bài viết trong chuyên mục "Phật Học Ứng Dụng"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Học Ứng Dụng. Hiển thị tất cả bài đăng

Vũ trụ vạn hữu vốn vô tận và thiêng liêng. Không riêng một thứ gì là thiêng liêng mà tất cả đều thiêng liêng. Cây cỏ, đất đá, núi sông cũng thiêng liêng như những ngôi đền, đài, chùa, tháp. Khi chúng ta biết cảm nhận sự hòa hợp, biết trân trọng cuộc sống thì mới nhận ra điều đó. Bằng không, những gì đi ngang qua đôi mắt, đi ngang qua cuộc đời đều trở thành vô nghĩa.

Lẽ ra chúng ta phải thích thú với thế giới tự nhiên hơn là những gì nhân tạo. Thiên nhiên sinh động và tiếp nối với vô cùng. Nó hiện thể của sự tự do mênh mông. Một ngọn cỏ, lá cây, viên sỏi đều có sự kết nối với cả thiên hà đại địa. Điều đó thật kì diệu vô cùng. Nhưng chúng ta thường có thái độ ngược lại. Chúng ta trở nên những con người lạnh lùng và không còn khả năng rung cảm trước thiên nhiên. Ngược lại, chúng ta chú ý đến những gì có tính nhân tạo. Điều đó khiến con người ngày càng khô cằn sỏi đá, mất khả năng cảm thụ sự tinh tế; thay vào đó lại luôn đi tìm cảm giác mạnh để hủy hoại bản thể mình. Những nhân tạo được dựng xây lên bằng trí óc và trí óc trở lại kính ngưỡng chính nó. Cho nên, thiên nhiên ngày càng bị tàn phá nặng nề.

Lẽ ra chúng ta ngày càng phải yêu thương cuộc sống này hơn, nhưng tại sao chúng ta lại muốn chối từ sự sống tốt đẹp trong hiện tại để tìm kiếm một thế giới khác, một đời sống khác sau khi chết. Phải chăng chúng ta đã già nua, bịnh tật, suy yếu và trong thân tâm đầy những thương tích đau đớn ê chề nơi thế gian này. Đáng lẽ càng cao tuổi, chúng ta càng hiểu biết và cảm nhận sâu sắc. Đáng lẽ càng cao tuổi chúng ta càng vượt qua những trói buộc, những sai lầm và ngày càng hợp với lẽ đạo để được an hưởng những phúc lành của cuộc sống.

Đành rằng thế gian chỉ là quán trọ, nó vô thường thay đổi không gì là bền chắc nhưng trong khoảng đời ngắn ngủi ấy chúng ta phải biết trân trọng Nếu hiểu được thế, chúng ta ngày càng vui tươi và mãn nguyện hơn và luôn ca ngợi và yêu thương cuộc sống cho đến giây phút cuối cùng. Đằng này, vì ngày càng rời xa nẽo đạo nên chúng ta trở nên khô khan và mất cảm giác, chúng ta cảm thấy mình suy yếu và không còn tha thiết với cuộc sống, chúng ta lãnh cảm và muốn khép mình để cầu nguyện cho kiếp sau. Tâm lý cầu nguyện mong ước kiếp sau tốt đẹp xuất phát từ mong muốn hưởng thụ nhưng không thể hưởng thụ. Đó chính là trạng thái mâu thuẩn, khiên cưỡng, ức chế, bị đè nén mong muốn có ngày trỗi dậy. Thế thì tại sao chúng ta không vui hưởng khi còn đang thở mà phải để dành hay chuẩn bị cho đời sống sau khi tắt hơi.

Chuẩn bị cho kiếp sau chẳng qua là một tâm lí tham lam nhưng sợ người ta biết mình tham lam. Chúng ta vốn có cá tính cất giấu và để dành vật chất cho nên chúng ta nghĩ rằng chúng ta cũng có thể cất giấu và để dành cái gọi là tâm linh. Tuổi già thân thể vật lí bịnh tật và suy yếu nhưng cái thói quen, tập khí tham chấp còn nhiều nên muốn hưởng thụ lại không thể hưởng thụ. Mong ước một kiếp sau, một thế giới khác tốt đẹp chính là lòng tham vi tế được che đậy bởi ngôn từ. Vì tham lam, những gì chúng ta ham muốn mà không thể đoạt được trong đời này người ta thường hi vọng có được nó vào đời sau. Đó chính là động lực để chúng ta cầu nguyện.

Trong vũ trụ tuyến này, tâm thức cá nhân và tâm thức vũ trụ có sự tương ứng với nhau. Giữa các tầng sóng trí não và tâm thức với các tầng sóng vũ trụ có một sự tương giao mật thiết với nhau. Tâm thức có tầng sóng an tịnh chừng nào sẽ chiêu cảm một tầng sóng siêu nhẹ chừng đó của vũ trụ. Ngược lại trí não cành lăng xăng và tâm thức mang nhiều nghiệp xấu sẽ chiêu cảm những tầng sóng thô và năng lượng xấu của vũ trụ. Cho nên, giây phút của kiếp sau sẽ kế tiếp giây phút của kiếp trước và tâm thức đang như thế nào sẽ chiêu cảm một cảnh giới tương tự ở kiếp sau. Như thế, nếu hiện tại chúng ta thảnh thơi, an vui và tự do thì kiếp sau nhất định chúng ta bắt đầu với giây phút thảnh thơi, an vui và tự do. Nếu hiện tại lo âu và sợ hãi thì thế giới kế tiếp không gì ngoài trạng thái đó. Như vậy, chúng ta cứ đè nén và tham vọng thì cảnh giới kế tiếp không gì khác hơn là thế giới của những con người mất tự nhiên và sống trong niềm khổ đau dằn xé.

Lẽ ra chúng ta phải tu tập và học đạo lý khi còn trẻ để ngày càng già thì càng hợp với đạo và an hưởng được nhiều phúc lành của cuộc sống. Chúng ta thường sống ngược lại, tuổi trẻ là một sự đăm mê rượt đuổi vào bao ảo vọng lớn lao cho đến khi sức tàn lực kiệt. Những tham vọng vẫn còn đó và khi lực bất tòng tâm chúng ta lại muốn có nó vào kiếp sau. Thế là chúng ta phải cầu nguyện để hi vọng.

Vũ trụ vốn thiêng liêng và chu toàn cho mọi sinh linh tồn tại trong nó. Chúng ta cảm thấy thiếu thốn chẳng qua vì đòi hỏi quá mức và tham muốn những điều quá lớn lao. Nếu biết vừa đủ, chúng ta sẽ không thấy thiếu thốn điều gì.

Nếu có sinh vào kiếp sau, chúng ta lại được mở mắt và tiếp tục an hưởng một cuộc sống mới trong một không gian và thời gian mới. Nếu chúng ta không an hưởng mà cứ có thái độ đè nén và cất giấu hoài thì vô tình chúng ta bỏ phí cuộc đời này và cứ thế liên tiếp bỏ phí nhiều kiếp sống. Như thế muôn đời chúng ta chỉ là kẻ cất giấu, kẻ mong đợi, kẽ lãng phí và mang theo như là một gánh nặng. Rồi cái ngày cuối cùng và điều giác ngộ xảy ra cũng không gì khác hơn là chúng ta nhận ra được niềm phúc lạc trong thực tại. Tình yêu thương tất cả lại hiện ra.

Bùi Giáng – kẻ tận hưởng và tận hiến đã sống trọn vẹn trong cuộc đời này:

“…Tôi đã nguyện yêu trần gian nguyên vẹn
Hết tâm hồn và hết cả da xương.
Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi
Trần gian ôi! cánh bướm, cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng, sâu bọ cũng yêu luôn.
Còn ở lại một ngày còn yêu mãi
Còn một đêm còn thở dưới trăng sao
Thì cánh mộng còn tung lên không ngại
Níu trời xanh tay vói kiễng chân cao…”

Bùi giáng đã sống trọn vẹn trong thế giới nhân sinh vô thường. Sống thiết tha và trọn vẹn với đời như thế, nhưng sau đó bỏ lại hết không mang theo gì cả:

“Có thương tiếc xin đừng thương tiếc lắm
Buồn cũng buồn như mọi cuộc chia ly
Rồi để lại không mang theo gì cả
Và nhẹ nhàng như gió lúc ra đi”

Đó chính là một con đường thực tại mà một con người đi qua nó đã sống trọn vẹn, tự do, hạnh phúc và giải thoát.

