bài viết trong chuyên mục "Phật Học Cơ Bản"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Học Cơ Bản. Hiển thị tất cả bài đăng

ĐỌC KINH BỐN MƯƠI HAI BÀI
Cao Huy Thuần

Trong câu chuyện đạo chiều chủ nhật hôm nay, tôi làm một việc giản dị là đọc quyển Kinh 42 Bài do Hòa Thượng Trí Quang dịch và chú giải (1). Hòa Thượng Thiện Siêu cũng đã dịch kinh nầy từ năm 1959, nhưng ở xa, tôi không có bản dịch của Hòa Thượng Thiện Siêu.
Kinh 42 Bài là dịch từ chữ Hán Tứ Thập Nhị Chương. Kinh nầy có nhiều bản chữ Hán. Bản lưu hành cho đến gần đây, theo sự ước đoán của Hòa Thượng Trí Quang, căn cứ trên văn ngữ và văn phong, chắc ra đời sớm nhất vào khoàng đầu Tống. Hòa Thượng tìm ra được bản xưa hơn, có lẽ là xưa nhất, mà Hòa Thượng ước đoán đã có mặt từ thời Hậu Hán hoặc Tam Quốc. So sánh hai văn bản, Hòa Thượng rút ra nhiều nhận xét lý thú. Tôi học theo Hòa Thượng để triển khai ba vấn đề mà tôi sẽ trình bày:
    1. Nội dung rất nguyên thủy của Kinh 42 Bài;
    2. Vài nét đại thừa trong văn bản xưa;
    3. Những thêm thắt của ngôn ngữ thiền trong bản mới.
ducphat
Tượng Đức Phật Thích Ca tại Nha Trang
I.Nội dung rất 'nguyên thủy':
Kinh 42 Bài, như tôi vừa nói, được Trung Quốc dịch rất sớm, thời Hậu Hán. Có nơi còn ghi rằng 'Kinh 42 Bài là kinh đầu tiên ở Trung Hoa'. Đây là 42 bài kinh ngắn, rất ngắn, rút ra từ các kinh lớn, chủ yếu là để huấn dụ các vị xuất gia. Tuy vậy, giới tại gia đọc kinh vẫn thấy lợi ích, mỗi ngày đọc một bài thì thấy ngày đó thơm. Đó là cảm giác của tôi.
Kinh điển Phật giáo, như ai cũng biết, vô cùng rộng, vô cùng sâu. Trong biển kinh tạng mênh mông đó, làm sao rút ra 42 lời huấn dụ, vừa ngắn, gọn, dễ hiểu, vừa chứa đựng tinh túy của giáo lý? Chuyện khó đầu tiên của việc trích truyển là lựa chọn. Ở đây, sự lựa chọn không phải chỉ khó vì kinh điển mênh mông, mà còn khó vì trường phái trăm hoa đua nở.
Người tuyển chọn đã lấy một quyết định rõ rệt: nhìn cây từ gốc, và gốc đó hiển nhiên là lý thuyết tứ diệu đế. Tứ diệu đế xuyên suốt quyển kinh, một cách nhất quán, từ đầu đến cuối.
Ngay từ bài đầu tiên: 'Phật nói, từ biệt cha mẹ, xuất gia hành đạo, nên gọi là sa môn. Thường giữ 250 giới, làm theo tứ đế, bước tới thanh tịnh, thành A la hán.' Ngay từ câu đầu tiên, và chỉ một câu đó thôi, lý tưởng tu hành của nguyên thủy đã được xác nhận trong bốn từ ngữ: tứ đế, giới, bước tới, A la hán.
Tứ đế, ai cũng biết: khổ, tập, diệt, đạo. Khổ, nguyên nhân của khổ, diệt khổ, con đường đưa đến diệt khổ.
Giới: sự tu dưỡng. Giới thường đi với Định và Tuệ. Trong quyển kinh nầy,tôi không thấy nói tới định và tuệ một cách khẩn thiết, mà chỉ thấy nhấn mạnh dai dẳng đến giới. Có thể vì đây là quyển kinh dành cho các vị xuất gia. Cũng có thể vì ảnh hưởng của tiểu thừa.
Bước tới: tâm chí bước tới. Quyển kinh nhấn mạnh đến hạnh tinh tấn mà tôi sẽ nói nhiều sau đây.
A la hán: ngay từ câu đầu, quyển kinh đã xác nhận rằng lý tưởng của người tu hành là A la hán, nghĩa là lý tưởng tiểu thừa. Phật cũng chỉ là một A la hán. Đây là điểm mà đại thừa bác, là đầu mối của sự phát triển lý thuyết đại thừa.
Từ bài 2 trở đi, hầu như tất cả đều nói tới giới, nghĩa là con đường đưa đến diệt khổ. Chịu khó phân chia tỷ mỷ và gượng ép, tôi thấy các vấn đề sau đây được đề ra: vô ngã: 1 bài, vô thường: 2 bài, thiện ác: 4 bài, sám hối: 1 bài, bố thí: 2 bài, tinh tấn: ít nhất cũng 7 bài.
Đề mục được nói nhiều nhất, như chỉ luồn kim từ bài đầu đến bài cuối, là ái dục. Quyển kinh, vì vậy, rất nhất quán. Đây là một lời khuyến cáo, nhắn nhủ khẩn thiết và ân cần: muốn tu hành được, muốn đắc đạo, phải bỏ ái dục tận gốc.
Tôi lựa chọn một số bài để đọc ra đây, lần lượt theo thứ tự các đề mục vừa trình bày ở trên.
1.Vô ngã: trong bài 18, và chỉ một bài thôi.
'Phật nói, một cách chín chắn và thuầnthục, hãy tự nghĩ nhớ, trong cơ thể, bốn đại đều có tên riêng, không có cái ngã ký sinh ở đó. Ký sinh ở đó đi nữa thì cũng không vĩnh cửu, sự việc chỉ như ảo thuật mà thôi.'
Tứ đại, hiểu một cách thông thường, là đất, nước, gió, lửa, bốn nguyên tố tạo thành cái mà tôi gọi là tôi. Một trong bốn nguyên tố đó bất thần đình công thì cái mà tôi gọi là tôi chẳng thấy còn ở đâu nữa. Như đi coi hát xiệc.
2.Vô thường: được nói trong hai bài 16 và 37. Tôi chỉ đọc bài 16:
'Phật nói, nhìn trời đất hãy nhớ vô thường, nhìn núi sông hãy nhớ vô thường, nhìn vạn hữu hình thái phong phú hãy nhớ vô thường. Giữ tâm trí như vậy thì đắc đạo mau chóng.'
Bài 37, không cần đọc, ai cũng biết. Phật hỏi một vị sa môn: sinh mạng con người tồn tại trong bao lâu. Vị đó nói 'trong vai ngày', tưởng như vậy là thuọc bài, không ngờ bị Phật chê. Vị thứ hai, láu lỉnh hơn, hạ xuống còn 'một bửa ăn'. Phật chê. Vị thứ ba sáng tạo tài tình; Sinh mạng con người không dài hơn một hơi thở. Thở ra, rồi không thở vào nữa: thế là xong một kiếp người! Phật khen: 'Hay thay, ông đáng được gọi là người hành đạo.'
Tôi nghĩ: vấn đề không phải là nói cho hay, cho bóng bẩy, vấn đề là nói cho thật. 'Vài ngày' là không thật. 'Một bửa ăn' là không thật. Trong chúng ta đây, ai cũng lẫm liệt ba, bốn mươi năm trở lên. Một hơi thở là thật, không có gì thật hơn. Nói 'một bửa ăn''vài ngày' là còn thấy khối xương thịt nầy quá to, còn thấy mình quá vĩ đại. Hãy thử đặt con người trong cái vũ trụ vô cùng, trong thời gian vô tận thì nó là cái gì nếu không phải chưa được là hạt bụi? Saint-Exupéry vẽ một hình ảnh độc đáo: ông cho chú bé hoàng tử của ông lạc bước trên một hành tinh, nơi đó chỉ có độc nhất một người ở, và người đó làm mỗi một công việc duy nhất nhất là thắp cây đèn duy nhất ngoài đường. Hành tinh xoay một cái là sáng, xoay một cái là tối, vừa sáng đã tối, cho nên người thắp đèn vừa mới thắp đèn là đã phải tắt đèn, vừa mới tắt đèn là đã phải thắp đèn, thắp, tắt, tắt, thắp liên tục. Sinh mạng con người cũng chỉ thế thôi: vừa thắp đã tắt.
3. Thiện ác: ba bài liên tiếp: 3, 5, 6. Bài 3 nói đến mười sự ác, bỏ mười sự ác đó thì được mười sự lành. Ba sự ác do thân mà ra: sát sanh, trộm cướp, dâm dục. Bốn sự ác do miệng: ly gián, mắng chưởi, dối trá, thêu dệt. Ba sự ác do ý: ganh ghét, tức giận, u mê. Mười sự tạo nên nghiệp. Tránh được mười sự đó thì 'chắc chắn đắc đạo'. Phật nói thế. Nhưng Phật tha cho chúng ta năm sự, chỉ buộc người tại gia chúng ta giữ ngũ giớI thôi: không sát sinh, không trộm cướp, không dâm dục, không nói dối, không uống rượu.
Trong chúng ta, chắc chẳng có ai sát sinh. Nhưng các sự kia thì tôi không biết. Ngoài ra, có một thứ trộm cướp đang làm chúa tể hiện nay: tham nhũng. Tham nhũng là trộm cướp, hãy nói thẳng như vậy. Ủại Trí Độ Luận định nghĩa trộm cướp là 'không cho mà lấy' (2). Trong mánh mung tham nhũng, không bao giờ có sự 'cho'. 'Có ba trăm lạng việc này mới xong' là không có cho, chỉ có lấy. Và lấy như vậy, tức là cướp mạng người, tức là sát sinh, Đại Trí Độ Luận nói rõ như vậy. Tôi trích:
'Mạng sống có hai: trong và ngoài. Nếu cướp tài vật, ấy là cướp mạng ngườI, vì sao? Vì mạng sống dựa nơi cơm ăn, áo mặc...mới sống. Nếu cướp, nếu giật, ấy gọi là cướp mạng ngoài, như kệ nói:
Hết thảy chúng sanh
Lãy áo cơm nôi sống
Hoặc cướp hoặc trộm lấy
Ấy gọi là cướp mạng' (3).
