bài viết trong chuyên mục "Phật Học"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Học. Hiển thị tất cả bài đăng

 Phật bản mệnh độ cho 12 con giáp là ai? Các Ngài độ trì ở phương diện nào

Mỗi người khi sinh ra đều được Phật đi theo phù hộ, tương ứng với từng năm sinh mà đức Phật độ mệnh cho mỗi người lại khác nhau. Có tất cả 8 vị Phật bản mệnh 12 con giáp.

1. Phật bản mệnh 12 con giáp là gì?


Trong "Pháp uyển châu lâm" có viết: "Bên ngoài cõi Diêm Phù Đề, bên trong bốn biển, có mười hai loài thú, được Bồ tát giáo hóa. Khi cõi người mới sinh ra, Bồ Tát dặn những loài thú này bảo vệ, nhận được lợi ích, nên 1 con giáp cũng dựa vào đó để đặt ra...".

Tùy theo năm sinh mà ta phân định con giáp nào được Phật nào độ mệnh. Phật độ mệnh không thay đổi theo năm. Theo quan niệm dân gian, Phật bản mệnh sẽ bảo hộ cho bạn được bình an, cuộc sống thuận buồm xuôi gió.

 
Bạn nên biết vị Phật độ mệnh của mình là ai, điều đó sẽ giúp ích rất nhiều cho cuộc sống sau này của bạn. Đơn giản như khi đi chùa cầu an lễ Phật, ta biết hướng về ai kêu cầu, ước nguyện.

Phật không phân sang hèn, không phân già trẻ, chỉ cần bạn thành tâm cầu khấn thì mỗi đức Phật đều có công đức vô lượng, có thể bảo hộ cho ta vượt mọi khó khăn. Bày tượng Phật độ mệnh hoặc đeo vòng có mặt hình tượng Phật bản mệnh, bạn sẽ có được bình an, may mắn và hạnh phúc như ý.

 

2. Phật bản mệnh 12 con giáp là ai? Các Ngài độ trì phương diện nào?



Cùng đi tìm đáp án cho câu hỏi Phật bản mệnh 12 con giáp là ai, từ đó sẽ biết các Ngài độ cho tuổi của bạn ở phương diện nào, tài lộc, sức khỏe, hay tình duyên, sự nghiệp...
 

- Tuổi Tý: Quan Âm nghìn mắt nghìn tay


Người tuổi Tý nên thờ Phật nào? Đó chính là Quan Âm nghìn mắt nghìn tay. Ngài là biểu trưng cho đại từ đại bi. Ngài sẽ giúp bạn vượt qua được mọi khó khăn trong cuộc sống, có đủ ý chí và niềm tin để chiến thắng mọi bệnh tật.

Khi vận may của bạn tìm đến, Ngài sẽ góp sức để vận thế của bạn thêm huy hoàng, xán lạn. Ngược lại, nếu bạn đang gặp vận rủi, Ngài sẽ giúp bạn hóa giải khó khăn, vượt qua hoạn nạn một cách để cuộc sống bình an, hạnh phúc và may mắn.

Tim hieu ve cac vi Phat ban menh phu ho do tri cho 12 con giap hinh anh
Quan âm nghìn mắt nghìn tay là Phật độ mệnh cho người tuổi Tý 
 

Theo quan niệm tín ngưỡng dân gian, Quan Thế Âm Bồ Tát nghìn mắt nghìn tay là một trong tứ đại Bồ Tát. Quan Âm nghìn mắt nghìn tay và Đại Thế Chí Bồ Tát là người phò trợ truyền bá Thánh pháp cho Phật A di đà.

Quan Âm nghìn mắt nghìn tay cùng với Phật A di đà và Đại Thế Chí Bồ Tát hợp thành “Tây phương Tam Thánh”. Bạn có biết Một năm có bao nhiêu ngày vía Quan Âm không? 

Điển tích Phật giáo có ghi chép lại, nghìn tay của Quan Âm nghìn mắt nghìn tay dùng để cứu hộ chúng sinh, còn nghìn mắt để dõi khắp nhân gian. Sau thời nhà Đường ở Trung Quốc, tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay dần dần được rất nhiều chùa chiền thờ phụng. Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay thường lấy 42 cánh tay tượng trưng cho nghìn tay, trên mỗi cánh tay đều có một mắt.

Chữ “nghìn” trong Quan Âm nghìn mắt nghìn tay thể hiện sự vô lượng và viên mãn, nghìn tay từ bi dang rộng cứu giúp chúng sinh, nghìn mắt trí tuệ soi thấu khắp cõi trần gian.

Theo “Kinh Đà la ni”: Quan Thế Âm Bồ Tát nghìn mắt nghìn tay phổ độ chúng sinh, thỏa mãn mọi ước nguyện, giúp dân chúng sống đời an lạc

Ngày Quan Âm nghìn mắt nghìn tay đản sinh: ngày 19 tháng 2 âm lịch.
 

- Tuổi Sửu, tuổi Dần: Hư Không Tạng Bồ Tát


Tuổi Sửu thờ Phật nào, tuổi Dần thờ Phật nào, đó là những thắc mắc thường gặp. Hai con giáp này có cùng một vị Phật độ mệnh, đó là Hư Không Tạng Bồ Tát. 

Đây là vị Phật đại diện cho sự thành thực và sung túc.