Thông Nhã

AN ỦI LỚN NHẤT CỦA ĐỜI NGƯỜI LÀ BỐ THÍ 
Thích Đạt Ma Phổ Giác

bo_thiTại sao an ủi lớn nhất của đời người là bố thí? Vì người nghèo đang thiếu thốn, khó khăn được sự giúp đỡ sẽ có thể vượt qua cơn hoạn nạn. Bố thí theo nghĩa thông thường là giúp đỡ, sẻ chia, chính là gieo những hạt giống thiện lành, giống như người gửi tiền ngân hàng tuy hiện tại như không có tiền nhưng khi cần xài thì rút ra.Như vậy, khi chúng ta làm những việc thiện lành như bố thí tiền bạc, tài sản, chia sẻ những ưu tư, những khổ đau của người khác là chúng ta đang tu phước.
Bố thí theo nghĩa sâu xa là buông xả mọi dính mắc về vật chất lẫn tinh thần. Bố thí theo nghĩa thông thường là giúp đỡ, sẻ chia cho người khi cần thiết nhưng vẫn có sự tính toán. Khi chúng ta cho đi một vật gì là biết chắc mình sẽ nhận lại được tương đương hoặc nhiều hơn thế nữa, như vậy trong đó có sự cân nhắc lợi-hại.
Chúng ta cho đi một vật gì mục đích là để cầu phước báo hiện tại và mai sau, hoặc vì muốn đáp lại lòng tốt của người khác. Như vậy, ý nghĩa cho ở đây là để trao đổi hai chiều. Trong thế gian này, người giàu sang phú quý, sự nghiệp vinh hiển, công thành danh toại không phải bỗng dưng mà có. Đó là kết quả việc tu nhân tích đức của họ trong nhiều đời trước. Chính vì vậy, trong cuộc sống này không có việc gì là ngẫu nhiên, đương nhiên khi không hay tự nhiên mà thành.
Muốn được giàu sang quyền quý, sung túc đầy đủ trong tương lai thì hiện tại ta phải biết bố thí, cúng dường, giúp đỡ, chia sẻ tùy theo khả năng của mình. Người Phật tử chân chính lúc nào cũng phải tin sâu nhân quả, tin mình làm lành được hưởng phước. Vậy muốn được giàu sang, nhiều của cải mà hiện thời ta không biết làm phước thì e rằng không thể có được.
Đạo Phật có mặt trong cuộc đời là vì lợi ích chúng sinh, muốn giúp cho mọi người chuyển hoá kiếp nghèo khó thì ta phải biết bố thí, cúng dường. Phật dạy chúng ta phải biết xả bớt lòng tham lam, ích kỷ, chỉ biết sống cho riêng mình để giúp đỡ, sẻ chia cho người khác, không nên sống trong vô cảm ai khổ đau mặc kệ. Đạo Phật chủ trương sống hòa mình cùng nhân loại với quan niệm ai cũng là người thân, người thương nên mỗi người đều phải có trách nhiệm và bổn phận thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần vô ngã, vị tha.
Đạo Phật thấy rõ cuộc sống của muôn loài là phải nương tựa vào nhau, không một loài nào có thể tách rời đời sống xã hội mà tồn tại trong bầu vũ trụ bao la này. Đức Phật đã tu tập thành bậc giác ngộ hoàn toàn, Ngài thấy rõ mọi sai biệt và bất đồng giữa con người và muôn loài giống như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường thấy người giàu sang, sung sướng, của cải vật chất đầy đủ; người nghèo hèn, khốn khổ, đói rách, thiếu thốn, lang thang; kẻ sang - người hèn, kẻ xấu - người đẹp, kẻ ngu - người trí, kẻ chết yểu - người sống thọ, người an vui hạnh phúc - kẻ bất hạnh khổ đau…
Phật dạy: Người đủ ăn đủ mặc là người có phước đức nên ít lo, nhờ vậy mà dễ tu. Vậy thế nào là người có phước đức? Người có phước đức là người có cuộc sống ổn định, phương tiện vật chất đầy đủ, có nhà cửa, tiền tài, danh vọng, ăn ngon, mặc ấm; lại sống trong gia đình trên thuận dưới hòa, biết cung kính lễ phép với người trên, thương yêu đùm bọc người dưới, biết hiếu thảo với ông bà cha mẹ, biết dạy dỗ con cái điều hay lẽ phải, tránh xa bạn ác, gần gũi bạn lành trong tình thương yêu nhân loại vì tình người trong cuộc sống bằng trái tim hiểu biết.
Ngay nơi hiện tại chúng ta không làm phước mà muốn mai sau được phước thì không thể được, cũng như trước kia mình chưa từng làm phước nên bây giờ phải chịu kiếp nghèo khổ. Chúng ta nên nhớ rằng, làm phước thì được phước, hưởng phước thì hết phước. Hiểu được điều này, mỗi người chúng ta cần phải cố gắng gieo trồng phước đức để cuộc sống ngày thêm hoàn thiện hơn. Một ngày chúng ta sống trên đời là một ngày ta phải sống có ích cho mình và người mà không làm tổn hại cho ai. Ngược lại, người sống trong cảnh thiếu thốn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, trong gia đình thường hay gây gỗ, bất hòa, xung đột lẫn nhau là vì thiếu phước đức.
Vậy thế nào là phước? Phước là những hành động, lời nói, ý nghĩ đem đến an vui, hạnh phúc cho mọi người trong hiện tại và mai sau. Người làm phước là người biết làm những điều thiện lành tốt đẹp, luôn giúp mọi người khi gặp khó khăn nên ai cũng ưa thích gần gũi, quý mến, tôn trọng. Chính nhờ sự gần gũi đó chúng ta dễ dàng thông cảm, tha thứ cho nhau, sẵn sàng dấn thân phục vụ, thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần vô ngã vị tha.
Phước giúp chúng ta chuyển hoá được những nghiệp xấu ác có tính cách làm tổn hại người và vật của nhiều kiếp, phước có công năng giúp ta sáng suốt để giảm bớt việc làm sai trái trong cuộc sống. Có những việc chúng ta tưởng chừng như không thể nào cứu vãn nổi, vậy mà nhờ có phước rồi ta cũng vượt qua hết tất cả. Trong sáu hạnh Ba La Mật gồm bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ thì bố thí là hạnh đầu tiên để giúp chúng ta từng bước thăng tiến trên con đường Phật đạo.
Con đường tu tập của quý Phật tử không chỉ giới hạn vào việc tu phước, việc làm lành tránh ác để kiếp sau khá hơn kiếp trước, vì như thế vẫn còn trôi lăn trong vòng sinh tử của thế giới tương đối, đó chưa phải là mục đích chính của đạo Phật.
Chúng ta thử đặt vấn đề nếu trong hiện tại chúng ta chỉ lo tu phước mà không tu tuệ, do nhân tu phước ở kiếp này mà đời sau có nhiều của cải, quyền cao chức trọng, kẻ hầu người hạ, giàu sang sung sướng. Do được hưởng phước báo đó mà con người ta dễ dàng buông lung, sa đoạ trong dục lạc. Khi ấy thì dù có bậc thiện tri thức khuyên bảo cũng khó làm cho họ nghe theo vì họ đang trong cơn say sưa, mê đắm với dục vọng.
Chính vì vậy mà đức Phật thường khuyên nhủ chúng ta “phước huệ song tu” để thành tựu đạo pháp. Nếu chúng ta giàu sang sung sướng mà không có nhận thức sáng suốt, không giữ gìn giới hạnh trang nghiêm thì trong tương lai phước hết hoạ đến sẽ gặt quả báo xấu tuỳ theo nghiệp đã tạo.
Việc gieo trồng phước đức rất quan trọng, trong đó có hạnh pháp thí gồm có truyền giảng chánh pháp cho người nghe, hay trợ duyên cho việc chuyển lăn bánh xe pháp, làm cho Phật pháp ngày càng lan rộng. Làm phước bằng cách ấn tống kinh sách, phát hành băng đĩa Phật pháp, tài trợ cho quý Tăng Ni sinh đi học, hay cúng dường cho những khoá tu học tại các chùa, gieo nhân duyên nghe Phật pháp giúp mọi người tin sâu nhân quả, hiểu biết được nguyên lý sống của xã hội là công đức cao nhất trong các hàng bố thí. Cho người miếng ăn xong rồi hết, đôi khi khiến họ thêm ỷ lại, cho pháp thí thì mau chuyển hoá được nghiệp tập xấu ác.
Ngày xưa, khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung Hoa hoằng pháp, Ngài đã đến gặp vua Lương Võ Đế. Trong lúc tìm hiểu, trao đổi Phật pháp, nhà vua hỏi: "Trẫm một đời cất chùa, độ Tăng, bố thí, cúng dường, đúc chuông, tạo tượng, ấn tống kinh sách, như vậy có được công đức chăng?" Tổ Bồ Đề Đạt Ma trả lời rằng không có công đức gì cả. Nhà vua như bị tát gáo nước lạnh vào mặt, bởi vì Ngài nghĩ những việc đó là công đức tối hậu.
Có người nói rằng vua Lương Võ Đế không đích thân ra công thực hiện những việc đó mà chỉ sai người khác làm nên không có công đức gì cả. Sau này có người đem sự việc đó thưa hỏi Lục Tổ Huệ Năng và được Lục Tổ chỉ dạy như sau: “Quả thực là không có công đức gì cả. Vua Lương Võ Đế vì lầm chấp sự làm phước là viên mãn mà không dùng trí tuệ để buông xả phiền não tham-sân-si vì còn thấy mình giúp. Cất chùa, độ Tăng chúng tu hành rất đông, thiết trai cúng dường, bố thí, đúc chuông, tạo tượng, ấn tống kinh sách, tất cả chỉ là những việc làm bên ngoài xã hội bằng tình người trong cuộc sống có thể giúp ích cho nhiều người.”
Nghe thế, vua sửng sốt, bàng hoàng, đâm ra nghi ngờ nên hỏi tiếp: “Tại sao lại không có công đức?” Tổ đáp: “Đó là phước báu thế gian được hưởng phước báo làm người giàu sang, thông minh, mẫn tiệp ở cõi Trời-Người như bóng theo hình, tuy có nhưng không bền chắc lâu dài.” Vua Lương Võ Đế tưởng rằng làm những việc phước thiện như vậy là công đức cao cả nên chấp vào việc làm của mình, bị Tổ tạt cho một gáo nước lạnh vào mặt nhưng vẫn chưa nhận ra yếu chỉ tu hành bởi vua Lương nhầm lẫn giữa phước đức và công đức.
Mục đích của Tổ sang Trung Hoa là chỉ rõ cho mọi người nhận ra bản tâm chân thật sẵn có nơi mỗi người. Vua Lương nghĩ rằng cất chùa, độ Tăng Ni, in kinh sách, say mê việc làm phước là công đức nên Tổ mới phá chấp để nhà vua nhận ra bản tâm chân thật của mình mà hiểu đúng lý giác ngộ, giải thoát của đạo Phật. Nhà vua không hiểu thế nào là công đức, chỉ một bề lầm chấp công lao của mình, cho đó là cứu cánh của đạo Phật. Vua không hiểu ý sâu xa của Tổ, dù đang là vị vua trên các vua khác, được hưởng phước cao sang tột đỉnh cũng vẫn bị quy luật vô thường chi phối, rốt cuộc vẫn trôi lăn trong vòng sinh tử khổ đau. Chỗ Tổ muốn chỉ cho nhà vua là dừng lặng các vọng niệm phải-quấy, tốt-xấu, đúng-sai, ta-người để sống lại với tâm sáng suốt của mình, hay còn gọi là Phật tánh.