Ông (bà) tham nhũng, ấy là ông (bà) đang giết người. Đố ông (bà) chạy thoát cho được. Phật nói trong bài 5: hét lên một tiếng thì y như có tiếng vang dội theo; đi ra mặt trời thì y như bóng mình đi theo với mình. Gieo nhân nào thì gặt quả ấy. Sống ở đời mà chỉ ăn đô la thì chết xuống âm phủ Diêm Vương nó chẳng cho cơm mà nhai đâu, chỉ bắt nhai tiền.
Nhưng đó là Diêm Vương. Phật thì không như vậy: ai cho ác, Phật trả lại lành:
'Có người nghe phong cách của Như Lai là giữ đại nhân từ, ác đến thì trả lành, nên đến mắng Như Lai. Như Lai yên lặng, không trả lời, thương họ làm thế là vì si cuồng. Mắng rồi, Như Lai hỏi, ông đem lễ vật biếu người, người không nhận thì lễ vật ấy đem về đâu? Đem về cho tôi. Văy ông mắng Như Lai, Như Lai không nhận thì ông cũng tự nhận lại, gây họa cho mình.’(bài 5).
Và Phật khuyên hãy cư xử như thế nầy:
‘Phật nói, người ác hại người hiền, thì như ngửa mặt lên trời mà nhổ nước dãi, nước dãi không bẩn trời mà lại bẩn mình; như ngược gió tung bụi, không dơ người mà lại dơ bản thân.’ (bài 6).
4. Bố thí: được nói trong hai bài 7 và 7. Tôi đọc bài 8:
‘Phật nói, thấy người bố thí, hãy giúp một cách vui vẻ, thì cũng được phước báo. Hỏi, phước ấy có giảm bớt đi không? Phật nói như lửa nơi một cây đuốc, hàng ngàn hàng trăm người đem đuốc đến lấy lửa ấy mà nấu ăn, soi sáng, lửa ấy vẫn như cũ. Phước ấy cũng như vậy.’
Bố thí là hạnh số một trong đại thừa, nên tôi không nói nhiều ở đây, chỉ xin nói một cách thấp thấp và rất thực tế. Là như thế nầy: người nào không muốn nhai đô la trước mặt Diêm Vương thì nên suy ngẫm bài kinh nầy. Hãy lấy đô la đó mà làm việc thiện ngay từ bây giờ. Đốm lửa mà người đó thắp lên từ ngọn đuốc trong bài kinh sẽ soi sáng đường đi của họ và không dẫn họ đi đến nơi tăm tối, chỗ mà ai có nợ đều phải trả.
5. Tinh tấn. Bởi vì tu là phải tinh tấn, cho nên bài nào cũng nói đến tinh tấn, rõ nhất là trong các bài 15, 17, 32, 33, 34, 38, 39. Tôi chỉ đọc ở đây hai bài. Một đoạn trong bài 32:
‘Phật nói, hành đạo là như một người chiến đấu với muôn người. Mặc áo giáp, cầm vũ khí, tiến ra chiến trường. Nhưng rồi có kẻ khiếp đảm, tự lui mà chạy; có kẻ nửa đường bỏ về; có kẻ quyết chiến mà chết; có kẻ đại thắng mà về, thiên chuyển lên cao.’
Thế nhưng tinh tấn không có nghĩa là nóng nảy, quá độ, nhảy vọt. Bài 33 dạy như thế nầy, tôi nghĩ áp dụng trong bất cứ lĩnh vực nào cũng đúng:
‘Có vị sa môn đang đêm tụng kinh tiếng nghe rất buồn, có vẽ hối tiếc, lưỡng lự, muốn trở về thế tục. Phật gọi mà hỏi, khi ông ở nhà thì đã làm gì? Thưa thường đánh đàn. Giây đàn dùi thì thế nào? Thưa không kêu. Giây đàn căng thì thế nào? Thưa mất tiếng. Căng dùi vừa phải thì thế nào? Thưa, âm điệu phát ra đủ cả. Phật nói, học đạo cũng phải như vậy, giữ cho tâm trí chừng mực thì đạo phải được.’
Như vậy tu la vui hay buồn? Phật nói: vui lắm; hãy nếm lời Phật nói rồi thấy như nếm đường phèn: bên ngoài cũng ngọt, hai bên cũng ngọt, ở giữa cũng ngọt, đâu cũng ngọt cả. Thích thú như vậy là đắc đạo (bài 39).
6. Bây giờ tôi đến đề tài cuối cùng, ddề tài quan trọng nhất, bàng bạc khắp cả quyển kinh, thử tính sơ sơ: bài 1, 2, 11, 12, 13, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 28, 28, 30, 31, 32, 40, 41. Đó là ái dục; chặt đứt nó được thì thấy niết bàn. Không một chữ nào trong quyển kinh nói đến thập nhị nhân duyên, nhưng ai cũng biết ái dục là khâu quan trọng nhất trong mười hai nhân duyên, từ đó mà đưa đến sinh tử luân hồi, quẩn quẩn quanh quanh trong vòng sống chết.
Tôi chọn đọc vài bài, bài 2 trước tiên, vì bài nầy đưa ra hình ảnh vị sa môn thời nguyên thủy:
‘Phật nói, cạo bỏ râu tóc, làm bậc sa môn, tiếp nhận lấy đạo, thì hãy rời bỏ tài sản thế gian, khất thực vừa đủ. Mỗi ngày đứng bóng ăn một bữa, mỗi đêm duới cây ngủ một lần, thận trọng đừng thêm. Làm cho người u mê, tồi tệ chính là ái dục.’
Ăn ngủ biết vừa đủ: đó là khuất phục ái dục. Khuất phục hoa danh (bài 19); khuất phục tiền của (bào 20); khuất phục sắc đẽp (bài 20, 22, 26); khuất phục sự ràng buộc vợ con (bài 21); khuất phục dâm, nộ, si (bài 23); khuất phục nữ sắc (bài 24); khuất phục tình dục (bài 27, 28, 29, 30), ôi, Phật thừa biết rằng cuộc chiến đấu đó gay go lắm, giống như con trâu cày ruộng, chân ngập trong bùn sâu:
‘Phật nói, sa môn hành đạo là như con trâu mang nặng, đi trong bùn sâu, mệt nhọc đến mấy cũng không dám ngoái nhìn hai bên, mà phải đi cho mau, rời khỏi bùn sâu, mới được nghỉ ngơi. Sa môn coi ái dục còn hơn bùn sâu, nên thẳng tắp một mặt mà hành đạo, mới có thể thoát khỏi mọi sự khổ lụy.’ (bài 41).
Nhưng chân lý là chân lý, và chân lý đó không phải chỉ đúng đói với các vị sa môn mà đúng cho tất cả mọi người, nghĩa là cho cả chúng ta. Giản dị vô cùng:
‘Phật nói, con người do ái dục mà lo buốn, do lo buồn mà sợ hãi. Không ái dục thì không lo buồn, không lo buồn thì không sợ hãi.’ (bài 31).
Phật nói thêm:
‘Con người đói với ái dục thì cũng như cầm đuốc lửa mà đi ngược gió, ngu mà không bỏ đuốc xuốngthì tất bị cháy tay.’ (bài 23).
Đúng là ngu! Biết ngu ấy là bước đầu trên con đường diệt khổ. Rồi càng bước, càng thấy thanh tịnh. Bởi vậy quyển kinh kết thúc bằng một câu nói mà ai thể hiện đều thấy đời sống nhẹ nhàng:
‘Phật nói, Như Lai coi cái ngôi vương hầu như khách trọ, coi cái qúy vàng ngọc như sỏi đá, coi cái đẹp tơ lụa như giẻ rách.’(bài 42).
II. Vài nét Đại Thừa:
Trên đây tôi đọc khá nhiều bài kinh, cốt để các bạn thấy nét chính của cả quyển kinh: tính chất mộc mạc. Không lý thuyết cao xa, không văn chương bóng bẩy, lời bình dị, ý dễ hiểu, quyển kinh gói gém hành trang lên đườngcủa một sa môn vừa hành đạo. Phật tiễn vị đó lên đường và dặn dò: ‘Hành đạo thì như cái cây trong dòng nước, hãy theo dòng nước mà trôi đi, không mắc bờ bên kia, không mắc bờ bên nầy, không bị người với lấy, không bị qủy thần ngăn chận, không bị nước xoáy làm đùng lại, không bị thối rã, thì Như Lai bảo đảm cây ấy vào được biển cả.’ (bài 25).
Như tôi đã nói ở trên, quyển kinh đặc biệt nhấn mạnh giới, điều mà tiểu thừa trân trọng bảo tồn, nhiều khi bảo tồn đến mức bảo thủ. Trong ba phương pháp giới, định, tuệ mà Phật dặn dò, đại thừa lại có khuynh hướng đặc biệt nhấn mạnh đến tuệ, phát triển lên đến chót vót cao xanh khả năng lý thuyết trừu tượng siêu việt của các đại triết gia Phật tử. Tuệ được nói đến trong hai bài kinh, vẫn với lời lẽ giản dị, mộc mạc, nhưng ý nghĩa sâu thẳm. Tôi đọc bài kinh 12:
‘Phật nói, lành là gì, là chí hành đạo. Lớn là gì, là chí nguyện phù hợp với đạo. Mạnh nhiều là gì, là nhẫn nhục; nhẫn nhục thì không thù oán, tất được người trọng. Sáng nhất là gì, là dơ bẩn của tâm trí được trừ hết, hành vi của tội ác được diệt sạch, ngay từ bên trong mà sáng không tỳ vết, thì vô thỉ đến giờ, vũ trụ có gì, dầu chưa manh nha, cũng biết, thấy và nghe cả: được tuệ giác biết toàn bộ mới là sáng nhất.’