Bất hư bất không là Thần Tài của Phật giới, khi bạn mang theo mình mặt ngọc Hư Không Tạng Bồ Tát, ngài sẽ giúp bạn mở lối thoát nguy nan, tránh hao tài phá của, vận thế tài lộc tăng tiến không ngừng, lại càng thêm sinh tài tụ lộc, được Bát Phương quý nhân tương trợ, đánh đuổi tiểu nhân, tiền tài vượng phát.

Tim hieu ve cac vi Phat ban menh phu ho do tri cho 12 con giap hinh anh 2
 Hư Không Tạng Bồ Tát là vị phật bản mệnh của người tuổi Sửu, tuổi Dần


Tên phiên âm theo tiếng Phạn của Hư Không Tạng Bồ Tát là Akasagarbha, mật danh là Khố Tạng Kim Cương. Hư Không Tạng Bồ Tát là Đệ nhất phù thần của Tam Thế Chư Phật, công đức khắp hư không, thông tuệ mọi điều trên thế gian này, có tâm nhẫn nhịn tựa kim cương, ý chí kiên cường như gió lớn, đẩy lùi mọi cám dỗ trên đời. Đọc thông “Hư Không Tạng chú” có thể giữ tâm kiên định, tăng cường trí nhớ, thúc đẩy chí tiến thủ.

Hư Không Tạng Bồ Tát có sức mạnh ban tạng niềm vui và tài lộc. “Tạng” thể hiện phúc đức trí tuệ vô biên, “Hư Không” thể hiện sự rộng lớn khôn cùng, “Đại phương đẳng đại tập kinh” có chỉ rõ: Hư Không Tạng tựa như phú ông, chúng sinh đói khổ chỉ cần đến trước mặt Bồ Tát kêu cầu là được cứu tế. Vì thế mà Hư Không Tạng Bồ Tát còn được biết đến là vị Bồ Tát coi cứu độ chúng sinh là niềm vui.
 

- Tuổi Mão: Văn Thù Bồ Tát

 
Người tuổi Mão thờ Phật nào? Câu trả lời chính xác nhất là Văn Thù Bồ Tát.

Đây là vị Phật biểu trưng của đại trí tuệ, có thể thắp lên ánh sáng tinh thần, khai sáng tư duy, tăng cao ngộ tính. Ngài giúp cho đường học hành thuận lợi, hoạn lộ thênh thang, phúc lộc đầy nhà.

Người tuổi Mão sẽ càng thêm sáng tạo, ý chí kiên cường, đủ sức cạnh tranh và chiến thắng đối phương, sự nghiệp thăng tiến không ngừng. 

Tim hieu ve cac vi Phat ban menh phu ho do tri cho 12 con giap hinh anh 3
Văn thù bồ tát là vị Phật độ mệnh cho người tuổi Mão  

Danh xưng theo âm tiếng Phạn của Văn Thù Bồ Tát là Manjusri, hay còn gọi là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. “Đại Nhật kinh” ghi rằng: Diệu Cát Tường, Văn Thù hay Mạn Thù đều mang nghĩa chỉ điều kì diệu, còn Sư Lợi hay Thất Lợi có nghĩa là phúc đức hay cát tường, gọi đơn giản là Văn Thù.

Văn Thù Bồ Tát là thị giả theo hầu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, là đại đệ tử của Đức Phật. Văn Thù Bồ Tát, Phật Thích Ca Mâu Ni và Phổ Hiền Bồ Tát được dân gian tôn là “Hoa Nghiêm Tam Thánh”. Văn Thù Bồ Tát tài năng đức độ đứng đầu trong các vị Bồ Tát, là biểu trưng cho trí tuệ.

Văn Thù Bồ Tát còn được gọi là Pháp Vương Tử, đại diện cho trí tuệ, mặc đồ màu tím vàng như Đồng tử, đỉnh đầu có 5 xoáy, tóc búi cao.

Tay phải cầm Kim cương bảo kiếm (tượng trưng cho sự sắc bén của trí tuệ), có thể chém ma trừ tà, chặt đứt mọi nỗi muộn phiền. Tay phải cầm búp sen xanh, trong búp hoa có cuốn kinh Kim cương, tượng trưng cho trí tuệ vô thượng, cưỡi trên lưng sư tử (biểu trưng cho sức mạnh của trí tuệ).

Ngày Văn Thù Bồ Tát đản sinh: ngày 4/4 theo lịch âm.

Tuổi Thìn, tuổi Tị: Phổ Hiền Bồ Tát

 
Tuổi Thìn thờ Phật nào, tuổi Tị thờ Phật nào? Hai tuổi này có phật bản mệnh chung là Phổ Hiền Bồ Tát, đại diện cho lý trí, đức độ và đại hành nguyện.

Ngài sẽ đi theo phù hộ cho người tuổi Thìn, tuổi Tị hoàn thành ước nguyện, trừ bỏ tiểu nhân, tăng thêm khí thế, quyền uy của người lãnh đạo, giúp bạn cầu được ước thấy, hạnh phúc mỹ mãn.


Tim hieu ve cac vi Phat ban menh phu ho do tri cho 12 con giap hinh anh 4
Vị Phật phù hộ độ trì cho người tuổi Thìn, tuổi Tỵ là Phổ Hiền Bồ tát 

Tên tiếng Phạn của Phổ Hiền Bồ Tát là Samantabhadra. Phổ Hiền Bồ Tát đi theo phù trợ, truyền bá Phật giáo cho Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, cùng với Văn Thù Bồ Tát hợp thành “Hoa Nghiêm Tam Thánh”.