Người đến với đạo Phật có hai hình thức: tại gia và xuất gia. Song, xuất gia là số ít, người tại gia là số nhiều, là nền tảng của đời sống gia đình và xã hội. Người xuất gia nguyện suốt đời đi theo lý tưởng giác ngộ, giải thoát, trên cầu thành Phật, dưới cứu độ chúng sinh. Vì vậy, người xuất gia nêu cao tinh thần dấn thân phục vụ vì Tam Bảo. Người tại gia ngoài việc lo cho gia đình và xã hội, thấu hiểu lý nhân quả nghiệp báo còn cần tự giác phát tâm hộ trì Tam Bảo, trợ giúp vật chất để người xuất gia (chư Tăng Ni) có điều kiện, thời gian tu học và hành trì.
Việc làm của vua Lương Võ Đế quả là một điều khó làm bởi Ngài là vua một nước, dù bận trăm công ngàn việc nhưng Ngài vẫn tranh thủ thời gian làm những việc khó làm. Lương Võ Đế là ông vua cư sĩ trên đời này làm được như vậy là hiếm có, ông đã giúp dân chúng an cư lạc nghiệp, sống trên tinh thần đoàn kết-giúp đỡ lẫn nhau, do đó trong nước rất ít tệ nạn xã hội.
Công đức là do tu tâm mà được, tự tu tánh là công, tự tu thân là đức, đức phải do nơi tự tánh mà thấy, không phải do bố thí cúng dường mà được. Do đó, công đức là do tu tâm rõ bản tánh rỗng lặng nhưng hằng thấy biết. Những việc làm của vua Lương Võ Đế là do nhân quả phước báu của Trời-Người. Có phước thì được giàu sang, có nhiều của cải, quyền thế, hưởng thụ vật chất đầy đủ. Song, hưởng thụ phước báu mà không biết kiệm phước thì cũng có ngày hết, phải chịu khổ đau trong vòng luân hồi sinh tử.
Do đó, có phước mà thiếu công đức dễ dẫn đến phiền não, chấp trước, thấy mình là người bố thí, kẻ thọ nhận phải biết ơn mình rồi sanh tâm cống cao ngã mạn; nhiều khi thấy người thọ nhận vô ơn, bạc nghĩa, không biết nhớ ơn sẽ sanh tâm coi thường, khinh rẽ họ thì không những bị mất phước mà còn phải mang lấy tội quả xấu.
Chính vì vậy, là người Phật tử chân chính chúng ta phải biết quân bình phước huệ song tu, một mặt tích lũy phước báu, một mặt buông xả phiền não, nhờ có phước ta dễ có điều kiện tu học, một mặt tích cực tu tâm để chuyển hóa khổ đau khi đối diện nghịch cảnh cuộc đời. Trái lại, người đã sống với tâm chân thật dù có bố thí cúng dường, làm nhiều phước thiện cũng đều là công đức cả vì họ làm trong vô tâm, làm mà không chấp trước việc làm của mình.
Vô tâm là tâm rỗng lặng sáng suốt, không bị dính mắc, chấp thủ vào việc mình làm, chỉ tùy thời, tùy duyên làm lợi ích mà không thấy mình là người bố thí, không thấy người thọ nhận và vật thí, do đó được an nhiên, tự tại trước mọi hoàn cảnh trái ngang. Nếu mọi người biết làm phước và tu tâm thì thế gian này sẽ là thiên đường của hạnh phúc.
Phước Huệ song tu vẫn là điểm then chốt cho người học Phật, nhưng chúng ta đừng bao giờ xem nhẹ việc làm phước, vì có phước và biết cách sắp xếp thời gian để huân tu trí tuệ là tiến trình cho con đường hành Bồ tát đạo đến khi thành Phật viên mãn mới thôi.
Nhờ bố thí nhiều đời nên chúng ta gặt hái được nhiều phước báo, do đó chúng ta tín tâm Tam Bảo, tin sâu nhân quả mà cố gắng duy trì phát tâm học chánh pháp, tu hạnh buông xả nên từng bước chuyển hoá được phiền não tham-sân-si. Mười phương chư Phật thành tựu đạo giác ngộ-giải thoát cũng từ hạnh bố thí làm nền tảng.
Như chúng ta đã biết, bố thí vẫn là điều kiện quan trọng thiết yếu của người Phật tử, nhờ vậy ngày càng phát triển tâm từ bi rộng lớn. Chính vì vậy mà người cho được nhiều hơn người nhận, bởi người nhận chỉ được chút vật chất nhưng người cho được cả một niềm vui tinh thần vì giúp được người khác vơi bớt nỗi khổ niềm đau.
Công đức có khả năng giúp chúng ta tiêu trừ nghiệp chướng, chuyển hoá phiền não tham-sân-si. Công đức là công phu tu tập bên trong nhờ hành trì theo lời Phật dạy, luôn luôn giữ gìn Giới luật, niệm Phật, Bồ tát, tu tập thiền định, nhờ vậy phát sinh trí tuệ thấy biết đúng như thật để buông xả vọng niệm. Những việc làm này đem lại lợi ích cho nhiều người như vậy thì tất nhiên sẽ giúp chúng ta có thật nhiều phước đức.
Tuy nhiên, nếu chúng ta giúp người mà mình không biết tu tâm dưỡng tính thì ta sẽ dính mắc vào việc làm của mình nên thấy có ta giúp, người là đối tượng được giúp và vật thí. Nếu như bố thí, cúng dường mà tâm không mong cầu gì cả, cúng chùa để chùa có thêm phương tiện sinh hoạt ích lợi cho mọi người, giúp người để người qua cơn khó khăn túng thiếu mà không đắn đo, không suy nghĩ, không tính toán gì thêm nữa thì chúng ta sẽ chuyển hoá được phiền não tham-sân-si.
Tâm cầu danh của chúng ta sẽ giảm bớt, tâm chấp ngã cũng nhẹ hơn trước. Chúng ta không làm những việc ác mà hay làm tất cả việc thiện nhưng không chấp chặt vào những việc làm đó thì tâm ý của ta sẽ được thanh tịnh. Đó là ta biết tu tâm dưỡng tính, vừa biết làm phước, vừa biết tu tâm. Khi làm việc thiện nếu ta chấp chặt vào đó thì tâm của mình sẽ bực dọc, bất an, khó chịu khi bị người khác phê bình, chỉ trích.
Công đức là do tu tâm, rõ được bản tâm sáng suốt nơi chính mình, từ đó mỗi lời nói, hành động, suy nghĩ đều hợp với đạo lý làm người, làm điều gì cũng không sai trái, không bị dính mắc hay trói buộc. Phước đức là diệu dụng của công đức, là kết quả của hành vi làm các việc thiện lành như giúp người hoạn nạn, chia sẻ vật chất-tinh thần giúp người bớt khốn khổ, tạo nên những nhân tốt.
Người làm việc phước đức nhiều được hưởng quả phú quý, giàu sang, của tiền dư dả ở thế gian hay được sanh vào cõi trời. Theo kinh Phật dạy, người dù có phước tột đỉnh được sinh vào các cõi trời hay cõi người để hưởng quả tốt, nhưng khi hết phước vẫn bị định luật vô thường chi phối, vẫn phải trôi lăn trong vòng sanh tử luân hồi, chỉ có nguời công đức đầy đủ mới không bị khổ đau chi phối, do đó được an nhiên tự tại trong mọi hoàn cảnh.
Nhân quả nghiệp báo sẽ không từ bỏ một ai khi hội đủ nhân duyên, làm lành được hưởng phước, làm ác chịu quả khổ là định luật rất công bằng không có sự sai biệt. Vì vậy, người Phật tử phải biết sáng suốt chọn lựa, đừng để đến lúc gặt quả xấu rồi than thân trách phận, đổ thừa tại này, tại nọ để rồi chuốt lấy khổ đau.
Bậc Thánh nhân khi gặp quả xấu do có trí tuệ sáng suốt thấy rõ được nhân quả nghiệp báo nên không buồn đau, sầu khổ. Người khôn ngoan phải biết chọn lựa con đường tốt đẹp dẫn đến an vui hạnh phúc, biết làm phước để tích lũy, nếu không biết tích lũy thêm phước đức thì đến khi hết phước sẽ gặp tai họa.
Công đức là sự tu tâm, sửa đổi, chuyển hóa những tâm niệm tà vạy, tham lam, ích kỷ, hiểm độc, ganh ghét. Người tu hành chân chính dù có bị đói khát, thiếu thốn vẫn không khổ tâm vì biết nhân quả nghiệp xấu chiêu cảm. Cái hay của người tu hành là ở chỗ đó, và đó cũng là chỗ khác nhau của công đức và phước đức.
Giúp đỡ, sẻ chia giúp ta thiết lập tình thương, trên cơ sở đó tạo ra mối quan hệ tương quan, tương duyên trong xã hội cộng đồng nhằm phát triển tốt đẹp về mọi mặt bền vững, lâu dài. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta phải làm như thế nào để tạo ra phước báo nhằm hoàn thiện chính mình và đóng góp lợi ích cho nhân loại.
Bố thí là nền tảng cơ bản để kết nối yêu thương, sẻ chia cuộc sống nhằm làm vơi bớt nỗi đau bât hạnh của tha nhân, là hạnh lành đầu tiên mà đức Phật lúc nào cũng nhắc đến. Bản chất của con người là luôn muốn có, muốn thêm, muốn nữa, không bao giờ thấy đủ, không bao giờ thỏa mãn với những gì mình đang có. Muốn được sống an lạc, hạnh phúc ta hãy nên bằng lòng với những gì mình đang có và cố gắng duy trì, gìn giữ và phát triển. Mong cầu nhiều, mơ ước nhiều mà không được như ý chỉ thêm nhiều phiền muộn, đau khổ mà thôi.
Nói tóm lại, người Phật Tử chân chính phải nên biết bố thí là nấc thang đầu tiên để san sẻ nỗi khổ niềm đau cho những người bất hạnh. Nó là niềm an ủi lớn lao trong cuộc sống, là nhịp cầu kết nối yêu thương bằng tình người trong cuộc sống.
Tiến xa hơn một bước nữa, bố thí là biết buông xả sự lầm chấp thân tâm này làm ngã, từ đó có “ngã sở” là “của ta” nên bị trói buộc bởi phiền não tham-sân-si. Bố thí trọn vẹn là khi mình giúp ai mà không thấy có người giúp, đối tượng được giúp và vật thí giúp. Bố thí như vậy có năng lực giúp ta vượt qua bể khổ sông mê, chóng đến bờ giác ngộ-giải thoát.
Chúng ta hãy nên xây dựng và phát triển, gìn giữ chùa; đóng góp, tham gia các hoạt động xã hội; giúp cho mọi người có điều kiện để học hỏi, tu tập nhằm chuyển hoá nỗi khổ niềm đau thanh an vui hạnh phúc và đem lại lợi lạc cho tất cả chúng sinh.