Gác qua một bên hai chữ nhẫn nhục, vốn là một trong những hạnh bồ tát lớn nhất của đại thừa, tôi chỉ nói đến chữ ‘sáng’, sáng không tì vết, sáng từ bên trong, ý chính của bài kinh. Làm thế nào để tâm trí được sáng? Trừ hết dơ bẩn. Làm thế nào trừ hết dơ bẩn? Diệt sạch hành vi của tội lỗi. Bài kinh đề cao hành vi, bởi vì hành vi tạo ra nghiệp. Mới nghe thì có vẽ giản dị. Nhưng phát triển ý đó ra thì tư tưởng đại thừa vô cùng phong phú. Trước hết, hành vi thì có, nhưng tác giả của hành vi có hay không? Cái ‘tôi’ đã là không có, thì ai tạo ra hành vi, ai chịu nghiệp? Ai tu? Ai chứng? Đừng hỏi thì thôi, hỏi thì đi học tập ngút ngàn trong rừng rậm đại thừa. Muốn tìm lối ra, phải nhai cho được một chữ khó nuốt là chữ tâm. ‘Hết thảy chúng sinh do tâm tư tưởng khác nhau nên tạo nghiệp khác nhau, vì vậy mà có sự luân chuyển trong mọi nẽo đường’ (4). Tâm tưởng tạo ra hành vi, biểu lộ qua thân, miệng, ý. Nhưng tâm là gì, cứng hay mềm, tròn hay méo, nằm ở đâu trong lục phủ ngũ tạng? Mình biết là nó có, bởi vì mình biết tâm an hay bất an. Nhưng nó ở đâu, lấy ra xem chơi, thì chịu. Vậy mà mở quyển kinh đại thừa nào ra ũng thấy nó. Nó ở cùng khắp. Thử đọc:
‘Tâm thì không có hình sắc để có thể nhận thấy. Nó chỉ do các pháp không thật tập hợp lại mà phát khởi ra, hoàn toàn không có chủ thể, không phải bản ngã và sở hữu của bản ngã. Dạu rằng tùy nghiệp mà biểu hiện khác nhau, nhưng thật sự trong đó không có cái chủ thể tạo tác. Do đó các pháp toàn là không thể tư duy mô tả, thực chất giống như huyển ảo. Người có trí tuệ biết như vậy thì hãy tu tập thiện nghiệp.’ (5).
Tác giả của hành vi là ai? Là tâm. Nhưng tâm có hay không? Lại phải hiểu chữ ‘có’. Lại phải hiểu chữ ‘không’. Giữa thiện và ác, giữa hành vi và tác giả, đại thừa dựng lên chữ ‘không’, căn bản của tất cả lý, hạnh, quả, thật tánh của sự vật, mà bát nhã gọi là ‘không tam muội’. Đây là ý niệm tuyệt đối về ‘không’, là ‘không’ tuyệt đối, chứ không phải là ‘không’ đối đãi, không đối với có. Phật nhấn mạnh mối liên lạc giữa không tam muội với chứng ngộ của Phật:
‘Xá Lợi Phất, khi ta chưa được tuệ giác Phật đà, ngồi dưới cây bồ đề đại thọ nghĩ rằng chúng sanh vì không được phương pháp gì mà phải lưu chuyển sinh tử, không được giải thoát? Ta lại nghĩ cxhúng sanh vì không có không tam muội nên lưu chuyển sinh tử mà không cứu cánh giải thoát...Được không tam muội thì được Vô nguyện tam muội, được Vô nguyện tam muội thì thành tựu vô thượng giác’. Thì sáng.
Thấy ‘không’ thì sáng. Sáng thì sạch nghiệp, thì không tạo ra nghiệp mới nữa. Phật giải thích cho Xá Lợi Phất: ‘Không tam muội thì không chấp ngã, nhân, thọ mạng, không chấp chúng sanh, không chấp các hành, nên không tạo nghiệp mới, không tạo nghiệp mới nên không còn hậu nữu, không còn hậu hữu thì không có quả báo khổ vui của thế gian’ (6).
Sáng làm cho sạch nghiệp. Nhưng sáng đó từ đâu mà đến? Đột nhiên mà đến hay phải qua một quá trình tu chứng? Cả quyển kinh nhấn mạnh giới, thì đương nhiên bài kinh 12 không tách rời tuệ ra khỏi giới, tuệ với giới liên hệ qua lại mật thiết với nhau. Làm sạch thân, miệng, ý thì tâm trí mới sáng, tâm trí sáng thì thân, miệng, ý cũng nhờ đó mà sạch, càng sạch càng sáng, sáng thì sạch nghiệp. Bởi vậy, tu là tu bằng giới và tu bằng tuệ. Kinh Mười Thiện Nghiệp nói rõ: ‘Tu tập bằng giới thì có năng lực phát sinh tất cả lợi ích chân thật trong Phật pháp, đầy đủ chí nguyện vĩ đại’; tu tập bằng tuệ thì ‘hủy diệt được mọi thứ quan điểm sai lầm của sự phân biệt’ (7). Ý niệm phân biệt là ý niệm phải trừ khử, bởi vì đó là gốc của vọng kiến, của bóng tối trong tư tưởng. Phân biệt là phân biệt anh với tôi, chủ thể với đói tượng, cái nhìn với đóa hồng, chân như với sinh diệt, phiền não với niết bàn, vĩnh cữu với hư vô, hữu hạn với vô hạn, cố định với chuyển biến, có với không, nghĩa là tu tưởng nhị nguyên mà Phật giáo dứt khoát bác bỏ. Phân biệt thì không thấy được toàn thể, không thấy được bản chất của sự vật, không thấy được ‘không’, không sáng. Làm sạch thân, miệng, ý là con đường dẫn đến cái sáng. Đó là cái sáng trong vắt, xuyên suốt thời gian, xuyên suốt không gian, cái sáng phi thường mà phải đọc kỷ câu kinh để thấy choáng ngợp: ‘Từ vô thỉ đến giờ, vũ trụ có gì, dầu chưa manh nha, cũng biết, thấy và nghe cả.’ Đó là cái sáng của tuệ giác, cái sáng của Phật. Chắc tôi không bao giờ có được cái sáng đó. Nhưng tôi có thể chắc chắn một điều là tôi đã bắt đầu ‘hiểu’ được cái sáng đó, và nếu tâm tôi càng gần Phật thì cái hiểu sẽ đưa tôi đến cái ‘thấy’ lúc nào không hay. Đại thừa phát triển cao độ sự khác nhau giữa biết và thấy. Sáng, là biết và thấy. Cả hai sự việc phải xảy ra cùng một lần. Bởi vì khi cả hai xảy ra cùng một lần thì chủ thể và đối tượng mới không còn là hai nữa: chúng nhập với nhau làm một, hết phân biệt. Phật nói với ông Ma La Ca: ‘Thấy là thấy, nghe là nghe, hay là hay, biết là biết...’ (8). Nghĩa là gì? Nghĩa là chân lý chỉ có thể thấy một cách trực tiếp. Thấy, là thấy trực tiếp, tự bản thân, bằng kinh nghiệm. Biết, nhiều khi là biết qua trung gian. Thấy, thì không có khoảng cách gì nữa giữa cái thấy và cái được thấy. Thấy như vậy thì mới có cái thấy bừng sáng. Thấy như vậy là tuệ giác. Đó là cái thấy nói trong bài kinh 13 và 14:
‘Phải hết cả dơ bẩn của tâm trí thì biết xuất xứ của nghiệp thức, biết sống chết về đâu, biết thế giới chư Phật ở đâu.’ (bài 13). Phật nói: ‘Học đạo thì như cầm đuốc vào trong nhà tối, tối hết mà sáng còn; học đạo mà thấy thánh đế thì ngu si diệt hết, được sự thấy toàn thể.’ (bài 14). Chỉ vài câu thôi, ba bài kinh 12, 13 và 14 đã động đến những lý thuyết rắc rối nhất trong tư tưởng đại thừa.
Bây giờ tôi đọc vài bài kinh khác có liên quan đến tư tưởng đại thừa. Những đề tài nầy đơn giản hơn.
Trước hết chúng ta hãy tượng tượng đoàn thể tăng già quây quần chung quanh Phật lúc Phật còn tại thế. Phật là vô thượng. Chung quanh Phật là các đệ tử, A la hán, trí thức bậc nhất, thần thông bậc nhất. Nhưng Phật không phải chỉ xây dựng một đoàn thể tăng già. Phật còn hóa độ cho mọi tầng lớp người, nghĩa là Phật còn xây dựng một nền móng cư sĩ. Nếu tăng già ở trong tu viện tượng trưng cho chiều hướng trí thức, ‘qúy tộc’ của đạo Phật, thì quần chúng ở bên ngoài tượng trưng cho chiều hướng ‘dân chủ’, ‘xã hội’. Một bên thì ngồi đơn độc, thám hiểm tâm linh của chính mình, đi sâu vào bên trong để tìm giải thoát. Một bên thì trãi rộng tâm từ ra khắp chúng sinh, sau khi đã có con mắt tuệ, để đüa ai nấy qua bờ bên kia. Ở đây, ai cũng biết lý tưởng bồ tát của đại thừa khác với lý tưởng A la hán của tiểu thừa như thế nào rồi, nên tôi khỏi nói thêm. Chỉ nhắc đến chiều hướng xã hội của đại thừa. Đi vào xã hội, tất nhiên phải npói đến gia đình, phải nói đến chính trị, dù chỉ một chút xíu thôi. Chút xíu đó được nói phớt qua, nhưng tôi nghĩ là quan trọng lắm, trong bài 36. Xin đọc:
‘Phật nói, thoát đường ác mà được làm người là khó, được làm người mà làm đàn ông là khó, làm đàn ông mà đủ giác quan là khó, đủ giác quan mà sinh xứ trung tâm là khó, sinh xứ trung tâm mà được thờ Phật pháp là khó, được thờ Phật pháp mà gặp quân vương đạo đức là khó, gặp quân vương đạo đức mà sống trong gia đình bồ tát là khó, sống trong gia đình bồ tát mà tín ngưỡng tam bảo gặp nhằm đời Phật là khó.’
Gia đình tốt thì đạo Phật thịnh. Quân vương biết đạo đức thì nước sạch sẽ văn hóa. Đạo Phật không tách rời xã hội. Trong hai buổi công phu sáng chiều, các chùa ở Việt Nam vang dội bốn câu hồi hướng như thế nầy:
Lại càng nguyện ước
Quốc gia yên ổn
Chinh chiến tiêu tan
Mưa gió thuận hòa
Dân chúng an lạc
Trong bốn ân của Phật tử, ân đối với quốc gia là một. Phật tử chúng tôi không muốn gì hơn là được mãi mãi mang ơn các vị quân vương biết đạo đức. Bởi vì sao? Bởi vì các vị như vậy là bồ tát của chúng tôi.