Phổ Hiền Bồ Tát có lời nguyện rằng: “Phổ hiền hành nguyện uy thần lực, phổ hiện nhất thiết như lai tiền”. Phổ Hiền Bồ Tát truyền bá Phật pháp thập phương công đức vô lượng, còn tu hành đạo hạnh vô thượng, có thể độ vô biên hữu tình, dùng trí tuệ để thỏa nguyện chúng sinh, giúp muôn dân biết đến đạo Phật.

Phổ Hiền Bồ Tát hành thiện vô số, phân thân trong tích tắc, tùy duyên giáo hóa chúng sinh. Dân gian còn gọi Ngài là Thập Đại Nguyện Vương, “Pháp Hoa kinh” ghi rằng: chỉ cần thành tâm tín phật là Phổ Hiền Bồ Tát cùng chư đại Bồ Tát sẽ cùng hiện thân bảo hộ, giúp cho thân tâm đều được an yên, xóa bỏ mọi ưu phiền, chẳng lo yêu ma quấy phá.

“Phổ Hiền diên mệnh kinh kí” nói rằng: Phổ Hiền Bồ Tát có sức mạnh vô cùng, có khả năng kéo dài tuổi thọ.  Ngài là đại diện cho lễ đức và hành thiện, tượng trưng cho chân lý. Ngài dùng trí tuệ dẫn lối chúng sinh, dùng hành động để làm gương cho muôn dân, hoàn thành những ước nguyện của người cầu Phật, còn được dân chúng tôn làm “Đại hành Phổ Hiền Bồ Tát”.

Ngày Phổ Hiền Bồ Tát đản sinh: ngày 21 tháng 2 âm lịch.

 Tuổi Ngọ: Đại Thế Chí Bồ Tát


Nếu thắc mắc tuổi Ngọ thờ Phật nào, hay vị Phật độ mệnh của tuổi Ngọ là ai, bạn sẽ thấy câu trả lời ngay bên dưới. Đó chính là Đại Thế Chí Bồ Tát.

Ngài ban cho người tuổi Ngọ ánh sáng trí tuệ, giúp đường đời được thuận buồm xuôi gió, sự nghiệp hanh thông.

Ánh sáng vĩnh hằng Phật pháp sẽ hóa sát trừ hung, ban điều như ý cát tường, chỉ lối dẫn đường cho người tuổi Ngọ phát huy năng lực để đạt đến lý tưởng cao nhất. 

Tim hieu ve cac vi Phat ban menh phu ho do tri cho 12 con giap hinh anh 5
Đại Thế Chí Bồ Tát là vị phật độ mệnh cho người tuổi Ngọ 

Đại Thế Chí Bồ Tát là vị hành giả bên cạnh Phật A di đà, còn gọi là Đại Tinh Tiến Bồ Tát, gọi tắt là Thế Chí. Đại Thế Chí Bồ Tát cùng Phật A di đà và Quan Thế Âm Bồ Tát (Quan Âm nghìn mắt nghìn tay) hợp thành “Tây phương Tam Thánh”.

“Bi Hoa kinh” kể rằng trước đây có một vị chuyển luân Thánh Vương, đại thái tử là Quan Thế Âm Bồ Tát, nhị thái tử là Đại Thế Chí Bồ Tát, tam thái tử là Văn Thù Bồ Tát, tứ thái tử là Phổ Hiền Bồ Tát. 

Chuyển luân Thánh Vương về sau tu hành thành Phật, chính là Phật A di đà của giới Tây phương cực lạc, Quan Thế Âm Bồ Tát cùng Đại Thế Chí Bồ Tát đi theo vua cha phò trợ tả hữu hai bên.

“Quan vô lượng thọ kinh” ghi rằng: Đại Thế Chí Bồ Tát dùng ánh sáng trí tuệ chiếu khắp nhân gian, giúp chúng sinh thoát khỏi nạn đao binh cũng như thiên tai bão lụt, công đức vô lượng, uy thế vô biên.

Ngày Đại Thế Chí Bồ Tát đản sinh: ngày 13 tháng 7 âm lịch.


- Tuổi Mùi, tuổi Thân: Đại Nhật Như Lai

 

Người tuổi Mùi, tuổi Thân có Phật độ mệnh là Đại Nhật Như Lai, Ngài là biểu tượng của ánh sáng và trí tuệ, giúp người tuổi Mùi, tuổi Thân luôn giữ được tinh thần minh mẫn, trừ yêu tránh tà, cảm nhận được tinh hoa vạn vật, hấp thu linh khí đất trời, vững vàng tiến lên phía trước, cuộc đời sáng lạn, hạnh phúc.

Tim hieu ve cac vi Phat ban menh phu ho do tri cho 12 con giap hinh anh 6
Tuổi Mùi, tuổi Thân có vị Phật độ mệnh là Đại Nhật Như Lai  

 Đại Nhật Như Lai là tôn xưng chí cao vô thượng trong Phật giáo Mật tông, là Đức Phật cấp cao nhất trong Mật tông. Theo đó, tất cả các đức Phật và Bồ Tát đều do Đại Nhật Như Lai mà ra, Đại Nhật Như Lai đứng đầu chỉ huy tất cả, là đức Phật khởi sinh trong giới Phật giáo Mật tông.

“Đại nhật” có nghĩa là thắng cả mặt trời, Đại Nhật Như Lai có thể phá bỏ mọi tà pháp, xóa mọi trở ngại trong chốn nhân gian, công đức viên mãn, đem ánh sáng trí tuệ chiếu sáng muôn nơi, không còn đêm đen che giấu, khởi nguồn sinh sôi Phật Tâm. Ánh sáng trí tuệ của Đại Nhật Như Lai khơi gợi tâm thiện trong mỗi con người.