Thưa tiến sĩ Adler, 

Sự khác nhau giữa tình yêu và dâm dục là gì? Tôi nghĩ rằng điều phân biệt nằm ở chỗ nhấn mạnh đến sự cho đi hay lấy lại. Nhưng phải chăng không có một yếu tố quan trọng của thèm muốn và khoái lạc trong việc thỏa mãn dục vọng trong hầu hết các quan hệ mà chúng ta thường tính đến trong “tình yêu”? Điều này hẳn là đúng trong quan hệ tình yêu giữa người nam và người nữ. Sự giao cấu có phải là biểu hiện của “tình yêu” hay của “dâm dục” hay của cả hai?
D.J.
D.J. thân mến,

Khi Thánh Augustine được hỏi, “Thời gian là gì?” ngài trả lời: “Nếu không ai hỏi tôi, thì tôi biết; còn nếu tôi muốn giải thích điều đó cho ai hỏi tôi, thì tôi không biết.” Định nghĩa tình yêu cũng khó khăn như vậy. Freud, đến gần cuối cuộc đời trường thọ của mình cũng thú nhận: “Cho đến giờ này tôi vẫn chưa đủ dũng cảm để đưa ra những tuyên bố rõ ràng về yếu tính của tình yêu và tôi nghĩ rằng hiểu biết của chúng ta không đủ để làm việc đó… Chúng ta thực sự biết rất ít về tình yêu.” Tuy nhiên, chúng ta có thể tìm được chút ít sáng suốt bằng cách xem xét những quan điểm của các triết gia, các nhà thơ và các bác sĩ tâm thần, tất cả đều có đóng góp vào sự hiểu biết, nếu không phải là giải pháp, của vấn đề đó – tình yêu là gì?

Khi một người nam và một người nữ yêu nhau, họ khao khát nhau, nhưng không như cách họ thèm ăn hay khát nước. Bản năng giới tính của con người diễn ra theo hai hướng: có dục tính phục vụ cho tình yêu, và có dục tính tách rời khỏi tình yêu (tức là dâm dục). Thèm muốn một con người như thèm muốn thức ăn hay thức uống là dâm dục – một sự thèm muốn hoàn toàn ích kỷ.

Nhưng tình yêu nhục thể bao hàm sự hòa quyện của tâm hồn và thể xác. Nó cố hiện thực hóa trong một sự hợp nhất vốn đòi hỏi hiểu biết, cảm thông, tình thương và hy sinh.

Chúng ta có thể không bao giờ biết rõ cái nào đến trước – “thích” hay “thèm muốn”. Tình yêu bắt nguồn từ dục vọng, hay dục vọng bắt nguồn từ tình yêu? Aristotle nghĩ rằng lòng nhân ái đến trước; Freud cho rằng tình yêu dục tính phát sinh từ sự thèm muốn. Trong khi vấn đề có vẻ như không thể giải quyết được, nó dường như cho thấy sự khác biệt trên thực tế rằng tình yêu diễn ra theo hướng nào. Nếu dục tính đến trước, sự hợp nhất có thể chỉ tồn tại trong thời gian ngắn; nếu tình yêu đến trước, một sự hợp nhất vững bền, thành công hơn có vẻ như sẽ xảy ra bởi vì, giữa bao nhiêu thứ khác, một sự lựa chọn thông minh hơn đã được thực hiện.

Những quan sát của các nhà thơ và kinh nghiệm lâm sàng của các nhà phân tâm học và các bác sĩ tâm thần dường như xác nhận quan điểm này. “Tình yêu và dục tính thường xảy ra đồng thời,” bác sĩ tâm thần nổi tiếng Theodore Reik(1) viết, nhưng “sự trùng hợp không phải là bằng chứng của sự đồng nhất… Không có nghi ngờ gì giữa các nhà phân tâm học rằng có thứ dục tính không tình yêu, dục tính ‘sòng phẳng’. [Nhưng] họ phủ nhận mạnh mẽ rằng có thể có tình yêu không dục tính.” Một bác sĩ tâm thần khác, Erich Fromm(2), tác giả của The Art of Loving, cảnh cáo chúng ta: “Bởi vì tình yêu nhục dục là hình thức dối trá nhất của tình yêu mà nó có… nên việc phân biệt sự khao khát tình dục tự nó (per se) với tình yêu trở nên rất quan trọng. Nếu tình yêu nhục dục cũng không phải là tình yêu anh em, sự hợp nhất chắc chắn chỉ là trác táng, phù du.”

Các nhà thơ lớn ủng hộ những quan điểm này. Thật vậy, bị quyến rũ bởi chủ đề này, từ lâu họ đã thấy trước những khám phá của các nhà tâm lý học. Nếu họ không tìm ra được một định nghĩa chính xác, ít nhất họ cũng nhận thấy một số thuộc tính của tình yêu con người.

Tình yêu bao hàm đam mê, hay như Milton diễn đạt trong Paradise Lost:

… Với Rượu mới làm hai người chếnh choáng
Họ quay cuồng đùa vui, và tưởng như mình cảm thấy
Thần thánh bên trong họ mọc thành đôi cánh
Với nó họ coi khinh Mặt Đất

Tình yêu bao hàm sự trung thành, hay như Shakespeare tuyên bố:

Tình yêu không phải là tình yêu
Thay đổi khi nó tìm thấy sự thay đổi

Trên hết, tình yêu bao hàm sự hợp nhất, một hợp nhất của thân xác và tâm hồn, hay như John Donne(3) diễn tả:

Bí mật của tình yêu trong những tâm hồn lớn lên
Nhưng dù vậy thân xác là cuốn sách của nó

Theo một thần thoại cổ Hy Lạp, con người nguyên thủy là một thực thể ghép, nửa đàn ông và nửa đàn bà. Một vị thần đồng bóng tách nó ra làm hai, hậu quả là người đàn ông và người đàn bà bị phân đôi từ đó tìm cách trở về tái hợp nhất với “nửa kia”. Các nhà tâm lý học hiện đại nêu lên cùng vấn đề theo một cách khác khi họ nói rằng “nhu cầu sâu xa nhất của con người là nhu cầu vượt qua tình trạng riêng rẽ, rời khỏi nhà tù của sự cô độc của hắn.”

(1) Theodore Reik (1888 – 1969): nhà Phân tâm học Mỹ, sinh tại áo.
(2) Erich Fromm (1900 – 1980): nhà Phân tâm học Mỹ, sinh tại Đức. Ông nhấn mạnh sự liên kết của những cá tính của con người và những khuôn mẫu kinh tế – xã hội. Các tác phẩm của ông có Escape from Freedom (“Trốn thoát khỏi tự do”; 1941) và The Sane Society (“Xã hội lành mạnh”; 1955).
(3) John Donne (1572 – 1631): nhà thơ, nhà văn, mục sư người Anh.

Theo "Những Tư Tưởng Lớn Từ Những Tác Phẩm Vĩ Đại"


Ái kiết sử

Hỏi: Kính thưa Thầy! Người muốn đi tu mà duyên nghiệp cứ buộc ràng, không thể bỏ đi được, là do duyên gì, nhân gì, xin Thầy chỉ dạy cho con hiểu?

Đáp: Người muốn đi tu mà duyên nghiệp cứ buộc ràng, không thể bỏ đi được, có ba nguyên nhân chính:

1- Nợ nhân quả quá nặng.
2- Thất kiết sử quá dầy.
3- Ngũ triền cái ngăn che.

Đó là ba nguyên nhân khiến cho người muốn đi tu theo đạo Phật rất khó vượt qua, đó cũng là ba mạng lưới bao vây kiếp con người, mãi mãi trôi lăn trong biển sanh tử, luân hồi và nhiều khổ đau trong nhiều đời nhiều kiếp.

Chỉ có người trí hiểu biết và còn phải có đủ nghị lực, can đảm, gan dạ, mới vượt ra khỏi, mới biết được những sợi dây xích kiết sử tuy vô hình nhưng nó chắc hơn những sợi dây lòi tói.

Con có duyên với Phật pháp, nhưng tánh con yếu đuối không thể vượt qua bức tường nhân quả, vì thế con nên tu trong chiếc áo của người cư sĩ:

1- Tu tập xả ly năm triền cái bằng đức nhẫn nhục, tùy thuận và bằng lòng.

2- Luôn luôn trau dồi thân tâm trong mọi hành động thân, khẩu, ý bằng “Tứ Vô Lượng Tâm”: Đức hạnh Từ, Bi, Hỷ, Xả.

3- Dứt bỏ 10 điều ác và cố tăng trưởng 10 điều lành.

4- Cần phải thông hiểu và nghiên cứu tường tận đạo đức nhân bản nhân quả không làm khổ mình, khổ người.

5- Hằng ngày phải nhớ dùng pháp hướng tâm như lý tác ý: “Tâm như đất, tham, sân, si phải đoạn diệt sạch”

Người cư sĩ cần tu năm pháp môn này, thân tâm được an vui và hạnh phúc trong cuộc sống, chẳng có đối tượng, hoàn cảnh, sự việc nào làm dao động tâm được, đó chính là nguồn giải thoát của đạo Phật trong mọi người cư sĩ, con hãy cố gắng lên! Cố gắng lên tu tập con ạ!

Khi tu tập xả tâm như vậy, tức là con tu tập đạo đức làm người không làm khổ mình, khổ người, không làm khổ mình, khổ người là con đã trả vay nghiệp nhân quả của tiền kiếp, trả vay nhân quả của tiền kiếp tức là con bứt bỏ thất kiết sử, khi bứt bỏ thất kiết sử thì con không còn phóng dật, tâm con không còn phóng dật tức là tâm định trong thân con, tâm định trong thân thì tâm thường thanh thản, an lạc và vô sự, tâm thường thanh thản an lạc và vô sự thì tâm luôn luôn biết hơi thở ra vô một cách tự nhiên không bị ức chế hay bị gom tâm tập trung vào một chỗ.

