầu chi được nấy. Và trong lúc ấy, dùng chỉ năm màu gút tên ta vào, trì tụng trừ tai thần chú, ước nguyện đầy đủ, mới tháo dây ra. Tên của chúng ta là Cung Tỳ La đại tướng, Phạt Chiết La đại tướng, Mê Súy La đại tướng, An Để La đại tướng, Át Nể La đại tướng, San Để La đại tướng, Nhơn Đạt La đại tướng, Ba Di La đại tướng, Ma Hổ La đại tướng, Chơn Đạt La đại tướng, Chiêu Đổ La đại tướng, Tỳ Yết La đại tướng thường ở Ta bà.

Đức Phật Thích Ca liền khen mười hai Dược Xoa đại tướng cùng với thần binh cứu khổ độ sinh, đền ơn chư Phật.

A Nan lại bạch: "Kinh gọi tên gì, làm sao thọ trì, xin Phật chỉ bảo?”.

Thế Tôn dạy rõ kinh gọi Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai Bổn Nguyện Công Đức, hay Thập Nhị Thần Tướng Nhiêu Ích Hữu Tình Kết Nguyện Thần Chú, cũng gọi Bạt Trừ Nhứt Thiết Nghiệp Chướng, mà thọ trì.

Phật nói lời này, chư đại Bồ tát, bát bộ Thiên long, tất cả thế gian, Đại đức A Nan, tám ngàn Thánh Tăng đều rất vui mừng, tín thọ phụng hành.

Đọc thêm Ước nguyện Đức Dược Sư, đọc một lần ứng nghiệm cả trăm năm
  

DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH CHƠN NGÔN


Nam mô bạt già phạt đế bệ sát xả, lủ rô thích lưu ly bác lặt bà hắc ra xà giả. Đát tha yết đa gia a ra ha đế tam miệu tam bột đà gia đát điệt tha. Án bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xả, tam một yết đế tóa ha. (3 lần)
Giải kiết, giải kiết, giải oan kiết
Nghiệp chướng bao đời đều giải hết
Rửa sạch lòng trần phát tâm thành kính
Đối trước Phật đài, cầu xin giải kiết
Dược Sư Phật, Dược Sư Phật
Tiêu tai diên thọ Dược Sư Phật
Tùy tâm mãn nguyện Dược Sư Phật.

NAM MÔ DƯỢC SƯ HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT (3 lần)
Mười hai thần tướng đại Dược Xoa
Trợ tuyên Chánh pháp tại Ta bà
Thiên long Bát bộ đều tùy hỷ
Tà ma ngoại đạo phải tránh xa

NAM MÔ HỘ PHÁP CHƯ THIÊN BỒ TÁT MA HA TÁT (3 lần)

Phục nguyện:

NAM MÔ DƯỢC SƯ HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT tác đại chứng minh

Kính nguyện Phật Dược Sư giáng phước, Đức Di Lặc ban vui, Văn Thù khai cơ, Quan Âm thường cứu khổ. Vâng lời Phật Tổ, con mở hội Dược Sư, cầu mười hai Dược Xoa thần tướng phát tâm từ, xin Cứu Thoát Bồ tát thường gia hộ, khiến mọi người (bệnh nhân) hết khổ, cho quyến thuộc bình an. Nguyện tất cả thế gian đều trở thành Cực lạc.
Nguyện ngày an lành, đêm an lành, đêm ngày sáu thời đều an lành. Xin nguyện Từ bi thường gia hộ.
Nguyện ngày an lành, đêm an lành, đêm ngày sáu thời đều an lành. Xin nguyện Tam Bảo thường gia hộ.
Nguyện ngày an lành, đêm an lành, đêm ngày sáu thời đều an lành. Nguyện chư Hộ Pháp thường ủng hộ.
  

TAM QUY

* Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng (1 lạy)
* Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ kinh tạng, trí huệ như biển. (1 lạy)
* Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh,thống lý đại chúng, tất cả không ngại (1 lạy)

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.