Ngày Đại Nhật Như Lai đản sinh: ngày 8 tháng 4 âm lịch.

Xem chi tiết về vị Phật nào độ mệnh cho tuổi Mùi và tuổi Thân ở bài viết dưới đây

Tuổi Dậu: Bất Động Minh Vương

 

Tuổi Dậu thờ Phật nào? Đó chính là Bất Động Minh Vương - Bất Động Tôn Bồ Tát, tượng trưng cho lý trí, trí tuệ.

Ngài sẽ thầm lặng đi theo bảo vệ, giúp cho người tuổi Dậu trên đường đời phân biệt phải trái đúng sai, nắm bắt cơ hội đến với mình, sử dụng trí tuệ để ứng phó với khó khăn, vượt qua nghịch cảnh, có được sự nghiệp thành công, gia đình hạnh phúc.

Đeo bản mệnh Phật Bất Động Bồ Tát có những điều cấm kỵ riêng biệt, cần hết sức lưu ý. 

Tim hieu ve cac vi Phat ban menh phu ho do tri cho 12 con giap hinh anh 7
Tuổi Dậu được Bất Động Binh Vương độ trì 

Bất Động Tôn Bồ Tát còn có tên tiếng Phạn là Acalanatha, nghĩa là Bất Động Tôn hay Vô Động Tôn. Giáo giới tôn ngài làm Bất Động Minh Vương, là sứ giả bất động. “Bất động” ở đây chỉ tâm từ bi bền vững không chút dao động lung lay, còn “Minh” chỉ ánh sáng trí tuệ.

Chỉ cần nhìn thấy Bất Động Tôn Bồ Tát là tự phát thiện tâm, nghe thấy tên là đoạn mọi ác tâm, nghe thấy pháp danh như được thêm trí tuệ, hiểu rõ tâm tư thì có cơ may thành Phật.


- Tuổi Tuất, tuổi Hợi: Phật A di đà

 
Vị Phật hộ mệnh cho người tuổi Tuất và người tuổi Hợi là Phật A di đà, tượng trưng cho ánh sáng, phúc thọ, bảo hộ cho 2 tuổi này trí tuệ hơn người, xóa bỏ phiền não, mệt mỏi, kiên cường gây dựng cơ đồ, hưởng đời an lạc.

Tim hieu ve cac vi Phat ban menh phu ho do tri cho 12 con giap hinh anh 8
Phật A di đà phù hộ độ trì cho người tuổi Tuất, tuổi Hợi 

Phật A di đà còn có tên tiếng Phạn là Amitayusa (Vô Lượng Thọ), Amitaba (Vô Lượng Quang). Ngài còn được gọi là Phật Vô Lượng Thọ, Phật Vô Lượng Quang, Phật Quan Tự Tại Vương, Cam Lộ Vương. Phật A di đà là giáo chủ trong giới Tây phương cực lạc, cùng Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tài hợp thành “Tây Phương Tam Thánh”.

Theo ghi chép cổ, từ thời xa xưa, Ngài vốn được giáo hóa bởi Phật Thế Tự Tại Vương, nguyện gây dựng Phật Quốc tận thiện tận mĩ (nơi cực lạc), dùng cách đi độ hóa chúng sinh, phát 48 lời thề nguyện, nhờ đó tu hành thành Phật A di đà.

Những ai có cơ may gặp được Ngài thì có thể thoát khỏi mọi nỗi thống khổ trên đời.

Ngày Phật A di đà đản sinh: ngày 17 tháng 11 âm lịch. (Đây kì thực là ngày sinh của Vĩnh Minh Diên Thọ đại sư, tương truyền là đấng tái sinh của Phật A di đà.)

Níu trong tay một vạt nắng, mỗi người đều rong ruổi theo bước thời gian từ khi sinh ra đến tận cuối đời. Ai cũng sống giữa bon chen, mỏi mệt và những niềm vui ít ỏi, thế rồi, vẫn tự huyễn hoặc mình, huyễn hoặc đời rằng “mọi thứ sẽ ổn thôi! Hãy cứ yêu lấy cuộc đời này!”

Suốt những năm tháng tuổi trẻ, ta đặt ra cho mình biết bao nhiêu lý tưởng, hoài bão để rồi lại thất bại trong khoảng một phần trăm hy vọng. Gọi tên thần may mắn là một kẻ tàn nhẫn, khi mà xung quanh ta được mấy kẻ dễ dàng thành công, còn lại là vô số con người vất vưỡng, vẫn loay hoay không thoát ra khỏi cơn mộng mị của chính mình. Cũng không ít lần nỗi tuyệt vọng dâng lên cực điểm, ta lại muốn buông tay bỏ rơi cuộc sống, bỏ rơi linh hồn trong ta lạc lối suốt những nấc thang đơn độc.

Từng giây phút nán lại trên thế gian, ta buộc phải chứng kiến thêm nhiều điều bất hạnh, lại phải đối mặt với những bất an và buồn bã. Khi tình thương giữa người với người ngày càng mỏng manh và khiếm khuyết, ta chán chường những gương mặt giả tạo và nụ cười khuôn mẫu, chợt ước ao rằng mình có thế biến mất khỏi chốn thị phi và đầy cạm bẫy này…

Từ những giọt nước mắt vì xúc động, vì đau khổ, ta khoác lên mình chiếc mặt nạ của sự thờ ơ và lạnh nhạt. Dần dà, ta quen với việc cứ sống sao cho hết một đời, dù là bằng cách này hay cách khác…

Vậy thì sẽ ra sao, nếu một mai ta đột nhiên qua đời, theo tiếng gọi của đấng tạo hóa dành cho một kẻ đã cạn duyên với kiếp người?