Khi tâm định trên thân như vậy thì lúc bây giờ là lúc tu thiền định để nhập các định sâu hơn và khó hơn.

Còn nếu con bứt bỏ ngang mà đi tu thì dù con có tu đúng chánh pháp của đạo Phật cũng trở thành tà pháp, tại sao vậy? Tại vì sự bứt ngang bỏ đi, đó là ức chế tâm, chứ không phải xả tâm và như vậy con sẽ bị rơi vào tà thiền, tà định chừng đó con sẽ sống trong Tà kiến của ngoại đạo rất là khó gở.


Thất Kiết Sử là bảy pháp trói buộc con người, khiến cho đau khổ. Bảy pháp đó gồm có:

1/. Ai kiết sử: lòng thương yêu, ưa mến, thích thú của mình đã trói buộc lại mình, làm khổ mình.

2/. Sân kiết sử: lòng sân hận, buồn tức, giận dữ của mình đã trói buộc lại mình, làm hổ mình.

3/. Kiến kiết sử: sự cố chấp cho sự hiểu biết của mình là đúng, còn tất cả sự hiểu biết khác cho là sai. Thế là nó đã trói buộc mình, làm khổ mình, và ai nói gì mình cũng chẳng nghe.

4/. Nghi kiết sử: lòng nghi ngờ tự trói buộc mình, chẳng bao giờ chịu rời bỏ khiến cho mình mất hết nghị lực.

5/. Mạn kiết sử: lòng ngã mạn, kiêu căng, tự đắc, tự trói buộc mình, lúc nào cũng tự xem mình là trên hết. Chính lòng hiu hiu tự đắc nầy đã làm khổ mình mà không dứt bỏ.

6/. Hữu tham kiết sử: những vật mà mình buông bỏ chẳng được, cứ bị nó trói buộc, làm khổ mình hoài.

7/. Vô minh kiết sử: điều mình không hiểu mà cứ nghĩ rằng mình đã hiểu.

Thí dụ: không hiểu Tứ Thánh Định mà cứ cho là mình hiểu nên xếp nó vào loại Tiểu Thừa thiền, phàm phu thiền, ngoại đạo thiền. Không ngờ thiền nầy là Thánh Trú, là Phạm Trú, Như Lai Trú, vv..


Ngũ Cái hay Ngũ Triền Cái là năm cái màn che đậy:

1/. Tham triền cái: Tham là lòng ham muốn của mình che đậy, làm cho mình không thấy vật ham muốn đó sẽ làm khổ mình.

Thí dụ thấy một chiếc xe Dream (xe mô tô hiện đại của Nhật) khởi tâm ham muốn, tìm mọi cách làm để mua sắm nó. Đó là cái khổ thứ nhất.
Đến khi sắm được xe, chạy xảy ra tai nạn gảy chân tay. Đó là cái khổ thứ hai.

Thế mà khi lòng ham muốn nổi lên, người ta không thấy cái khổ. Cho nên gọi đó là triền cái (ngăn che không thấy khổ).

2/. Sân triền cái là lòng tức giận, ngăn che không thấy khổ. Thí dụ khi nghe người khác mạ nhục, mình tức giận rút cây, hoặc dao rựa ra đánh, hoặc chém người cho hã giận. Khi hết giận thì sự khổ phải ôm lấy, như nằm nhà thương, hoặc ở tù. Lòng sân che đậy không thấy sự khổ sẽ đến với mình đầy dẫy trong cuộc sống hàng ngày nên gọi là sân triền cái.

3/. Si triền cái là cái màn che trí tuệ làm cho nó không hiểu biết chánh pháp, tà pháp, thiện ác. Ví dụ, người ta nói thiền xuất hồn là của đạo Phật, chúng ta liền tin theo, mà không cần suy nghĩ, đó là si triền cái.

4/. Mạn triền cái là cái tự kiêu, tự đại che ngăn làm cho mình không thấy cái chỗ dở của mình. Thí dụ như mình ăn phi thời, phá giới luật, có vợ con, mà vẫn xem mình là một thầy tu, hiu hiu tự đắc, lên pháp đường thuyết giảng mà không biết xấu hỗ, thì đó là bị mạn triền cái ngăn che.


5/. Nghi triền cái là cái lòng nghi ngờ ngăn che không thấy sự thật. Ví dụ, người ta nói một số pháp môn tu tập hiện hành là mê tín, là không đúng theo lời dạy của Phật, mình không tin, nghi ngờ lời nói đó sai (vì các pháp môn nầy do các Thầy, Tổ truyền lại). Chỉ tin vào Thầy, Tổ mà không chịu tìm hiểu cho rõ ràng, đó là bị nghi triền cái che ngăn.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc


Kính thưa quý phật tử!

Hôm nay chúng tôi viết bức tâm thư này gửi đến quý vị, là vì muốn cho quý vị được an tâm khi có ông, bà, cha, mẹ, cô, bác, dì, chú, cậu, mợ, vợ, chồng, anh, chị, em, con và cháu đang tu tập tại Tu Viện Chơn Như.

Kính thưa quý vị! Đi tu không phải là một việc làm khổ mình như các tôn giáo khác từng dạy như: khổ hạnh, ép xác, phải làm cho cơ thể kiệt quệ, tàn tạ; đi tu cũng không phải vào chùa ngồi tụng kinh, niệm Phật ê a theo tiếng chuông, tiếng mõ trong một ngày đêm bốn thời; đi tu cũng không phải ngồi thiền, niệm thần chú, bắt ấn, vẽ bùa, sái đậu thành binh, kêu ma, điều khiển âm binh, âm tướng; đi tu cũng không phải như tập luyện võ công, khí công, khinh công, yoga, nhân điện, xuất hồn, vô vi, v.v… Chính đi tu là tập luyện cách thức ngồi chơi vô sự, vì con người ít ai ngồi chơi vô sự được. Ngồi chơi vô sự nên thân tâm an nhàn, thanh thản, không bận rộn việc gì cả.

Tuy là ngồi chơi nhưng lúc nào cũng phải quan sát lại tâm mình, xem tâm mình còn có buồn khổ, phiền não, lo toan, sợ hãi, giận hờn, thương ghét, lo lắng, tham tiền, tham bạc, tham danh, tham lợi, tham ăn, tham ngủ, tham bài bạc, tham rượu chè, tham đi la cà từ chỗ này đến chỗ khác, tham mặc quần này áo kia, tham trang điểm làm đẹp, làm dáng, tham xe cộ, tham nhà cửa, ruộng vườn, đất đai, v.v… khi tâm còn khởi những niệm tham như vậy, thì mau mau tác ý câu: “TRÊN THẾ GIAN NÀY CÁC PHÁP ĐỀU VÔ THƯỜNG, KHÔNG CÓ PHÁP NÀO LÀ TA, LÀ CỦA TA; TẤT CẢ CÁC PHÁP ĐÓ ĐỀU LÀ PHÁP ÁC, HÃY BUÔNG XUỐNG, BUÔNG XUỐNG CHO THẬT SẠCH ĐỂ CHO TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ”.

Bao giờ tâm trở lại bất động thì mới thôi tác ý, còn có niệm thì còn tác ý, hết niệm thì ngồi im lặng chơi như người vô sự. Chính đi tu chỉ có làm một việc đó mà thôi. Cho nên, đời sống và tâm hồn rất thoải mái, dễ chịu, không có làm những việc gì cực khổ, nhọc nhằn, mệt mỏi gì cả. Chỉ suốt ngày đêm ngồi chơi, nghe lại tâm mình trong trạng thái IM LẶNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ. Thật là tuyệt vời, ai đã sống được như vậy thì thế gian này không còn đau khổ nữa; ai đã sống được như vậy thì thế gian này là Thiên Đàng.

Đi tu không có nghĩa là làm cho mình trở thành những người vong ơn, bội nghĩa, quên ơn sinh thành, dưỡng dục của mẹ cha. Chính đi tu không những đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục mà còn đền đáp công ơn của tổ tiên, ông bà, cha mẹ, làm cho cả dòng họ chấm dứt đau khổ.

Kính thưa quý vị, không lẽ một người đi tu mà cả dòng họ chấm dứt khổ đau được hay sao?

Đúng vậy, một người đi tu là làm chấm dứt khổ đau cho cả dòng họ của người đi tu. Có nghĩa là người đi tu theo con đường của Phật giáo là phải tuyệt đường dâm dục; không còn dâm dục, và như vậy thì không còn sinh con đẻ cháu nữa thì làm sao còn đau khổ. Có phải vậy không thưa quý vị?

Chính còn sinh con đẻ cháu mới còn khổ đau. Quý vị cứ suy ngẫm có đúng không? Nếu đi tu như vậy có chấm dứt một dòng họ đau khổ không? Điều đó chắc chắn là chấm dứt khổ đau cả một dòng họ, không còn ai dám phủ nhận lời dạy này được. Một sự giải thoát khổ đau thật sự như vậy quý vị ạ! Thế mà quý vị đành lòng cản trở, không cho những người thân của mình đi tu sao? Hay là quý vị muốn để cho những người thân của mình phải chịu khổ đau muôn đời muôn kiếp.

Có người lại hỏi: Như vậy dòng họ của người đi tu ấy đâu còn? Kính thưa quý vị! Còn chứ sao lại không? Mà còn đông hơn gấp trăm vạn lần. Quý vị không tin thì nên xem xét lại đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài chỉ có một đứa con trai duy nhất, tên là La Hầu La. Sau khi tu chứng đạo, Ngài trở về thăm vua cha và vợ con, lúc bấy giờ La Hầu La còn rất bé, chạy theo Phật và xin gia tài; đức Phật trao cho một bình bát và hướng dẫn cho La Hầu La tu tập. Cuối cùng, La Hầu La chứng thánh quả A La Hán và nhập diệt trước Phật. Như vậy, quý vị nghĩ rằng đức Phật chấm dứt dòng họ Thích sao? Không đâu quý vị ạ! Bây giờ quý vị nhìn xem dòng họ Thích ở khắp nơi trên thế giới, không có một dòng họ nào trên thế gian này đông như vậy được. Có đúng như vậy không thưa quý vị?