Bài kinh thứ 9 nhấn mạnh một đề tài khác, vốn là đặc điểm lớn của đại thừa. Không người Việt Nam nào không cảm được cái đẹp của một ngày đẹp nhất trong năm: ngày Vu Lan. Bởi vì ai cũng có mẹ, và trước khi thành Phật thì phải được mẹ sinh ra. Chưa bài kinh nào đề cao chữ hiếu thiết tha đến thế, Hòa Thượng Trí Quang nói như vậy. Tôi chỉ đọc, khỏi minh họa gì thêm:
‘Phật nói, đãi cơm một trăm ngươi thường không bằng một người tốt. Đãi cơm một ngàn người tốt không bằng một người giữ năm giới. Đãi cơm một vạn người giữ năm giới không bằng một vị Tu đà hàm. Hiến cơm ngàn vạn Tu đà hàm không bằng một vị A na hàm. Hiến cơm một ức A na hàm không bằng một vi A la hán. Hiến cơm mười ức A la hán không bằng một vị Bích chi Phật. Hiến cơm trăm ức bích chi Phật không bằng đem giáo huấn của Tam bảo mà hóa độ song thân một đời. Hóa độ song thân ngàn ức đời không bằng hiến cơm một người học tập theo Phật, nguyện được như Phật để cứu vớt chúng sinh. Hiến cơm người như vậy thì phước sâu dày nhất. Còn phụng thờ trời đãt quỉ thần thì không bằng hiếu thảo cha mẹ; cha mẹ là thần linh bậc nhất.’
Đề tài cuối cùng có liên quan đến ảnh hưởng đại thừa là đề tài mà tôi đã nói quá nhiều ở phần đầu, nghĩa là đề tài chung của việc tu tập, không phân biệt tiểu thừa hay đại thừa. Tu tập thì gặp nhiều ma. Mà con ma ác hại nhất không ai khác hơn là con ma phăm, con ma đàn bà. Ma ơi, ta với ngươi như cỏ với lửa, lửa đến thì phải lẹ lẹ tránh xa! (bài 28). Đàn bà là thử thách lớn nhất của người tu hành. Phật nói: ái dục không gì hơn sắc đẽp. Sắc đẽp tạo ra ái dục thì không gì lớn bằng. Lớn đến nổi Phật phải nói đến mức nầy: ‘Nhờ chỉ có một cái như vậy, giả sử có cái thứ hai thì thiên hạ không còn ai hành đạo được nữa’ (bài 22).
Muốn đánh bạt nữ sắc, phương pháp của người tu hành là quán. Nhan sắc kia thực chất chỉ là một túi da chứa đầy đồ dơ bẩn (bài 24). Nhưng đàn bà cứ lượn qua lượn lại trong khi người hành đạo phải đi vào xã hội thì sao! Hãy như thế nầy để gần bùn mà thơm:
‘Phật bảo các vị sa môn, thận trọng, đụng nhìn phụ nữ. Phải nhìn thì thận trọng đừng nói chuyện. Phải nói chuyện thì sắc lịnh cho tâm trí đi theo nẻo chánh, rằng ta là sa môn, ở trong cuộc đời dơ bẩn nầy ta phải như đóa sen không dính bùn lầy. Già thì coi như mẹ, lớn thì coi như chị, trẻ thì coi như em, nhỏ thì coi như con. Cẩn trọng mà giữ uy nghi, ý thức càng phải đúng thánh đế’ (bài 27).
III. Ngôn ngữ Thiền trong bản kinh sau:
Bản kinh được lưu hành cho đến gần đây là bản mà Hòa Thượng Trí Quang cho là ra đời vào khoảng nhà Tóng, nghĩa là giai đoạn hoàng kim của thiền ở Trung Quốc. So sánh bản kinh nầy với bản kinh khi nãy, điểm rõ rệt nhất là ngôn ngữ thiền được thêm thắt vào quyển kinh. Hòa Thượng Trí Quang chê là hoa gấm thiền làm hỏng cái duyên mộc mạc của bản kinh. Giống như cô gái quê của Nguyễn Bính, đi tỉnh về hôm qua, chẳng thấy thêm gì, chỉ thấy ‘hương đồng gió nội bay đi ít nhiều’. Chỉ đọc là đủ thấy. Bài 1: ‘Phật nói, từ biệt cha mẹ, thoát ly gia đình, thể nhận tự tâm, thấu suốt bản thể, hội nhập vô vi, nên gọi là sa môn. Thường giữ 250 giới, động và tĩnh đýu thanh tịnh...’
Bài 2 chải chuốt hơn nữa: ‘Phật nói, đã xuất gia làm sa môn thì dứt bỏ ái dục, thể nhận nguồn gốc của tâm, thấu suốt lý sâu của Phật, hội nhập vô vi, trong không thủ đắc, ngoài không mong cầu, tâm trí không ràng buộc vào đạo, cũng không kết thắc vào nghiệp, không tư tưởng, không thi vị, phi tu hành, phi chứng đắc, không trãi qua mọi cấp độ mà vẫn tôn cao, như thế gọi là đạo.’
Bài nầy đüa ý niệm ‘không’ vào hành trang của người đi tu, nhưng nếu quyển kinh có mục đích rất nhất quán là nhắc nhủ giới cho người mới lên đường thì những câu ‘tâm trí không ràng buộc vào đạo, phi tu hành, phi chứng đắc v.v...’ có vẽ như đặt không đúng chỗ.
Cũng y hệt như câu nầy trong bài 11, nghe có vẽ thông thái, nhưng chẳng có ý nghĩa gì:
‘Hiến cơm trăm ức Bích chi Phật không bằng một đùc Phật thuộc thì gian. Hiến cơm ngàn ức đùc Phật thuộc thì gian không bằng một bậc không nhớ không ở không tu không chứng.’
Lại cũng y như bài 18, ý tứ không có gì thêm:
‘Phật nói, đạo của Như Lai nhớ là không nhớ mà nhớ, làm là không làm mà làm, nói là không nói mà nói, tu là không tu mà tu. Thể hội thì gần lắm, mê mờ thì xa vời! Ngôn ngữ chấm dứt ở đây. Ở đây khái niệm không thể hạn cuộc. Sai trong tơ tóc thì mất trong phút chốc.’
Còn một ít chi tiết như thế nữa, nhưng tôi không có thì giờ nói thêm. Xin kết luận như thế nầy:
1. Phân biệt tiểu thừa, đại thừa như tôi vừa làm trên đây là để nói cho có chuyện nói, trong một chiều chủ nhật. Đại thừa là sự phát triển phong phú cần thiệt của một giáo lý đày sức sống, nhưng phát triển mà không rời gốc. Bởi vậy, đi về lại gốc thì chẳng còn tiểu thừa đại thừa gì nữa. Chứ giới nói trong kinh nầy không có con số: 100, 250, 300...Cho nên không có gì để chia cách. Đây là những chuyện hiển nhiên mà sa môn nào cũng phải nằm lòng.
2. Giới không phải là giáo điều. Giữ giới không phải vì sợ phạm giáo điều. Giữ giới vì hai lẽ: vì thấy và vì vui. Thấy rằng không giữ giới thì chỉ đi lui. Mà đã đi tu thì chỉ có thể bước tới. Đã thấy như vậy, thì chẳng có Phật nào bắt buộc cả, chỉ có mình căn dặn mình. Bởi vậy, giới không rời khỏi tuệ. Thấy, rồi vui. Giữ giới mà khổ sở quá thì thà rằng đừng giữ giới. Giữ giới mà vui, cái vui ngược với cái vui thường tình của thiên hạ, như bình bát của Phật trôi ngược giòng nước, thì sự giữ giới đó mới bền vững. Khi đó thì giữ giới mà không như giữ giới. Khi đó thì đi đùng gì cũng thiền.
3. Nhưng, xin bái lạy quý vị ‘thiền sư’ và ‘thiền sinh’ tân tiến hiện nay: nếu quý vị chưa tới mức đó thì thà rằng quý vị cứ bắt chước Lục Vân Tiên khoát tay lia lịa:
Khoan khoan ngồi đó chớ ra
Nàng là phận gái ta là phận trai
Giữa Lục Vân Tiên và vị sa môn của Kinh 42 Bài, khác nhau là ở chỗ đó. Tôi có thể tưởng tượng Kiều Nguyệt Nga vén rèm bước ra, mĩm cười thỏ thẻ với Lục Vân Tiên: ‘chàng ơi, chàng biết không, Kinh Hạnh Phúc đâu có dạy bịt mắt bắt dê, mà dạy như thế nầy:
Tiếp xúc với thế gian
Giữ lòng cho ngay thẳng
Muốn nói câu kinh đó là tiểu thừa, đại thừa hay thiền gì cũng được.
Cao Huy Thuần
Chú Thích: 1. Kinh 42 Bài, Hòa Thượng Trí Quang khảo, dịch, chú, 1955. 2. Luận Đại Trí Độ, Hòa Thượng Thiện Siêu dịch,1977, Tăp I, trang 521. 3. Luận Đại Trí Độ, trang 522. 4. Kinh Mười Thiện Nghiệp, Hòa Thượng Trí Quang dịch, 1977, trang 87. 5. Kinh Mười Thiện Nghiệp, trang 93. 6. Hai Thời Công Phu, Hòa Thượng Trí Quang dịch, 1994, chú thích ở trang 422 và 423. 7. Kinh Mười Thiện Nghiệp, trang 153. 8. Hai Thời Công Phu, trang 426.

CÁC BẢN DỊCH KINH 42 CHƯƠNG:
KINH BỐN MƯƠI HAI BÀI - Thích Trí Quang
KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG - Thích Tâm Châu
KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG - Thích Thanh Cát
KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG - Thích Tuyên Hóa
KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG - Thích Phước Tịnh
KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG - Thích Viên Giác

TÌNH YÊU BẤT DIỆT 
PHẬT PHÁP CĂN BẢN 
Chân Pháp Đăng 
Lá Bối San Jose, California in lần thứ nhất, 2006 
Nhuận văn: Chân Vô Ngại & Chân Bối Nghiêm 
ISBN: 1- Copyright © 2004 by Unified Buddhist Church
Mục Lục
Lời cảm tạ
Đẹp mãi ngàn năm
Như cánh hạc bay
- Cốt tủy của đạo Bụt
- Hoa thơm nở trên rác bẩn
- Như cánh hạc bay
- Nguyên tắc y khoa
- Nẻo thoát
- Nhìn thẳng khổ đau
Bốn sự thật mầu nhiệm
- Dấu chân voi chúa
- Khổ đau là bài học quí báu
- Tiếng khóc chào đời
- Mùa thu lá rụng
- Hoàng hôn buông xuống
- Lá rụng về cội
- Buồn ơi, chào em!