Đó là một ngày ta thấy mình như lướt giữa không trung, nhìn giọt nước mắt của người thân yêu, chợt nhận ra bản thân mình rất muốn dỗ dành mà chẳng thể chạm tay vào để an ủi.

Đó là một ngày sự sống bỏ ta đi khi ta chỉ vừa kịp nhận ra mình khao khát nó như thế nào. Ta còn muốn sống chỉ vì sợ hãi cái chết; bởi ta hiểu rằng thất bại và nỗi buồn chỉ là những thứ nhỏ nhặt khi đặt giữa cái chết đầy hoài nghi và u ám.

Đó là một ngày ta thấy tuổi thanh xuân và sự sống cũng vô tình giống thời gian khi theo chân nó đến cuối cùng chỉ là những hơi thở mỏng manh và yếu ớt! Lý tưởng, ước mơ, khát vọng thành hiện thực hay không cũng chẳng còn ý nghĩa. Tồn tại trong ta duy nhất chỉ có một ao ước muốn sống, sống để còn được tiếp tục cố gắng, sống để còn tiếp tục yêu thương và được yêu thương.

Đó là một ngày ta bất giác nhận ra mình đã học được cách tha thứ. Tha thứ cho bản thân, tha thứ cho người


Tha thứ cho đời khi quá nhiều bấp bênh sóng gió!

Vậy thì sẽ ra sao nếu một mai ta qua đời?

Không ai khước từ được lời mời của thần chết. Nhưng có lẽ, bất cứ người nào cũng đều có thể sống những tháng năm trải dài bằng nhiệt huyết và dòng máu nóng chảy trong tâm hồn để khi đối mặt với cái chết, ta có thể thanh thản mà mỉm cười ra đi.

Ta sẽ thôi toan tính và sân si với đời, khi trong tim ta chỉ có chỗ cho yêu thương và những khoan thai trầm bổng.

Ta sẽ thôi nuôi bên giấc mơ những khắc khoải hoang mang về tương lai khi cuối cùng ta hiểu rằng con người đều trở thành cát bụi.

Những nơi đó, những câu nói, những gương mặt xa lạ và thân quen,

Dù yêu thương hờn giận nhiều đến mấy, ta cũng sẽ bỏ qua vì còn bận sống cho trọn vẹn cuộc đời mình!

Vậy thì sẽ ra sao nếu một mai ta qua đời?

Tất cả những gì sót lại chỉ là nuối tiếc và hoài niệm về lời hứa hẹn mà ta đã bỏ lỡ. Và cánh cửa đưa ta đến một thế giới phẳng lặng âm u có thể nào ta đành lòng bước qua?

Vậy thì sẽ ra sao nếu một mai ta qua đời?

Vậy thì sẽ ra sao nếu cuối cùng chúng ta đều qua đời?

Liệu rằng ta có sống những ngày này theo một cách hoàn toàn khác?!

Nguồn: ftuzone.com

Từ thời cổ đại với Aristotle, Plato, Socrates, cho đến ngày nay qua các thời đại với René Descartes, Baruch Spinoza, Gottfried Leibniz, George Berkeley, John Locke, David Hume, Thomas Reid, Jean-Jacques Rousseau, Immanuel Kant, Georg Wilhelm Friedrich Hegel, Arthur Schopenhauer, Søren Kierkegaard, Friedrich Nietzsche, Karl Marx, Gottlob Frege, Henri Bergson, Edmund Husserl, Bertrand Russell, Ludwig Wittgenstein, Martin Heidegger, Jean-Paul Sartre và Willard van Orman Quine và Kapila, Yajnavalkya, Thích Ca Mâu Ni, Akshapada Gotama, Nagarjuna, Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Chu Hy, Hàn Phi Tử, Vương Dương Minh, Dharmakirti, Sankara, Ramanuja, Madhvacharya, Sri Ramakrishna, Narayana Guru, Vivekananda, Aurobindo, Ananda Coomaraswamy và Sarvepalli Radhakrishnan; con người và các triết gia luôn cố gắng tìm cách trả lời cho câu hỏi lớn về 4 sự kiện chính của đời người: sinh, lão, bệnh, tử. Dường như chúng ta ai cũng phải trải qua 1 chu kỳ lặp đi lặp lại của đời sống: sinh ra rồi lớn lên trưởng thành già yếu chịu tật bệnh rồi 1 người phải chết đi.

Trong bài viết này chúng tôi sẽ trình bày với quý vị 4 vấn đề chính này với tất cả các góc cạnh khác nhau bằng các lăng kính khác nhau để hầu hy vọng đem lại 1 câu trả lời đầy đủ nhất hoàn chỉnh nhất. Có thể quý vị sẽ không đồng ý hoàn toàn với chúng tôi nhưng ít nhất, chúng tôi hy vọng có thể mở 1 cánh cửa mới cho tầm nhìn mới của quý vị về các vấn đề của đời sống của chúng ta đặc biệt là 4 vấn đề lớn nhất: SINH, LÃO, BỆNH, TỬ.