Kính thưa quý vị! Đi tu không có nghĩa là làm cho mình trở thành những thầy phù thủy, những đồng, cốt, bóng, chàng, thầy pháp, thầy bùa, thầy ngải, thầy cúng, thầy địa lý, thầy chiêm tinh, thầy thuốc, các nhà ảo thuật, các ông Lạt Ma, v.v… Nhưng đi tu cũng không phải để thành Phật, thành A La Hán, thành Tiên, thành Thánh, thành Thần hay thành bất cứ một thứ gì cả.

Vậy đi tu để làm gì? – Để làm chủ bốn sự đau khổ: SINH, GIÀ, BỆNH, CHẾT và để CHẤM DỨT TÁI SINH LUÂN HỒI. Cho nên, mục đích đi tu của đạo Phật là không làm khổ mình, khổ người và khổ cả hai. Nhất là tâm luôn luôn bất động trước các ác pháp và các cảm thọ bệnh tật khổ đau, dù cho bệnh tật khổ đau có đau nhức đến đâu họ vẫn thản nhiên. Bởi vì họ biết rất rõ: Các pháp đều vô thường, không có pháp nào là ta, là của ta, nên nó đến rồi nó đi rất tự nhiên; đó là theo quy luật Vô Thường của Nhân Quả. Cho nên, không còn có một lộ trình Nhân Quả nào khác được nữa.

Ở đây, còn có một lộ trình duy nhất không theo quy luật Nhân Quả, đó là TÂM BẤT ĐỘNG, THANH THẢN, AN LẠC và VÔ SỰ. Người tu sĩ của Tu Viện Chơn Như hằng ngày chọn lấy con đường này, chọn nếp sống với tâm này. Vì thế, người tu sĩ Chơn Như không còn đau khổ nữa, giải thoát hoàn toàn. Quý vị là ông bà, cha mẹ, cô bác, dì cậu, chú thím, anh chị em hay con cháu, hãy an tâm vì có những người thân của mình tu hành như vậy. Đó là một điều rất mừng. Mừng cho những người thân của mình đã vượt thoát mọi khổ đau của kiếp làm người, và rất hãnh diện vì có những người thân sống trong thế gian rất bình thường mà lại phi thường.

Sau cùng, chúng tôi xin gởi lời thăm và chúc quý vị được dồi dào sức khỏe và an khương.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Hỏi: Kính bạch Thầy! Câu tác ý: “Tôi đi kinh hành tôi biết tôi đi kinh hành”. Con hỏi: Ðã phá bản ngã thì làm gì có tôi và của tôi. Vậy thay bằng chữ thân đi kinh hành có khác nhau không?

Ðáp: Dù có thay danh từ nào thì nghĩa của nó cũng chỉ là “tôi”. Người ta đã chịu ảnh hưởng của Thiền Tông và kinh sách phát triển quá sâu cho là con người tu theo đạo Phật thì phải không có ngã, không có cái ta, không có cái của ta thì người ấy mới giải thoát, cho nên thường tránh những danh từ xưng hô cái tôi, cái ta mà xưng hô là trò, là con, v.v... là có ý dẹp ngã, đó là một việc làm sai. Theo đạo Phật sự cung kính trước mặt cũng như sau lưng thì đó là đạo đức chân thật lợi ích cho mình cho người, còn trước mặt xưng hô là trò, là con mà sau lưng thì khác thì cái đó là giả dối chứ không phải diệt ngã xả tâm.

Chúng tôi hiểu theo đức Phật dạy: “Vô thường, khổ, vô ngã”, đây là tam pháp ấn để xác định một sự thật về thế giới hiện tượng này, do chúng ta không hiểu ý này nên lo đập phá cái ngã của mình. Bởi vì người ta thường lầm chấp cho thế giới này là thường hằng, không khổ, là hạnh phúc, vì sự lầm chấp dính mắc này nên đức Phật dạy cho chúng ta hiểu để không dính mắc, chứ đức Phật không bảo chúng ta tu hành để trở thành cây đá (vô ngã, không ta, không cái của ta).

Ðức Phật dạy: “diệt ngã” là xả lòng ham muốn của mình, chứ không phải diệt cái ngã. Xả lòng ham muốn của mình là Diệt đế. Diệt đế là một chân lý trong bốn chân lý của đạo Phật, chứ không phải diệt ngã như người ta hiểu.

Vô thường, khổ thì ai cũng rõ, nhưng vô ngã thì người hiểu như thế này, kẻ hiểu như thế kia. Có người lại hiểu rằng: Vô ngã là Niết bàn, hiểu như vậy có nghĩa là trong Niết bàn không có ngã. Vậy không có ngã thì ai là người biết Niết bàn? Không người biết Niết bàn sao đức Phật lại biết mà dạy cho chúng ta Diệt đế.

Trong Diệt đế theo chúng tôi hiểu thì phải có ngã, vì Diệt đế là mục đích giải thoát của con người cho nên nó là một chân lý của loài người, không ai chối cãi được. Một sự giải thoát chân thật không ai phủ nhận được vì nó có người biết Niết bàn, có người tự biết Niết bàn trong tâm của mình, thì không thể nào là vô ngã được.

Ðức Phật dạy: “Pháp Ta không có thời gian, đến để mà thấy”. Vậy khi tu theo đạo Phật chúng ta thấy sự giải thoát rõ ràng, vậy không thể nào vô ngã được. Ngăn ác diệt ác sanh thiện tăng trưởng thiện pháp, vậy cái gì ngăn và diệt ác pháp, cái gì sanh thiện tăng trưởng thiện.

Thưa quý vị! Cái gì không giải thoát, cái gì giải thoát? Ác pháp là không giải thoát, thiện pháp là giải thoát. Như vậy người tu có cần gì diệt ngã? Cái ngã chỉ cần biết sống trong thiện pháp là Niết bàn rồi.

Ðạo Phật ra đời vốn vì con người khổ chứ không phải vì cái ngã của con người. Ðạo Phật biết lấy cái ngã ác của con người tu sửa trở lại để trở thành cái ngã thiện, nhờ thế con người sống toàn thiện, đó là Niết bàn, chứ không phải vô ngã là Niết bàn như kinh sách phát triển dạy.

Ðại Thừa và Thiền Ðông Ðộ đã lầm, nên đã ca ngợi những người vô niệm, vô trụ, vô chứng là tối thượng. Vô niệm, vô trụ, vô chứng là vô ngã, mà vô ngã là gốc cây cục đá rồi. Nếu còn có cái biết thì không thể nào gọi là vô ngã được.

Con người tu để vô ngã thì không bao giờ tu vô ngã được, cũng như con người bảo rằng không tài sản thì không thể nào có người không tài sản được. Vì thế, hữu ngã thiện pháp mới thật sự là vô ngã. Có của cải tài sản mà không dính mắc của cải tài sản mới thật sự là không tài sản, nhờ đó mà tâm được an vui, hạnh phúc. Cho nên, hữu ngã thiện mới không làm khổ mình, khổ người, gọi là giải thoát. Tu hành theo đạo Phật để hiểu biết rõ thiện và ác, lúc nào cũng ngăn và diệt ác pháp thì đó là mục đích của Phật giáo, diệt hết ác pháp là chứng đạo.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Trích Đường Về Xứ Phật - Tập 10
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Có nhiều yếu tố cho thấy con người sống trong thời hiện đại có nhiều điểm hơn so với những người đi trước.

Thứ nhất, con người của hiện đại đã có khả năng biến chế ra những vũ khí siêu hữu hiệu sử dụng trong chiến tranh với mãnh lực hủy diệt hàng ngàn nhân mạng từ khoảng cách xa hơn, nhanh hơn, và chính xác hơn.

Thứ hai, người hiện đại ăn, tiêu dùng, phung phí, gây hư hại, và tàn phá nhiều, làm hủy diệt và tàn phá môi sinh trường, tâm hồn, và lý trí của loài người.

Thứ ba, người hiện đại xuất sắc hơn người của thời đại trước trong việc tự ca tụng, đóng kịch, giả vờ, tự tưởng tượng, tự quên chính mình, và giỏi gây cảm tưởng cho mọi người nghĩ rằng mình cao siêu.

Thứ tư, người hiện đại xuất sắc hơn trong việc tránh né tránh nhiệm, và đổ thừa những sai lầm và yếu điểm của chính mình đối với mọi người.

So sánh với quá khứ, con người của thời hiện đại đã tự tạo ra nhiều sự kiện mới và siêu phức tạp hơn như: Tạo thêm nhiều hoàn cảnh trái nghịch và đầy mâu thuẫn hơn trong xã hội; gây ô nhiễm hóa chất kỹ nghệ khắp mọi nơi; giới trẻ tử vong trước cha mẹ nhiều hơn; nhiều tâm bệnh tật hơn; hành vi lừa gạt tinh vi, sâu sắc hơn; và nhiều vụ tử mạng bí mật hơn. Con người trong xã hội phải tốn kém tiền bạc nhiều hơn để điều trị bệnh tật. 

Con người hiện đại có nhiều tuyên bố phát minh và kiến thức vĩ đại sai lầm; đã gây ra nhiều hư hại trầm trọng vô phương cứu chữa hơn trong toàn cầu; nhiều triết lý và giải thuyết bị lỗi thời, và nhiều lập luận giải thích mông lung, phi lý, và vô dụng.

“Sự thành công và phát triển thật sự” là sự kiện thử thách và khó khăn nhất cho loài người từ muôn ngàn năm qua.  Con người của thời đại lúc nào cũng tự đinh ninh rằng chúng ta đã đạt được nhiều tiến triển xa hơn cha mẹ và những thế hệ trước đây.  Nhưng sự thật, thì con người hiện đại đang đi lùi, và càng tiếp tục suy tệ hơn.  Thêm nữa, con người hiện đại đã nổi danh và luôn luôn là thành phần chuyên tận dụng bất kể mọi phương cách xảo luận nào có thể suy ra, để dìm chết, hủy diệt, và che đậy bất cứ yếu tố nào lộ ra điều kiện có thể chứng minh rằng, người hiện đại thật sự yếu đuối và suy nhược hơn những thế hệ trước.