- Mẹ ơi! Mẹ đang ở đau?
- Biển đánh bờ
- Sông ái dài muôn dặm
- Nguồn gốc khổ đau
-Hạnh phúc là hết khổ đau
- Con đường giải thoát
Bến bờ an lạc
- Con mắt trí tuệ
- Suy tư lành mạnh
- Mổi lời là châu ngọc
- Hành động thương yêu
- Hành nghề lương thiện
- Siêng năng lành mạnh
- Ngọn đèn tỉnh thức
- Ngọn lửa đốt cháy
Cái nhìn siêu thoát
- Làm lại cuộc đời
- Công án đời người
- Sự sống mầu nhiệm
- Gần đèn thì sáng
- Bông hoa nhân quả
- Một cõi đi về
- Nguồn gốc của mọi hành động
- Thời gian thai nghén
- Núi lửa bùng nổ
- Thắp sáng nội tâm
- Phá vỡ ngục tù
- Thanh thản nẻo đi về

TÌM HIỂU HÌNH ẢNH ĐỨC PHẬT
Fabrice Midal
(Hoang Phong chuyển ngữ)

Lời giới thiệu của người dịch:
Bài viết dưới đây là bản dịch chương 4 trong quyển Phật Giáo Đại Cương (ABC du Bouddhisme, nxb Grancher, 2008) của học giả Phật Giáo Fabrice Midal. Chương 1 của quyển sách này gần đây cũng đã được chuyển ngữ và đưa lên một vài trang web (mang tựa là "Người Phật tử ngày nay trong thế giới Tây Phương", có thể xem trên các trang web Thư Viện Hoa Sen, Quảng Đức, ...) 
abc-du-buddhismfabrice_midal
Bìa quyển sách "Phật Giáo Đại Cương" và tác giả Fabrice Midal
Đức Phật có thật hay không ?
Tất cả các tài liệu lịch sử đều chứng minh cho thấy là Đức Phật có thật và sống cách nay đã hai-mươi-sáu thế kỷ. Ngài là con của một vị vua thuộc dòng họ Thích-ca (Sakya) trị vì một vương quốc nhỏ dưới chân dãy Hy-mã-lạp sơn, trong một vùng thuộc lãnh thổ Nepal ngày nay. Tên tục của Ngài là Tất-đạt-đa (Siddharta), họ là Cồ-đàm - vì thế mà người ta thường gọi Đức Phật là Ngài Cồ-đàm.
Trong thời gian khi còn tu khổ hạnh người ta còn gọi Ngài bằng một tên khác là Thích-ca Mâu-ni, có nghĩa là "Vị Thánh Nhân của Yên Lặng thuộc dòng họ Thích-ca".
Sau khi nhất quyết là sau này sẽ không đảm nhận chức vụ thủ lãnh nắm giữ quyền bính tạm thời (tức chính trị) trong vương quốc của vua cha thì Ngài từ bỏ cung điện xa hoa để chọn cuộc sống của một người tu tập tâm linh. Khi ba mươi tuổi thì Ngài đạt được giác ngộ và sau đó thì bắt đầu thuyết giảng. Ngài đã mang lại một niềm khích lệ lớn lao và sáng lập ra tập thể những người xuất gia. Ngài tịch diệt bên cạnh các đệ tử của mình khi được tám-mươi tuổi.
Những kinh nghiệm cảm nhận chủ yếu nào 
đã khiến cho Đức Phật trở thành một người sáng lập tôn giáo?
Những vấn đề khúc mắc khiến cho Đức Phật hằng ray rứt đều mang tính cách vô cùng sâu xa và khác thường. Có phải là Ngài đã hỏi tại sao chúng ta lại cứ dấn thân vào một cuộc sống luôn phải phấn đấu chỉ để mang lại sự hung bạo và để kéo dài bất tận sự hung bạo đó. Tại sao chúng ta lại phải gạt bỏ cái nhân tính tiềm tàng trong chính mình để chọn cho mình một cuộc sống dẫy đầy hận thù? Tại sao chẳng mấy khi chúng ta có dịp để chứng tỏ rằng mình là một con người? Tại sao chúng ta lại không thể thực hiện được những gì mình hằng mong ước mà lại cứ đắm mình vào những thứ không nên làm?
Đấy là những gì mà Đức Phật đã ưu tư. Con người luôn bị lọt ra bên lề cuộc sống. Họ tranh đấu nhằm mang lại cho mình thành công và hạnh phúc, thế nhưng càng vùng vẫy bao nhiêu thì những mục tiêu ấy lại càng trở nên xa vời bấy nhiêu.
Tuy sống trong huy hoàng thế nhưng Đức Phật cũng biết là có nhiều người khác đã từng chối bỏ sự hào nhoáng ấy để quay lưng đi và quên nó (các người tu khổ hạnh vào thời bấy giờ). Ngài tự hỏi tại sao lại có thể như thế được.
Trái với những gì người ta thường hiểu một cách sai lạc, thật sự là ta không thể tìm thấy được lời giáo huấn nào mang nhiều tính cách tự tin và lạc quan hơn những lời giảng dạy của Đức Phật.
Đức Phật luôn căn cứ vào hiện thực và nhận thấy chỉ có một con đường duy nhất có thể mở ra một lối thoát cho con người. Đấy là cách không nên cố gắng tìm mọi cách để lẩn trốn khổ đau, bất toại nguyện và lo buồn mà phải nỗ lực quan tâm tìm hiểu chúng. Thật vậy có rất nhiều phương tiện giúp chúng ta nhìn vào cách mà chúng ta đang sống.
Cái lâu đài đầy tiện nghi mà vua cha đã dựng lên để cố kềm giữ Ngài thật ra chỉ là một nhà tù với các bức tường được dựng lên bằng sự sợ hãi. Tương tự như vậy, chúng ta cũng đang bị giam giữ trong cái ngục tù của sự kinh hoàng trước bệnh tật, già nua và chết chóc, và đấy chính là những gì khiếp đảm nhất của hiện thực.
Suốt gần năm-mươi năm từ khi đạt được giác ngộ cho đến lúc tịch diệt, Đức Phật không một lúc nào lại không nhắc nhở cho chúng ta biết là chúng ta đang tự lừa dối mình. Chúng ta không nên trốn lánh sự sợ hãi và khổ đau mà phải lắng nghe chúng hầu tìm hiểu chúng, và đấy là cách duy nhất để giúp chúng ta có thể loại bỏ được chúng.
Hãy nhìn thẳng vào sự hiện hữu của chính mình để phấn đấu. Chưa hẳn là mình sẽ thắng, thế nhưng cũng chưa phải là mình sẽ thua. Đã là con người thì chúng ta lúc nào cũng có đủ khả năng giúp mình tự giải thoát khỏi mọi thứ gông cùm xiềng xích - chẳng hạn như việc thay đổi thể dạng tâm thần của mình.
Phương pháp luyện tập thiền định sẽ giúp chúng ta thực hiện được điều ấy.
Đấy cũng chính là con đường mà Đức Phật đã mở ra cho chúng ta.
Đức Phật là một vị trời hay một con người?
Đức Phật không giống như các vị sáng lập ra các tôn giáo khác bằng cách chỉ dựa vào Kinh Sách - chẳng hạn như Abraham, Moïse, Chúa Ki-tô hay Mahammed. Đức Phật không phải là một nhà tiên tri (prophète / prophet, tiếng Hy Lạp là prophêtês, có nghĩa là một vị tự cho mình mang tính cách linh thiêng, tiên đoán được những biến cố sẽ xảy và dựa vào đó để mà thuyết giảng bằng lời hay bằng chữ viết. Các biến cố mà các vị ấy tiên đoán thường là các tai ương sẽ xảy ra trong tương lai - tức có nghĩa là một sự hăm dọa). Đức Phật trái lại chỉ là một con người bình dị đã nêu lên những kinh nghiệm cảm nhận mà mỗi con người đều có thể thực hiện được. Ngài không hề nắm giữ bất cứ gì mang tính cách thần khải. Không có ai trao truyền cho Ngài một thông điệp mang tính cách linh thiêng, siêu nhiên hay thuộc vào một thế giới khác hơn là cái thế giới này.
Thiên Chúa Giáo đòi hỏi các tín đồ phải tin vào Chúa Ki-tô tức là vị Con Trời đã chết trên cây thánh giá và sau đó thì sống lại. Trọng tâm của tôn giáo ấy dựa vào một đức tin vượt lên trên mọi khả năng lý luận.
Trái lại đối với sự thật nêu lên trong giáo huấn của Đức Phật thì đơn giản là chỉ dựa vào một thể dạng tự do và sinh động của thực tại - dù cho thể dạng ấy mang tính cách tiềm ẩn, tức là còn bị che khuất và u mê. Con đường chỉ là một cách đơn giản giúp chúng ta nhận thấy đích thật cái thể dạng ấy và giúp nó hiển lộ ra trong lòng mình. Đức Phật không hề quan tâm đến Đấng Tối Cao hay các vị trời khác. Dầu sao đi nữa theo Đức Phật thì các vị ấy không thể giúp mình tự giải thoát cho mình được. Con đường duy nhất là phải ngồi xuống để nhìn vào những kinh nghiệm cảm nhận của chính mình trong từng giây phút một, với tất cả sự chân thật và ngay thẳng. Quả thật là chẳng ai có thể làm được việc ấy thay cho mình cả.
Vào thời khắc trọng đại nhất khi Đức Phật sắp đạt được sự Giải Thoát, nghĩa là lúc Ngài sắp bước sang phía bên kia (để đạt được sự Giác Ngộ) thì cũng chính là lúc mà Ngài bị ma quỷ tấn công mãnh liệt nhất. Chúng tìm đủ mọi cách làm cho Ngài phải bị hủ hóa, chúng quyến rũ để đánh lạc hướng Ngài, thế nhưng đồng thời đấy cũng chính là lúc mà Ngài đã biểu lộ một hành động thật phi thường, một hành động độc nhất trong lịch sử nhân loại, mang một chiều sâu vô hạn: Ngài đã dùng bàn tay của mình để chạm vào mặt đất và mượn mặt đất làm nhân chứng cho Ngài.