 1. SINH:

Không chỉ có loài người nhưng tất cả loài vật, vạn vật từ hòn đá, cây cỏ, dòng sông, biển cả, núi đồi, trái đất, hệ mặt trời, thế giới, vũ trụ đến các tư tưởng, hệ thống triết học, quốc gia, nền văn minh. . . đều có sinh ra, bắt đầu, hình thành, rồi phát triển, trưởng thành rồi già cỗi, lỗi thời, lạc hậu, bị đào thải rồi bệnh tật, và 1 ngày chết đi. Nhưng kỳ diệu nhất vẫn là lúc sinh ra, có chứng kiến sự hình thành của 1 bào thai, rồi nhìn người mẹ mang nặng thai nhi và đến ngày sinh nở, mẹ tròn con vuông, 1 con người mới góp mặt với thế giới, chúng ta mới thấy hết sự mầu nhiệm của đời sống. Vẻ đẹp bé thơ, ngây thơ thánh thiện, tiếng khóc chào đời làm niềm vui cho cha mẹ ông bà và người. Cũng như sự ra đời của 1 đứa con tinh thần của các nhà thơ nhà văn, nghệ sĩ: 1 bức tranh đẹp, 1 bài thơ, 1 quyển sách. . . là 1 sự huyền nhiệm của vũ trụ. Đã có lúc con người ngỡ rằng mình hiểu hết bí mật của sự sống, sự sinh sản, sự ra đời của 1 đứa trẻ nhưng gần đây các nhà nghiên cứu nhận ra rằng không phải đơn giản, quá trình thụ thai chỉ là cơ chế sinh học nhưng làm sao 1 đứa trẻ phải là con của cha mẹ này mà không phải là con của cha mẹ khác, liệu chỉ ngẫu nhiên hay là có định mệnh an bài, rồi làm sao chúng ta có sự hình thành tư duy, trí óc, trí tuệ. . . , và vấn đề di truyền cũng như xã hội, môi trường, giáo dục, hoàn cảnh ảnh hưởng thế nào đến đứa trẻ. . .

Sự sinh ra là vô cùng cần thiết để đời sống tiếp tục, hãy tưởng tượng nếu 1 ngày nào đó không ai sinh con nữa, thì có lẽ chỉ sau hơn 100 năm là thế giới sẽ kết thúc. Mặc dù con người đang tăng dân số nên nhiều người sợ nạn nhân mãn, bây giờ chúng ta có hơn 7 tỷ người, đó là 1 con số khổng lồ nếu chúng ta không có cách nuôi sống, chăm sóc đầy đủ 7 tỷ người này thì thật là thảm họa, nhưng với tình trạng đất đai của chúng ta trên trái đất, thế giới có thể có được ít nhất là 30 tỷ người. Vấn đề con người cần nên làm là tạo điều kiện để mọi đứa trẻ sinh ra đều khỏe mạnh, hạnh phúc trở thành người có ích hữu dụng cho xã hội. Sự hình thành của các công ty, các quốc gia, các hệ tư tưởng, và cả vũ trụ cũng vậy lúc nào cũng là bắt đầu mới tốt đẹp hứa hẹn những tương lai. Và đó là sự bắt đầu, buổi bình minh rực rỡ của chúng ta. . .

 2. LÃO:

Sau khi sinh ra con người cũng như vạn vật bắt đầu lớn lên, trưởng thành, học hỏi, khôn ngoan hơn, kinh nghiệm hơn và 1 ngày kia bỗng thấy mình già cỗi, hom hem, tóc bạc, lưng còng. . . Không ai tránh khỏi, không điều gì tránh khỏi ngay cả các quốc gia, ngay cả thế giới và vũ trụ, ngay cả bài thơ bạn viết, ngay cả chiếc xe mắc tiền bạn mua, ngôi nhà xinh đẹp trong ước mơ của bạn. . . Tất cả 1 ngày kia đều phải theo quy luật nhân gian già đi, cũ đi và bị đào thải. Tuổi thanh xuân đầy ước mơ, nghị lực, rồi tuổi trung niên chững chạc, điềm tĩnh, chín chắn và tuổi gài thì yếu đuối, cố chấp, hoài cổ, . . . Chỉ có điều kỳ lạ là ít ai chịu thông cảm, tha thứ và chấp nhận. . . Có 1 nhà tâm lý học tình cờ sưu tập được 4 cuốn nhật ký của 4 thế hệ người khác nhau, 1 cuốn từ cuối thế kỷ 19, 1 cuốn khoảng năm 1930, 1 cuốn của 1960 và 1 cuốn của 1999, điều lạ lùng là cả 4 cuốn đều phàn nàn về đời sống hiện tại của 4 người tuổi vừa khoảng 60 về đời sống hiện tại: giới trẻ nổi loạn, sống bê tha vô đạo đức, xã hội suy đồi, phi nhân bản, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh quá mà đạo đức không theo kịp. . . . Và nhà tâm lý nhận ra rằng hoá ra con người thời nào cũng luôn phải đối đầu, đối phó với hầu như cùng 1 vấn nạn, vấn đề. . . Và đó chỉ là 1 vòng lẩn quẩn của nhân sinh, nhưng còn có 2 vấn đề mà con người luôn lo lắng sợ hãi mà dường như chẳng bao giờ chạy thoát nổi đó là BỆNH VÀ TỬ, mà chúng tôi sẽ bàn tiếp sau đây.

 3. BỆNH:

Đây thực sự là vấn nạn mà loài người cũng như vạn vật kể cả vũ trụ cũng đều chịu đau khổ. Tại sao chúng ta ai cũng phải chịu ít nhất 1 tật bệnh, nặng hay nhẹ, thoáng qua hay kinh niên. TỪ ngàn xưa các thầy thuốc bác sĩ đã cố gắng chiến thắng bệnh tật cứu người nhưng càng ngày nhân loại càng bị những bệnh khó hơn.