Dựa theo khuynh hướng thiên nhiên trên toàn vũ trụ, trong thâm tâm của tất cả các bậc làm cha mẹ đều luôn thật sự mong muốn cho những đứa con của mình tiến bộ và trội đạt hơn những gì họ đã có.  Điều này thật sự là nguồn vui, hãnh diện, và hạnh phúc trọn vẹn chân thật trong lòng của các bậc cha mẹ mọi nơi. Hạnh phúc khi thấy được các con của mình ít nhất có được như chính mình, hoặc thành công hơn cha mẹ chúng.

Tại sao đa số con người của thời hiện đại được chứng minh rằng đã thua kém “luân lý, nhân đức, và nhân cách” hơn cha mẹ và tổ tiên.  Những gì đã bị bỏ quên, sơ xuất, và sai lầm?  Có nghệ thuật, phương cách nào để bênh vực, che đậy những sai lầm, và yếu điểm này chăng? Hậu quả và sự kiện gì sẽ xảy ra kế tiếp cho cuộc sống hiện tại, và cho định mệnh của những thế hệ con cháu sau này? Có nhiều câu hỏi được đặt ra về con người trong đời sống hiện đại cần lời giải đáp.
Lê Trung Cang

Nghịch lý cuộc đời

Khi ước mơ không thành, ta thường có hai nơi để đổ tội: Trời và Người. Hai nơi khác nhau, xa nhau, nhưng cần như nhau khi ta muốn tránh tội, gỡ tội, và chạy tội.

Không thành công, ta bảo tại Trời. Lận đận lao đao, ta bảo tại Đời, tại Người. Không mấy khi ta nhận mình có một phần lỗi hay tìm xa hơn đến những nghịch lý mà ta phải sống, phải chấp nhận.

Nói thế xem ra không hợp lý chút nào. Tại sao phải sống những nghịch lý? Tại sao phải chấp nhận nghịch lý? Tại sao còn ở lại đó tiếp tục sống, tiếp tục chịu đựng?

Ai đã trải qua đời sống gia đình mới thấm thía những giây phút chán chường khi ‘cơm không lành canh không ngọt’. Sau những giây phút đương đầu chán ngấy ấy là hằng đêm hằng giờ nuối tiếc thở than: Giá mình đừng đâm đầu vào! Nếu biết trước ta đâu dại lập gia đình! Tại mình bị ép buôc… Trăm thứ giá, ngàn lần nếu, hằng vạn kiểu ‘tại’, ‘bị’. Nhưng rồi khổ vẫn khổ, chán vẫn chán. Nỗi niềm vẫn mình ta với ta. Không kể những bước chân siêu vẹo đi tìm lối cũ những đêm sương khi giật mình thấy ước mơ, lý tưởng một thời ngày xưa ôm ấp tan như bọt xà phòng trong những bực dọc, gò trói, ngột ngạt của đời vợ chồng vào những ngày ‘trái gió trở trời’. Rồi những thăng trầm lận đận, bất đắc ý như những giọt đắng ngấm dần sâu trong cổ họng làm rát rúa thêm nỗi buồn da diết.

Sở dĩ đến một lúc nào đó, ta thấy ngao ngán đời vợ chồng, không phải vì những đời khác vui hơn, sướng hơn, thoải mái hơn, nhưng vì ta quên nhận diện những nghịch lý có thể có trong mỗi cuộc đời.

Nghịch lý trong cuộc đời là chuyện hầu như ‘tất nhiên’ của kiếp người. Nó nhan nhản đó đây làm đỏ mắt người, làm oan hồn người, làm tơi tả đời người. Địa bàn hoạt động của nó là thế giới người, thế giới con người phải chung sống, ở cùng. Có những nghịch lý tưởng như không còn gì phi lý hơn và không ngôn từ nào lý luận được.
Sưu tầm

Hỏi: Kính thưa Thầy, bên Tịnh Độ và kinh sách Đại Thừa dạy; “Nếu người nào về nhà mới (ăn tân gia) lập bàn thờ và có con cháu đầy tháng thì mời các cư sĩ đến nhà tụng kinh cầu nguyện cho mát mẻ, làm như vậy có lợi ích gì không ? Kính thưa Thầy, xin Thầy dạy bảo cho chúng con được rõ.
Câu hỏi của Tâm Thanh

Đáp: Làm lễ “ăn tân gia” có nghĩa là khoe nhà mới với bạn bè thân hữu, làm lễ đầy tháng cho con tức là mừng đứa bé chào đời vừa tròn đầy một tháng (mẹ tròn con vuông).

Đối với Phật giáo Nguyên Thủy những việc làm này như tụng kinh cầu nguyện là một việc làm ngược lại với Phật giáo. Vì Phật giáo không thể cầu nguyện cho một sự khổ đau đang bắt đầu như vậy được.

Một ngôi nhà mới được kiến tạo xây dựng là một sự cực khổ bằng sức lao động trí tuệ và tay chân, mồ hôi và nước mắt của người gia chủ.

Một đứa bé chào đời vừa tròn một tháng là báo động cho biết một kiếp người phải chịu khổ đau bắt đầu từ đây.

Đôi mắt nhân quả của Phật giáo nhìn ngôi nhà mới và đứa bé đầy tháng là một sự khổ đau tiếp nối của một chuỗi dài nhân  quả tiếp theo.

Thọ Bát Quan Trai là một sự tu tập buông xả để học những đức hạnh của bậc Thánh Tăng.

Thọ Bát Quan Trai là để tu tập tâm ly dục ly ác pháp trong một ngày để được tâm hồn thanh thản, an lạc và vô sự.

Thọ Bát Quan Trai là một ngày để tu tập giúp cho tâm hồn trắng bạch như vỏ ốc, phóng khoáng như hư không.

Thọ Bát Quan Trai là một ngày tập sống như Phật, là một ngày hạnh phúc nhất trần gian.
Thọ Bát Quan trai không phải là một ngày mừng tân gia, mừng cháu bé đầy tháng mà là một ngày hết sức quan trọng cho một đời người.

Vì gieo một hạt giống Thọ Bát Quan Trai đúng nơi, đúng chỗ, đúng lúc thì ngày mai nó sẽ trổ hoa quả giải thoát mà chính người gieo phải được thọ hưởng, nếu hiểu sai đặt không đúng nơi, đúng chỗ, đúng lúc thì hoa giải thoát kia không bao giờ nở và người gieo chỉ uổng phí công lao mà thôi.

Tóm lại đừng lấy ngày Thọ Bát Quan Trai mà cầu phúc mừng ngày về nhà mới hoặc mừng cháu bé ra đời đầy tháng là sai. Ngày thọ Bát Quan Trai là ngày mà chính mọi người phải tự gieo hạt giống này chứ không ai gieo cho mình được. Các con nên nhớ lời Phật dạy: “Các con hãy tự thắp đuốc lên mà đi, Ta không thể đi thay cho các con được con đường ấy, Ta chỉ là một người chỉ đường mà thôi”.


Hỏi: Kính bạch Thầy, khi nhà có người chết, trong chùa quý Thầy dạy làm tuần thất, cho đến 7 thất, tức là 49 ngày, thường tụng kinh Địa Tạng Vương. Vậy thưa Thầy, có lợi ích gì cho người chết và những người còn sống trong gia đình không, thưa Thầy?

Đáp: Xưa, đức Phật đã không chấp nhận thế giới siêu hình, thì làm gì có linh hồn người chết mà cầu siêu làm tuần thất, tụng kinh Địa Tạng.

Kinh Địa Tạng Vương là một loại kinh mê tín của Đại thừa giáo, do các Tổ biên soạn ra dựa theo sự mê tín của những người dân còn lạc hậu, tin rằng người chết có linh hồn, nên kinh này đặt ra Bồ Tát Địa Tạng xuống Địa Ngục giải cứu những linh hồn tội lỗi.

Nếu ai tụng kinh này và cúng bái, tế lễ sẽ được ngài Địa Tạng cứu khổ thoát khỏi vòng lao lý ở Địa Ngục. Khi người mới chết linh hồn được quỷ sứ bắt về hành tội, do lúc ông bà ở trên dương thế làm điều ác đức, nên chết xuống Địa Ngục bị hành xử đủ mọi cực hình. Nên khi trong nhà có người chết phải đến nhờ quý thầy Đại thừa đến tụng kinh cầu siêu, mà thường là đem kinh Địa Tạng Vương ra tụng để cầu ngài cứu họ thoát cảnh Địa Ngục. Mỗi thất đều có cúng dâng lên hương hoa, trà quả cùng những thực phẩm bánh trái, cơm canh cúng chư Phật, và cầu ngài Địa Tạng xuống Địa Ngục giải cứu. Suốt trong 49 ngày được cúng bái như vậy thì vong linh người chết sẽ khỏi tội đi tái sanh.

Làm như kinh sách Đại thừa dạy như vậy là làm một điều phi đạo đức. Nhờ có làm tuần và tụng kinh Địa Tạng trong 49 ngày mà tiêu tội ư?

Tức là trong 49 ngày những người thân còn sống rước Thầy tụng kinh và mua lễ vật cúng bái...

Đây là hành động phi đạo đức.

Trong kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện dạy:

“Như có người nào sắp mạng chung, hàng thân quyến trong nhà nếu có một người vì người bịnh sắp chết đó mà niệm lớn tiếng danh hiệu của một đức Phật, thời người chết đó trừ năm tội lớn vô gián, các nghiệp báo khác điều tiêu sạch cả” (kinh Địa Tạng, trang 133). Lời như trong kinh này là một lời dạy phi đạo đức rất lớn, lừa đảo những người mê tín, lạc hậu.

Luật nhân quả là một đạo luật công bằng và công lý, làm sao lại có Bồ tát hoặc đức Phật nào dám giải cho kẻ làm ác? Kẻ làm điều cực ác nên mới đọa vào Địa Ngục vô gián, thế mà chỉ cần có một người niệm giúp thì cũng thoát ra khỏi Địa Ngục vô gián, như vậy có phải là lời lừa đảo người không? Thảo nào có nhiều người đem công đức tụng kinh này, hoặc làm đàn tràng thỉnh mời các sư về tụng niệm, để cầu cho người thân thương của mình thoát cảnh Địa Ngục và tất cả các nghiệp báo khác điều tiêu sạch.