Thay vì trỏ tay lên trời để bảo cho mọi người biết rằng sứ mạng của mình là do Trời giao phó thì Đức Phật lại hướng tay mình xuống mặt đất của thế gian này. Rất nhiều ảnh tượng biểu trưng cho cái dấu ấn thật tinh tế ấy của Đức Phật khi Ngài dùng bàn tay mình để chạm vào mặt đất. Thật vậy không thể có một biểu tượng nào mang nhiều ý nghĩa hơn thế để chứng minh cho thấy rằng trước hết Ngài chỉ là một con người bình dị, bình dị như mỗi con người trong tất cả chúng ta. Một con người bước đi trên mặt đất này và chỉ quan tâm đến những gì thật đơn sơ của hiện thực mà không hề chờ đợi những ước mơ và hy vọng xa vời.

ducphatthichca_1
Đức Phật chạm tay xuống mặt đất để
chứng minh cho sự chiến thắng của mình trước bọn ma vương
(điêu khắc nổi thuộc triều đại Pala-sena, Ấn Độ, thế kỷ thứ X,
đá Basalt màu đen, bảo tàng viện Guimet-Paris)
Thế nhưng lại chính là nhờ vào sự khám phá ra cái thể dạng vượt thoát khỏi mọi bám víu và hận thù luôn lôi kéo tất cả chúng ta phạm vào lầm lẫn, mà Đức Phật đã trở thành một sinh linh thiêng liêng. Cuộc đời và những lời giáo huấn của Ngài là những gì vô cùng kỳ diệu tượng trưng cho một bầu không gian mở rộng, vượt lên tất cả các quan niệm của đời thường. Đối với nhiều học phái thì Đức Phật không phải là một con người được sinh ra, sống và chết đi, mà thực sự chính là một thể dạng sinh linh luôn hiện hữu trong thực tại và đồng thời cũng là sự thật của chính cái thực tại ấy.
Khi nhìn một pho tượng Phật chúng ta cũng có thể nhận thấy được sự biến đổi của một con người, đấy là một tấm gương nêu lên lòng quả cảm và quyết tâm đã khiến cho một con tim ngập tràn bởi sự an bình và niềm yêu thương, là một bầu không gian mở rộng của tình thương yêu tinh khiết và của cả thực tại nữa - và đấy cũng là những gì hiện hữu trong từng giây phút một.
Như vậy nếu hiểu được ý nghĩa đó thì chúng ta cũng nên tránh các thói quen suy nghĩ nhị nguyên của mình từ trước để nhìn vào Đức Phật như là một con người hoàn hảo và hoàn toàn thiêng liêng.
Các ảnh tượng biểu thị Đức Phật 
có trung thực với hình ảnh của chính Ngài hay không?
Người nghệ sĩ không phải là một phóng viên báo chí mà họ chỉ là người diễn đạt. Họ chỉ tìm cách thể hiện các phẩm tính nơi sự hiện hữu của Đức Phật mà không chú ý đến các đặc tính trên thân thể Ngài. Nhằm đạt mục đích đó các nghệ nhân trước hết đã dựa vào một số biểu tượng dễ nhận biết nhất để biểu thị cho Đức Phật: thí dụ như một chiếc ngai, vết chân của Ngài, chiếc bánh xe tượng trưng cho giáo huấn của Ngài, một đóa hoa sen...
Về sau này, chính xác hơn là vào thế kỷ thứ I, thì mới thấy nảy sinh ra ý kiến biểu thị Đức Phật qua nhân dạng con người. Điều này sở dĩ xảy ra có lẽ là do người Hy Lạp đã nhìn vào Đức Phật xuyên qua hình ảnh vị thần Apollo của họ (có thể xem thêm bài viết "Nghệ thuật biểu thị nhân dạng Đức Phật" trên trang nhà Thư Viện Hoa Sen, Quảng Đức,...).
Ngày nay chúng ta có thể biết thêm rằng Đức Phật vào thời bấy giờ rất có thể là một người gầy còm và da dẻ màu sậm đen chứ không như một số ảnh tượng mà chúng ta vẫn thường thấy ngày nay. Nhờ vào việc nghiên cứu Kinh sách Chính Thống bằng tiếng Pa-li và nhất là dựa vào các công trình khảo cứu của các sử gia hiện đại thì người ta mới hiểu rằng Đức Phật không phải là một vị hoàng thân tầm cỡ lớn, cũng không sống trong một lâu đài nguy nga, mà đúng hơn thì Ngài chỉ là con của một vị vương công khiêm tốn trong vùng. Thế nhưng điều ấy nào có gì là quan trọng.
Hình tượng chỉ giữ vai trò gợi lại những lời giáo huấn mà Ngài đã để lại cho chúng ta, nhưng tuyệt nhiên không phản ảnh một sự thật nào về xác thân con người của Ngài. Hơn nữa tại mỗi vùng địa lý, người ta lại hiểu giáo huấn của Ngài một cách khác đi đôi chút, con người ở những nơi ấy đã thích ứng Phật Giáo với lịch sử của họ và cả những gì mà họ ước mơ, để rồi hình dung ra hình ảnh của Ngài một cách khác đi (xin chú ý đây cũng là ý nghĩ mà tác giả sẽ khai triển khi trình bày về nguồn gốc của Đức Phật Di Lặc trong phần kết)Thế nhưng phải hiểu rằng tất cả những hình ảnh ấy đều nói lên một sự thật duy nhất, dù không mang tính cách lịch sử đi nữa thì sự thật tâm linh ấy cũng hàm chứa một giá trị thật cao
Dù có cố gắng tìm lại hình ảnh Đức Phật lịch sử với bất cứ giá nào thì đấy cũng chỉ là một cách bám víu phát sinh từ bản chất vô minh của mình, và cũng cho thấy là mình chẳng hiểu gì cả về những lời giáo huấn của Ngài. Bản thân của Đức Phật chẳng có gì hệ trọng cả. Đấy chỉ là một biểu tượng sống thực của sự Giác Ngộ. Điều mà chúng ta cần tìm kiếm chính là sự giác ngộ chứ không phải là các chi tiết liên quan đến tiểu sử của Ngài hay là dáng vóc của Ngài.
Hãy nhìn lên hình tượng của Đức Phật. Cái hình tượng đó gợi lên trong trí ta điều gì?
Một thể dạng an bình và một lòng nhân ái mở rộng hướng thẳng vào con tim của mình. Đấy mới thật là những gì chính yếu.
Chúng ta học được những gì từ các ảnh tượng của Đức Phật?
Trước hết các ảnh tượng ấy cho biết Ngài là ai. Vào thời đại của chúng ta ngày nay, vai trò ảnh tượng không còn giữ được tính cách thiêng liêng như trước nữa. Đối với chúng ta, khá lắm thì đấy cũng chỉ là những tác phẩm gợi lên một sự say mê nào đó dưới khía cạnh thẩm mỹ. Thế nhưng đối với người Phật tử thì ảnh tượng của Đức Phật là những gì giúp họ tiếp cận trực tiếp với sự hiện diện của Ngài trong thực tại. Các ảnh tượng ấy không phải là các tác phẩm của một nghệ sĩ nhằm mô tả những cảm hứng của mình. Người sáng tạo ra các ảnh tượng ấy luôn tìm cách xóa bỏ chính mình để nhường chỗ cho những gì họ muốn diễn tả có thể bộc lộ ra với sự rạng rỡ nguyên sinh của nó. Nếu nhìn theo chiều hướng ấy thì bất cứ một tác phẩm Phật Giáo nào cũng đều mang tính cách thiêng liêng, đều nhằm phản ảnh cái đẹp tinh khiết nhất của nó. Cái đẹp đó không có mục đích mang đến cho chúng ta một cảm xúc thích thú nào cả mà đúng hơn là giúp mở rộng con tim của chúng ta một cách thật kiên cường và quảng đại.
Quả thật hết sức khó để có thể đọc những gì được ghi trong các trang kinh sách viết bằng tiếng Phạn hay tiếng Pa-li hầu thấu triệt được các lời giảng dạy của Đức Phật. Hàng rào ngăn cách về ngôn ngữ là một trở ngại lớn. Việc dịch thuật không mấy khi mang lại các kết quả mong muốn và hơn nữa cuộc sống tân tiến ngày nay đã khiến cho một số các lời giảng huấn mà người ta cho là của Đức Phật có thể trở nên khó hiểu. Thế nhưng đơn giản hơn cả là chỉ cần nhìn vào ảnh tượng của Đức Phật thì chúng ta cũng có thể cảm nhận được sự hiện diện của Ngài. Con đường này thật vô cùng giản dị.
Đôi khi ảnh tượng cũng đủ để giúp chúng ta nhận thấy quyết tâm phi thường của Ngài trong khi thiền định: toàn thân Ngài rắn lại vì cố gắng. Còn có một tấm gương nào quý giá hơn để chúng ta nhìn vào hay không?
Đôi khi ảnh tượng cũng cho thấy Ngài dường như vượt thoát khỏi mọi thứ căng thẳng và hiện ra như một thực tại thật tinh khiết và tự nhiên không cần phải biểu lộ, bởi vì cái thực tại tinh khiết ấy đã vượt lên trên tất cả mọi tiêu chuẩn nhỏ hẹp.
Tại sao các ảnh tượng của Đức Phật lại thường giống nhau?
Bởi vì việc biểu thị Đức Phật chỉ có tính cách tượng trưng nhằm nói lên các phẩm tính của sự Giác Ngộ nơi Ngài. Ảnh tượng thường cho thấy trên đỉnh đầu của Ngài có một cái bướu (tượng trưng cho trí tuệvà giữa hai lông mày thì có một túm lông nhỏ (tượng trưng cho sự quán thấy sâu xa). Hai trái tai thì thòng xuống, đấy là vì phải đeo các bông tai thật nặng khi Ngài còn là một vị hoàng thân. Tóc cắt ngắn tượng trưng cho cuộc sống xa lìa thế tục, bởi vì vào thời bấy giờ tóc để dài là cách biểu trưng cho quyền lực và uy thế. Động tác của hai tay thì luôn mang một ý nghĩa nào đó, chẳng hạn như để nói lên rằng: " Đừng lo sợ""Hãy cố lắng nghe những lời giảng huấn" hoặc "Mặt đất này là nhân chứng duy nhất của Ta".