Bệnh tật không tha bất cứ ai, từ người giàu sang đến kẻ bần hàn. Những căn bệnh cứ âm thầm gieo cho con người nỗi sợ hãi và từ từ cướp đi không biết bao nhiêu sinh mạng từng giây phút. Bệnh tim mạch là bệnh gây chết người hàng đầu, sau đó là các bệnh nhiễm trùng và bệnh ung thư và sau đó là tất cả các căn bệnh khác mà bạn đã biết. Làm thế nào để chiến thắng bệnh tật, đó là điều ám ảnh không chỉ các bác sĩ, các nhà nghiên cứu y khoa mà tất cả mọi người. Theo tôi nghĩ đã đến lúc con người nên thay đổi toàn diện cách sống, cách phòng bệnh và phương thức chữa bệnh. Các chính phủ cũng như các tổ chức từ thiện nên tập trung ngân sách cho nghiên cứu về bệnh tật và thật sự tạo 1 cuộc cách mạng mới trong lĩnh vực y khoa như chúng ta đang có với khoa học và kỹ thuật. Đây sẽ là 1 thử thách lớn, mới mẻ và thần kỳ đối với nhân loại thế kỷ 21, chế ngự các bệnh tật và phòng bệnh hơn chữa bệnh, giúp con người sống khỏe mạnh hơn, sống có ý nghĩa hơn, hiệu quả hơn. Ví dụ bệnh tim mạch và ung thư: tập thể dục, ăn uống điều độ, khỏe mạnh, đúng cách, sẽ tạo nên 1 cơ thể tráng kiện góp phần chống bệnh khi bệnh tới nhưng y khoa phải tạo 1 loại thuốc, 1 loại vaccine chủng ngừa giúp con người phòng bệnh và khi có bệnh thì chống bệnh hiệu quả. . .

 4. TỬ:

Đây là cái đích cuối cùng mà con người ai cũng phải tới mà ít ai chịu chấp nhận nó, khi nó tới gần thì sợ hãi. Mặc dù các tôn giáo vẫn luôn tìm cách thuyết phục con người tin rằng sẽ có 1 thế giới khác tốt đẹp hơn nếu chúng ta tu tâm sửa tánh, làm lành tránh dữ, tu tập, cầu nguyện. . . nhưng con người vẫn cứ sợ hãi. Liệu đời sống chúng ta: chuỗi tuần hoàn SINH, LÃO BỆNH TỬ là ngẫu nhiên hay là định mệnh đã an bài. Tôi nghĩ là cả hai thái cực đó chi phối chúng ta. Trước khi ta sinh ra, ta từ đâu tới, sau khi chết đi ta sẽ đi đâu, đó là câu hỏi mà muôn đời vẫn còn chờ câu trả lời dù các tôn giáo, triết học, tư tưởng. . . đã cố gắng trả lời rồi nhưng dường như vẫn chưa đủ sức thuyết phục con người. Có người cho rằng chết là hết, cát bụi sẽ về cát bụi, đó là thuyết ngẫu nhiên, còn có người cho rằng số phận của chúng ta đã an bài trong định mệnh: chúng ta phải sinh ra bởi cha mẹ của chúng ta chứ không phải người khác, chúng ta phải gặp người đó làm chồng vợ, chúng ta phải chịu những đau khổ tai kiếp đó, bệnh tật đó và phải chết ngày đó. Đó là thuyết định mệnh: nhưng ngay cả thuyết này cũng có hai trường phái giải thích khác nhau về ai chịu trách nhiệm cho sự quyết định số phận đó, định mệnh đó: có thuyết cho rằng có 1 đấng tối cao, chúa, trời. . . quyết định như thế; có thuyết cho rằng tất cả những định mệnh đó là do chính nghiệp của chúng ta tạo ra, trong vô lượng kiếp, nếu trong những kiếp trước chúng ta làm ác, thì kiếp này phải nhận quả báo, ngay cả quả báo nhãn tiền ngay lập tức. . . Thực sự ra có lẽ chúng ta bị chi phối bởi cả hai: định mệnh và ngẫu nhiên. Đúng là chúng ta đang chịu những hậu quả của những gì chúng ta đã làm và có 1 sự "thiêng liêng"( điều chúng ta chưa hiểu biết trọn vẹn được) ảnh hưởng nhưng sự ngẫu nhiên cũng có do sự sai lầm, tình cờ của tất cả những quy luật đó. Hãy tưởng tượng xem, khi 1 con muỗi hút máu bạn, thì bạn đập nó chết, nếu bạn đạp hụt nó thì nó còn sống, nếu nó gặp 1 người không muốn giết loài vật thì nó cũng sống. Chúng ta thường chỉ quan tâm nhiều đối với con người mà ít quan tâm hơn đối với loài vật và đặc biệt là không quan tâm đến cỏ cây, đất đá những vật vô tri vô giác như máy móc, đồ dùng, xe cộ, nhà cửa, áo quần, thế giới vũ trụ. . . Nếu chúng ta chịu khó suy nghĩ 1 chút thôi, chúng ta sẽ nhận ra rằng nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta quý mạng sống của chúng ta và những người chúng ta yêu mến cũng như đồng loại, loài người thì tại sao chúng ta lại không quý trọng những loài vật và cả các đồ vật mà chúng ta cho là vô tri vô giác( chúng ta không hiểu chứ làm sao biết là đồ vật, cỏ cây vô tri vô giác. . . ) Nhiều khi tôi tự hỏi, tại sao chúng ta chỉ nói không sát sinh là tu mà cho là sát cây cỏ, phá đồ đạc, đồ vật lại không phải là lạm sát vô cớ. HY vọng 1 ngày kia chúng ta sẽ có 1 kiến thức đầy đủ hơn về vũ trụ này, biết được rõ ràng sau khi chết chúng ta sẽ đi đâu thì chúng ta sẽ sống tốt hơn nữa. Tu theo cách hiện tại của loài người là rất tốt, rất cần thiết nhưng nếu 1 ngày trong tương lai chúng ta biết rõ hơn về chính chúng ta và vũ trụ, quá khứ, hiện tại và tương lai thì chúng ta sẽ tu hay hơn, đúng đắn hơn và có hiệu quả hơn. Đó mới thực sự là lúc chúng ta hiểu được vòng tuần hoàn bất tận: SINH, LÃO, BỆNH, TỬ và không còn sợ hãi nữa.