Kinh sách Đại thừa dối gạt người bằng nhiều hình thức mê tín, khiến cho con người hao tài, tốn của rất nhiều về vấn đề cúng bái, tụng niệm, cầu an, cầu siêu, mà chẳng có ích lợi gì thiết thực cho người còn sống và người chết.

Đây là một đoạn kinh lừa đảo, dối gạt, làm hao tốn tiền của con người: “Có thể họ vẽ, cho đến dùng vàng, bạc, đồng, sắt đúc nắn hình tượng Địa Tạng Bồ Tát đốt hương cúng dường, chiêm lễ ngợi khen, thì chỗ người đó ở có 10 điều lợi ích. Những gì là mười?

- Một là đất cát tốt mầu.

- Hai là nhà cửa an ổn mãi mãi.

- Ba là người chết được sanh lên cõi trời.

- Bốn là người còn sống hưởng sự lợi ích.

- Năm là cầu chi cũng được toại ý cả.

- Sáu là không có tai họa về nước và lửa.

- Bảy là trừ sạch việc hư hao.

- Tám là dứt hẳn ác mộng.

- Chín là khi ra, lúc vào có thần hộ vệ.

- Mười là thường gặp bậc thánh nhân”.

(Kinh Địa Tạng, trang 155) Trên đây là những lời nói xảo trá. Làm gì có chuyện vẽ hình đúc tượng Bồ Tát Địa Tạng, thờ cúng mà đất ở đó lại tốt mầu. Đất xấu là đất xấu, chỉ có bón phân, đổ rác mục thì đất mới có mầu mỡ, trở lại. Còn đất tốt là đất tốt, đất phù sa nên mới tốt, chứ đâu phải thờ hình tượng bồ tát Địa Tạng mà tốt được. Thật là kinh sách gạt người, chỉ có người mê muội mới tin nó mà thôi.

Từ cuốn kinh Địa Tạng, chúng ta suy ra tất cả những cuốn kinh khác cũng đều là loại kinh xảo trá lừa đảo gây mê tín cho người. Đây là một đoạn kinh nói láo nhất, chúng tôi xin trích ra để quý vị nghiên cứu: “Chiêm lễ hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát và đọc tụng kinh bổn nguyện này tự nhiên được rốt ráo xa lìa biển khổ, chứng đạo Niết Bàn an vui, vì thế nên được ủng hộ một cách lớn lao như thế” (trang 154, kinh Địa Tạng).

Muốn lìa biển khổ của cuộc đời để chứng đạo Niết Bàn đâu phải là một việc dễ làm. Biết bao nhiêu người tu hành bỏ cả công sức vô cùng, vô tận mà chưa chắc đã đạt được. Xưa, đức Phật Thích Ca sáu năm khổ hạnh gần như muốn chết, sau đó nhờ 49 ngày miên mật mới chứng được Niết Bàn. Vậy mà trong kinh này dạy: “Chỉ cần chiêm lễ và tụng niệm kinh bổn nguyện thì tự nhiên giải thoát biển khổ thế gian, chứng đạo Niết Bàn”. Thật là kinh đại vọng ngữ!

Nếu được như trong kinh này dạy thì Bồ Tát Địa Tạng Vương là hiện thân cho sự phi công bằng và công lý, là hiện thân của ma vương, của ác pháp.

Tóm lại, đạo Phật chủ trương không có linh hồn nên làm tuần thất là mê tín. Kinh Địa Tạng là kinh Bà La Môn, ngoại đạo dạy những điều phi đạo đức và lừa đảo. Nhìn vào cuốn kinh có hình Địa Tạng Vương cỡi con sư tử lông xanh, hình ảnh ấy phản lại đạo đức từ bi, bình đẳng của đạo Phật. Một vị tu sĩ mà bắt con vật chở mình đi thì còn nghĩa lý gì là tu sĩ đạo Phật. Hình ảnh đó là bắt loài thú làm nô lệ, đó là hình ảnh giai cấp vua chúa.

Không có linh hồn thì cầu siêu cho ai, cầu như vậy có ích lợi gì? Xin quý phật tử cứ đọc kinh sách của Phật giáo Nguyên Thủy rồi suy ngẫm, đừng để mắc lừa tà giáo khác.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc

Ban đầu, để đạt được sự dễ chịu, tôi chọn cái tên nữ tính vui vui là Nhạc Nhạc, như tên một cách cách xinh đẹp nào đó. Nhưng sau lại nghe lòng chỉ đạo: Anh nên đặt Nốt Nhạc Lòng Người thì chuẩn hơn. Thực ra tôi chỉ muốn nói về thanh âm nhạc nhạc bây giờ. Mà cũng chẳng phải nhạc, là cái tiếng lòng người, đúng hơn là sự khác biệt ghê gớm, thậm chí là đối nghịch ghê gớm của tiếng lòng người thời nay.

Nhớ lại một thời, mỗi buổi sáng tinh khôi, mở mắt ra là nghe những âm thanh náo nức say đắm cổ vũ lòng người. Cánh đồng lúa xanh rờn thẳng cánh cò bay, tiếng nhạc từ loa phóng thanh gần xa, tạo nên bản hòa tấu cuộc sống rộn rã. Tiếng chuông nhà thờ, tiếng chuông chùa như cũng say đắm theo. Một thế giới âm thanh sao mà đẹp thế. Như một bài hát hay của nhạc sỹ Văn Cao.

Rồi tạo hóa thay bằng tiếng bom đạn, tiếng gầm xe máy, tiếng la ó tâm thần, tiếng đập nhà, tiếng chửi, tiếng bom sát thương, tiếng kêu cứu, tiếng dự án và hôn nhân đổ vỡ, tiếng đồng tiền hù dọa…

Chẳng hiểu sao buổi sáng của tôi lâu nay mở đầu là tiếng nhạc chờ từ chiếc điện thoại di động của cô cháu gái vẳng từ xa. Cô cháu gái xinh đẹp dịu dàng khá thành đạt dạo nào, bỗng thay bằng tiếng nhạc nao lòng trong chiếc điện thoại của nó: Thôi về đi, anh mau về đi/ Đã hết yêu thương nhau rồi… Bài hát không ra cũ mới, chất nhạc không rõ dòng nào. Chỉ biết đó là tiếng lòng đang vò xé.

Một chốc lại có nhạc chờ từ chiếc di động khác gọi đến. Một số phận khác, một chất nhạc khác như đối nghịch. Thoảng lên mùi hương ngọc lan, lời ca rất đẹp. Hương ngọc lan ngan ngát, làm chứng nhân cho anh gặp em…

Vừa tập thể dục vừa nghe những bản nhạc trên VOV. Nhạc dứt khoát, không ra cổ vũ, không ra mềm yếu. Thứ nhạc rất lạ. Tình yêu đến em không mong đợi gì/ Tình yêu đi em không hề nuối tiếc. Là lá la la…

Tôi ở gần một vườn hoa cũng là sân thể dục dưỡng sinh khá ưng ý. Buổi sáng có một nhóm bà U50-60, áo trắng quần trắng, cụm nhau vào dưới tán cây như đầy hương ngọc lan trên kia, trên tay mỗi bà cầm một tờ giấy phô tô. Họ tự bắt nhịp và hát vang: Yêu anh nồng nàn/ Yêu anh vội vàng/ Yêu anh chứa chan… Trời ạ, lại yêu, lại chan chứa, của U50-60 hiện đại! Giai điệu rất lạ, như không thuộc giáo phái nào. Hai tiếng chứa chan kéo dài, khàn đục mà tha thiết… Rõ ràng nó không phải dàn đồng ca hay tốp ca, nó không hề náo hoạt. Chỉ là tiếng lòng khàn trầm của phận đàn bà. Âm nhạc trước nay chưa hề có.

Một chốc thì anh bạn thân ghé chơi, ngân lên nét nhạc bằng thơ:

Thuyền ai ngược sóng, ai xuôi sóng
Cũng ở trong cùng biển khổ thôi

Một chốc thì lại có điện thoại của cô bạn gái xinh đẹp từ một chân trời rất xa. Cô gái bày tỏ một tâm trạng hoàn toàn đối nghịch với anh bạn trên, bằng một câu hát thơ rất đẳng cấp:

Cám ơn đời mỗi sáng mai thức dậy
Ta có thêm ngày nữa để yêu thương

Thời nay người và nhạc, nhạc và người hoàn toàn đối nghịch. Tiếng lòng nào xem ra cũng chân thành, không phải đồng cô hoặc tâm thần đâu. Tôi ghi nhận điều đó.

Buổi tối tôi đến phân ưu với gia đình thông gia. Ông cụ mất gần tuổi bách niên. Ngay cụ con rể là anh trai tôi cũng đã U80 rồi. Anh tôi đờ đẫn, mắt đỏ như mắt cá chạch, sau một đêm trực bên quan tài nhạc phụ, nghe nhạc hiếu của phường bát âm. Nhạc hiếu tra tấn anh, hay đã có sức đưa hồn anh sang một cõi khác?

Tôi đến sờ vào những chiếc kèn như có hồn ma nấp trong đó. Nó như chiếc loa của lính trận, cái ống dài ngắn xâu vào những chiếc phễu gỗ đen sạm như kiếp người. Nó tấu lên nét nhạc bát âm thiên sầu địa thảm. Người thông tuệ âm nhạc nói: chẳng ngẫu nhiên mà nó được chọn làm nốt nhạc đưa tiễn kiếp người. Thế gian phù du biến đổi, âm nhạc thi ca phù du biến đổi, chỉ có cái bát âm đó không cách tân không biến đổi gì sất. Như nó trơ gan cùng tuế nguyệt mà hát cùng các em thời nay: Tình yêu đến em không mong đợi gì/ Tình yêu đi là lá la em không hề nuối tiếc… Ha ha ha.

Đôi mắt ông anh tôi sau một đêm trọn vẹn sống cùng nhạc hiếu bát âm, cháy rực lên như hai hòn than…

Nếu như ta không vững vàng, sống giữa những thanh âm nốt nhạc đối nghịch ghê gớm của lòng người thời nay, thì dễ loạn thần lắm.

Tản bút của Phan Cung Việt

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.