Khi nói rằng Đức Phật là bản thể đích thật của ta thì đấy có ý nghĩa gì?
Đức Phật khuyên chúng ta nên thức tỉnh hầu giúp chúng ta có thể quán nhận được những gì cao quý trong sự hiện hữu của chính mình, bởi vì nếu thiếu sự tỉnh thức thì chúng ta nào có thể khám phá ra được thể dạng cao quý của chính mình. Nếu nhìn vào khía cạnh đó thì quả thật là không có gì sai lầm hơn khi biến Đức Phật thành một thần tượng điện ảnh Hollywood để nhìn vào đấy mà bắt chước theo. Điều đó không thể chấp nhận được. Đức Phật không thuộc vào bất cứ một nơi nào cả bởi vì Ngài đang trú ngụ trong tâm thức của chính ta. Không nên tôn thờ Ngài từ bên ngoài mà phải nhận thấy được Ngài đang hiện hữu trong lòng mình.
Biết suy tư để nhận ra được điều ấy không phải là chuyện dễ chỉ vì chúng ta vẫn có thói quen luôn đi tìm những gì mong muốn ở những nơi không thể nào có được những thứ ấy, tức là những nơi mà chúng ta luôn phạm vào mọi sự sai lầm. Thế giới Tây Phương thường xem con người là kẻ phạm tội, luôn bị chi phối bởi tội lỗi. Dó đó phải tuân thủ một số quy luật và nghi lễ nào đó để chủ động lấy mình, để mình không lăn xuống vực sâu.
Đối với hầu hết các tín ngưỡng thì vấn đề mấu chốt là: làm thế nào để khống chế được mình, không để cho con thú ẩn nấp bên trong mình đè bẹp được mình ?
Phật Giáo không chia sẻ quan điểm ấy. Phật giáo chỉ nhìn vào những nơi nào có thể phát huy được lòng tốt mà thôi. Phật Giáo không ngả theo và cũng không chống lại Rousseau (1712-1778, là nhà văn, triết gia và soạn nhạc gia người Pháp, chủ trương một khái niệm mang tính cách vừa triết học vừa chính trị liên quan đến bản chất tự nhiên của con người trước khi xã hội được hình thành, và cái bản chất đó là những gì mang lại hạnh phúc cho con người - ghi chú thêm của người dịch). Thế nhưng ông ta lại không hề khẳng định là con người chỉ có thể hoàn hảo dưới thể dạng rừng rú (tức thuộc vào thời bán khai khi chưa bị xã hội hủ hóa)Ông ta xem đấy là một thứ gì mang bản chất tốt (đại khái như khái niệm "nhân chi sơ tính bản thiện" của Khổng Tử) hướng vào các kinh nghiệm của sự cảm nhận, và ông dựa vào đấy mà phân tích một cách thật khắt khe để tìm hiểu tại sao chúng ta lại chối bỏ và làm cho ô uế cái bản chất tốt ấy đi.
Kinh Hoa Sen có thuật lại một câu chuyện về một người nghèo khó tìm gặp một người bạn thuở thiếu thời. Người bạn này thì lại thật giàu có và khi trông thấy cảnh khốn cùng của bạn mình bèn kín đáo nhét vào áo của người này một viên ngọc thật quý mà không nói gì cả, chẳng qua cũng vì không muốn cho bạn mình biết để khỏi ái ngại. Nhiều năm sau thì bất ngờ người này lại gặp lại bạn cũ và thấy bạn mình vẫn cứ nghèo đói như xưa. Quá đỗi ngạc nhiên, người này liền sờ vào vạt áo của bạn mình và nhận ra là viên ngọc vẫn còn đấy. Qua không biết bao nhiêu năm tháng dài mà người ấy vẫn không tìm được viên ngọc quý trong áo mình. Quả là chúng ta cũng chẳng khác gì với người ăn xin ấy vì mang trong người một viên bảo châu mà nào có hề hay biết.
Con đường của Đức Phật cũng không có mục đích nào khác hơn là giúp chúng ta tìm thấy cái kho tàng quý giá đó của chính mình.
Cái kho tàng ấy không phải là một món quà tặng của Đấng Tối Cao mà thật ra là sở hữu riêng của tất cả mỗi con người. Vậy làm thế nào để biết được cái gia tài đó?
Hãy lấy một thí dụ.
Khi ta đang tản bộ giữa một khung cảnh thiên nhiên và bỗng cảm thấy vô cùng xúc động, đến độ chỉ muốn hòa mình vào cảnh thiên nhiên đang tỏa rộng ấy để nhập thành một thực thể với nó, và sẽ không còn một ngăn cách nào giữa ta và thế giới chung quanh. Cái kinh nghiệm cảm nhận ấy cũng có thể xảy ra khi gặp được một con người nào đó, và từ cuộc gặp gỡ ấy bộc phát ra một thứ cảm tính tự nhiên của tình thương yêu. Đấy là giây phút tượng trưng cho một sự mở rộng, và con người ấy biết đâu cũng có thể là Đức Phật. Con đường sẽ tập cho chúng ta biết trú ngụ trong chính nét mặt của Ngài.
Khi nào kinh nghiệm cảm nhận về một sự mở rộng như trên đây giúp cho ta hòa nhập với nó thì nó sẽ đánh thức trong ta một sự hiểu biết thật căn bản để luôn ước vọng được đặt niềm tin của mình vào nó. Phật giáo không phải là một sự mong cầu tìm được một cái gì mà mình không có, mà đúng hơn chỉ là con đường giúp mình trở về với chính mình.
Đức Phật có phải là người lập ra một tôn giáo, 
một học phái triết lý hay một ngành tâm lý học hay không?
Phật giáo cũng có việc cúng kiến, cũng có chùa chiền, tất cả các thứ này có thể là nguyên nhân khiến người ta có cảm tưởng là Phật Giáo cũng không khác gì với các tôn giáo theo kiểu Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo hay Hồi Giáo. Thế nhưng thật ra thì lại khác hẳn. Lý do chính yếu nhất là Phật Giáo không tin vào một vị Trời sáng tạo, và điều đó cũng cho thấy Phật Giáo là một tôn giáo duy nhất không tin tưởng có Thượng Đế (non-theism).
Phép thiền định mà Phật Giáo đưa ra không nhằm vào mục đích hòa nhập với một thể dạng linh thiêng, hoặc một sự tuyệt đối, hoặc bất cứ một thể dạng đơn thuần tri thức nào cả, mà đúng hơn là để phát huy một sự chú tâm chính xác và bền vững hướng vào tất cả những gì đang hiện hữu.
Phật Giáo cũng không phải là một tín ngưỡng dựa vào giáo điều. Người tu tập theo Phật Giáo không cần phải phát lộ đức tin của mình đối với bất cứ một thứ gì để dựa vào đó mà trở thành một người Phật tử. Trái lại là đằng khác, các vị thầy Phật Giáo thường nhắc nhở người tu tập phải luôn cảnh giác và thắc mắc để tự tìm hiểu thêm. Đức Phật đã từng nói rằng:"Không được tin bất cứ gì Ta nói là đúng, chỉ vì đấy là do Ta nói. Trái lại phải mang ra thử nghiệm những lời giáo huấn của Ta giống như một người thợ kim hoàn thử vàng. Nếu sau khi quán xét các lời dạy của Ta mà nghiệm thấy là đúng, thì lúc ấy mới nên mang ra thực hành. Dầu sao thì nhất định cũng không phải là vì kính trọng ta mà mang ra thực hành".
Có một điều cần phải khẳng định một cách dứt khoát là Đức Phật không thể nào cứu độ chúng ta được. Thật vậy Đức Phật không thể làm gì được cho chúng ta cả. Ngài chỉ có thể trỏ cho chúng ta thấy một con đường, và mỗi người trong chúng ta phải tự mình bước theo con đường đó.
Mỗi người phải nhận lãnh trách nhiệm về sự hiện hữu của chính mình.
Phật Giáo cũng không phải là một triết học, bởi vì Phật Giáo luôn tránh không trả lời các loại câu hỏi đơn thuần chỉ mang tính cách tự biện hay siêu hình.
Kinh sách kể chuyện về một người cứ khăng khăng nhất quyết đòi hỏi Đức Phật phải giải đáp cho bằng được, thế rồi Ngài đành phải thuật lại cho người ấy nghe một câu chuyện như sau:
. Chính vì lý do đó mà Đức Phật thường được xem như một vị lương y hơn là một hiền giả hay một triết gia.

Ngay cả các tư tưởng của Long Thụ thường được xem là các tư tưởng thuộc loại tinh tế nhất trong Phật Giáo cũng không thuộc vào lãnh vực triết học. Lý do thật hết sức đơn giản là vì triết học chỉ là một cách thắc mắc của người Hy Lạp mà thôi(cũng xin mạn phép nhắc thêm là tác giả tốt nghiếp tiến sĩ triết học tại đại học Sorbonne Paris).
Nếu không chú ý đến khía cạnh trên đây thì sẽ khó tránh khỏi những điều nghịch lý hết sức trầm trọng. Trong lãnh vực triết học người ta thường tìm cách chuyển những gì không biết trở thành biết (hiểu biết bằng sự lý luận và tự biện triết học) và đấy cũng là cách phủ nhận những gì mang tính cách cá biệt của Phật Giáo (tức phủ nhận Phật Giáo vượt lên trên triết học).Phật Giáo không giống với bất cứ một cơ cấu triết học nào của Tây Phương - dù đấy là chủ nghĩa hoài nghi, chủ nghĩa yếm thế, chủ nghĩa hưởng lạc.... Cũng không thể nào đưa Phật Giáo đến gần với các tư tưởng của Descartes, Spinoza, Kant hay Nietzche (ba triết gia đầu tiên chủ trương có Trời, vị thứ tư thì cho là “Trời đã chết”). Phạm vi và cách nhìn của Phật giáo ở vào một nơi khác. Do đó thật hết sức quan trọng phải luôn bảo vệ sự độc đáo của Phật Giáo.
Phật Giáo cũng có những bài hát, những lời xiển dương, nghi thức cúng bái, lễ lạc - và nhất là thiền định. Do đó Phật Giáo không phải là một hình thức suy tư tự biện về hiện thực mà đúng hơn là một con đường đích thật liên quan đến từng hành động, ngôn từ và tư duy của chúng ta.
Phật Giáo mang đến cho tất cả mọi con người thuộc mọi giới tính một con đường giúp cho họ sống một cách toàn vẹn sự hiện hữu của chính họ. Con đường ấy không dẫn dắt chúng ta bước vào một xứ sở nào khác mà chỉ đơn giản là đưa chúng ta đến gần hơn với chính con người của mình, nơi đó đang vang lừng tiếng hát của cả một không gian rộng lớn.
Phật Giáo là một "con đuờng không chủ đích" hay là một "lối đi không lối đi" - đấy là cách nói nhằm nhấn mạnh sự kiện làhành động bước theo con đường sẽ quan trọng hơn nhiều so với kết quả mong cầu sẽ đạt được do con đường đó mang lại.
Phật Giáo có phải là vô thần hay không?
Phât Giáo không tôn thờ một vị Trời Sáng Tạo, thế nhưng đấy không có nghĩa Phật Giáo là vô thần. Thật thế Phật Giáo luôn cảnh giác chúng ta trước mọi hành vi mang tính cách tín ngưỡng và khuyên chúng ta phải luôn quán xét và thận trọng đối với khá nhiều điểm tương đồng trong cuộc phấn đấu của chủ nghĩa vô thần nhằm giải thoát cho mình ra khỏi các gông cùm tạo ra từ các thứ giáo điều.
Tuy nhiên mặt khác thì Phật Giáo cũng lại rất gần với các tôn giáo của chúng ta (tức của người Tây Phương), chẳng hạn như khi một vị tu sĩ Phật giáo gặp một vị tu sĩ Thiên Chúa Giáo thì cả hai đều cảm thấy là mình cùng chia sẻ một thứ gì thật chủ yếu.
Dầu sao thì Phật Giáo cũng mang tính cách vô-thần thật sâu xa. Phật Giáo chủ trương một sự phân tích không nhân nhượng nhằm vạch ra cho thấy cái bẫy đang được giăng ra trong các tín ngưỡng hữu thần: đấy là cách mà ta phải khẳng định là có một vị trời khác với mình, và tiếp theo đó thì vị trời lại dựa vào sự hiện hữu của ông ấy để mà xác nhận là có sự hiện hữu của ta và còn thiết đặt cả cho ta các kinh nghiệm cảm nhận của chính ta (có nghĩa là vị ấy có thể ban cho ta hạnh phúc hoặc trừng phạt ta).
Mỗi khi con người nói đến một vị trời nào đó thì đấy cũng chỉ là cách khoác thêm cho vị ấy hình ảnh của chính mình, sau khi đã phóng đại nó và ghép thêm cho nó các phẩm tính thật hoàn hảo. Trời chỉ là một hình ảnh khuếch đại thật khổng lồ của chính chúng ta.
Khi nào vị trí của Vị ấy và của mình được phân định hai bên rõ rệt thì tất nhiên cũng sẽ xảy ra việc cầu khẩn Vị ấy, trông chờ vào sự nâng đỡ cũng như sự giải cứu của Vị ấy. Dầu sao thì đôi khi chúng ta cũng có thể cảm nhận được một mối tương liên nào đó (giữa Trời và chúng ta) được thắt chặt, thế nhưng nhiều lúc thì chúng ta cũng có có cảm giác là mối dây đó bị đứt (thiếu đức tin). Quả thật hết sức khó để có thể tạo ra một mối liên hệ với Trời khi ta vẫn còn hình dung ra được hình ảnh của Vị ấy (khi vẫn còn hình dung ra hình ảnh của Vị ấy khác với mình thì làm thế nào mà mình có thể hội nhập với Vị ấy được).
Thật vậy có một số nhà thần bí chủ trương là Trời không ở bên ngoài con người. Trong số này có thể kể ra vị Thầy Eckhart hay thánh nữ Thérèse de Lisieux, đấy là những người mà Phật Giáo cảm thấy khá gần gũi.
Tại sao Phật Giáo vô thần mà lại có một số thánh thần địa phương đông đảo đến thế?
Nếu căn cứ vào các khái niệm của Tây Phương từng chịu ảnh hưởng nặng nề bởi Thiên Chúa Giáo và các cuộc chiến hung hãn và dai dẳng của tôn giáo này chủ xướng để chống lại "dị giáo" (tôn giáo đa thần của người La Mã trước khi Thiên Chúa Giáo thâm nhập vào Âu Châu) thì sẽ không thể nào hiểu được sự nghịch lý trong câu hỏi trên đây. Đối với Thiên Chúa Giáo thì việc thờ cúng thần thánh địa phương và thế tục là một thứ nọc độc, một thứ dị đoan cần phải nhổ bỏ tận gốc khỏi đầu óc của quảng đại dân gian.
Phật Giáo không bao giờ chủ trương cách ứng xử ấy mà luôn tin vào sự hiện hữu của thật nhiều các vị thần thánh. Phật Giáo chỉ tìm cách chuyển họ trở thành những sinh linh phục vụ cho Đạo Pháp. Các vị thần núi hay các vị thần ao hồ đều có thể có thật, với điều kiện là phải tôn kính họ và không được tách họ ra khỏi nơi trú ngụ của họ. Ta chỉ cần xin phép họ được lưu trú trong lãnh địa của họ và nhờ họ giúp đỡ, thế nhưng tuyệt nhiên đấy không phải là cách giúp mình có thể dập tắt được ngọn lửa của khổ đau (chỉ có Phật Giáo đích thật mới giúp chúng ta thực hiện được việc ấy).
Đấy cũng là một cách biểu lộ sự bao dung của Phật Giáo đối với các tín ngưỡng khác. Tại Trung Quốc Phật Giáo cùng phát triển chung với Khổng Giáo, Lão Giáo và các tín ngưỡng dân gian khác. Tại Nhật Bản thì Phật Giáo và Thần Đạo cùng tồn tại bên nhau và cùng hướng vào việc tôn thờ thiên nhiên và các vị thần linh trú ngụ trong các bối cảnh thiên nhiên ấy.
Ngoài ra Phật Giáo còn ghép thêm vào số các vị thần linh của thiên nhiên vô số các vị Phật khác với mục đích biểu trưng cho muôn ngàn thể dạng phát hiện của sự giác ngộ. Chữ Phật không nhất thiết là một danh từ riêng mà đúng hơn là một "tước vị" mang ý nghĩa một "Vị Giác Ngộ". Ngay cả vào các thời kỳ nguyên thủy, tín ngưỡng Phật Giáo cũng đã bắt đầu chủ trương sự hiện hữu của nhiều Vị Phật khác từng sống trên địa cầu này vào những thời đại thật xa xưa, hoặc sẽ xuất hiện ra sau này.
Tại sao lại có nhiều Phật đến thế?
Nếu muốn giải đáp thắc mắc này thì trước hết phải tự hỏi: "Vậy Đức Phật là ai?".
Đấy có phải là một con người đã từng sống trong một thời đại lịch sử nhất định hay chỉ là những thể dạng hiện hữu dưới muôn ngàn gương mặt khác nhau?
Tương tự như đại dương mang các tính chất khác nhau như ướt, mênh mông và mặn, tâm thức của Đức Phật cũng thế và cũng có thể phát lộ dưới nhiều hình thức khác nhau, như lòng từ bi, trí tuệ và nhiều thể dạng sinh hoạt khác nhau...
Theo quan điểm của Phật Giáo, nếu xem chư Phật hàm chứa một sự hiện hữu riêng biệt mang tính cách cá thể thì nhất định đấy là một điều sai lầm và sự sai lầm đó cũng chẳng khác gì với sự sai lầm khi cho rằng chư Phật không hề hiện hữu. Tôi ý thức được rất rõ là cách nói đó khá khó hiểu. Thế nhưng cũng phải cố gắng để hiểu mà thôi. Phải cần có nhiều vị Phật khác nhau để giúp chúng ta mở rộng con tim và tâm thức của mình hầu có thể thích nghi với các cách suy nghĩ khác nhau. Nếu xem các vị ấy là thật thì sẽ có thể đưa đến tình trạng không nhận biết được thể dạng rộng mở mà họ có thể mang đến cho chúng ta, và chúng ta thì cũng sẽ rơi vào một hình thức đơn thuần của việc tôn thờ ảnh tượng. Trái lại, nếu xem các vị Phật ấy không thật và đơn giản chỉ là những gì mang tính cách huyễn hoặc, một thứ ảnh tượng hay là các biểu trưng thần tượng, thì chính đấy cũng sẽ là cách mà chúng ta đánh mất đi sự giúp đỡ quý báu của họ.
Có một vị Phật mang một cái bụng thật to 
thường thấy trong các nhà hàng ăn của người Tàu, 
vị ấy mang ý nghĩa như thế nào?
Ở Trung Quốc người ta thường thấy một vị Phật đầu hói, béo phì, vui cười một cách hả hê, vị này khoác áo cà-sa và có một cái bụng thật to. Cách biểu thị đó đối với một vị Phật quả thật cũng đáng để chúng ta phải ngạc nhiên vì rõ ràng là lọt ra ngoài các cách biểu thị thông thường.
Nguồn gốc của nhân vật này là một vị thánh biểu trưng cho sự giàu sang. Cái bụng to tướng và cái vẻ hả hê của ông cũng như cả một đám trẻ con bu chung quanh ông là nhằm vào mục đích nêu lên sự giàu có của chính ông và đồng thời thì ông cũng sẽ sẵn sàng ban sự giàu có của mình cho những ai cầu xin mình. Vị này luôn mang bên người một cái túi vải đầy ắp các thứ quý giá, nào là lúa gạo, nào là kẹo bánh cho trẻ con. Tóm lại vị ấy là biểu tượng của hạnh phúc, sự may mắn và sung mãn.
Phật Giáo không hề loại bỏ các thói tục thờ phụng địa phương dù là ở bất cứ nơi nào tại Á Châu, mà chỉ tìm cách biến đổi phần nào ý nghĩa của sự thờ phụng đó. Phật Giáo biến vị thần linh có nguồn gốc xa xưa trên đây (thần tài) trở thành một vị biết tu tập Phật Giáo, hoặc xem đấy như chính là một thể dạng hóa thân của vị Phật lịch sử. Vì thế vị trên đây được xem là Phật Di Lặc, một vị Phật của tương lai (mang lại giàu có và hạnh phúc).
Bures-Sur-Yvette, 05.02.12
Hoang Phong chuyển ngữ

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.