Sau đây là 1 vài lý thú:Trung bình người thuận tay phải sống lâu hơn người thuận tay trái 9 năm. Người ta chết vì mất ngủ nhanh hơn là chết đói: nếu ta không ngủ liên tục tuyệt đối 10 ngày là ta chết còn nếu nhịn đói tuyệt đối thì ta có thể sống tới 14 ngày. Mắt của ta không thay đổi từ khi ta sinh ra đến chết nhưng mũi và tai thì phát triển không ngừng.

Do người ta đánh mất chính mình nên bị tham lam, ích kỷ, tham muốn quá đáng chi phối rồi sinh ra sân giận, thù hằn, ghét bỏ mà tìm cách giết hại lẫn nhau. Có một chú tiểu sau nhiều năm tu học ở chùa mới cung kính thưa hỏi hoà thượng:

“Thưa sư phụ, con người ta sợ nhất cái gì?” Hoà thượng hỏi lại vị đệ tử: “Vậy theo con thì sợ nhất cái gì?” “Dạ thưa sư phụ, có phải là sự cô độc không ạ?” Hoà thượng lắc đầu: “Không đúng!” “Dạ thưa sư phụ, vậy là sự hiểu nhầm chăng?” - “Cũng không đúng!” - “Là sự tuyệt vọng?” - “Càng lại không đúng!”

Rồi chú tiểu liền đưa ra mười mấy phương án khác nhưng hết thảy hoà thượng đều không chấp nhận. Chú cảm thấy mất tự tin trước những lời xác định là không nên vặn hỏi lại sư phụ: “Vậy là gì thưa sư phụ?” - “Là chính mình?” Chú tiểu bất ngờ nhận ra chính mình là tâm trong sáng, thanh tịnh.

Lúc này, Hoà thượng mới từ tốn nói: “Thực ra, những điều con vừa nói như sự cô độc, sự hiểu lầm, sự tuyệt vọng hoặc vô vàn những sự kiện khác… đều là cái bóng phản chiếu của tính biết sáng suốt, nó là cảm xúc do sự vọng động của chính mình mà ra. Nếu ai cũng nghĩ những thứ đó là đáng sợ thì chúng ta tự đánh mất chính mình. Ngược lại, chúng ta không sợ gì hết vì nghĩ rằng không có nhân quả nghiệp báo thì vô tình tạo thêm nhiều tội lỗi làm tổn hại cho người và vật.” Sau câu nói của sư phụ, chú tiểu đủ niềm tin biết mình có tâm thanh tịnh, sáng suốt ngay nơi thân này.

Câu chuyện trên luôn nhắc nhở chúng ta sống ở đời cần có sự suy gẫm, chớ nên buông xuôi mọi việc. Có lẽ ai cũng đã từng đôi ba lần đánh mất một thứ gì đó. Trong tất cả những điều bị đánh mất, có khi nào chúng ta tự hỏi lòng mình rằng chúng ta lo sợ bị đánh mất điều gì nhất không? Thật ra, trong mọi thứ bị đánh mất, đánh mất chính mình mới là điều đáng sợ nhất, nên từ đó con người ta mới tham lam, ích kỷ, sân hận, ganh ghét, tật đố rồi tìm cách tạo vây cánh, bè phái đấu tranh, giành giựt, giết hại lẫn nhau.

Những người đang yêu nhau tha thiết không muốn rời xa nhau vì đam mê, vì say đắm, vì luyến ái nhớ nhung và có lẽ sợ nhất là mất người yêu. Có người thì sợ mất gia đình người thân mà mình yêu quý nhất như cha mẹ lo cho con cái, như vợ chồng thương yêu nhau, như anh em cùng vui vẻ, thuận thảo, thương mến nhau… Và những người đang thăng tiến trên con đường công danh, sự nghiệp thì có lẽ sợ mất quyền cao chức trọng và sợ không còn ai cung kính, tôn trọng khi bị thân bại danh liệt… Nói chung, tất cả chúng ta sợ bị đánh mất rất nhiều thứ, toàn là những điều có liên quan đến sự sống gia đình và xã hội. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất, quý giá nhất mà chúng ta đã đánh mất nó từ lâu là chính mình.

Chúng ta đừng bao giờ vì muốn được lòng một ai đó mà tự đánh mất chính mình. Thế gian này đã từng có rất nhiều người đánh mất cả cuộc đời chỉ vì quyền lợi riêng tư, mong được có địa vị danh vọng và mau thăng quan tiến chức mà sống trong lừa đảo, dối trá, bóc lột kẻ dưới… Chính vì vậy, “nhận biết chính mình” mới là điều cần thiết và quan trọng nhất. Nếu chúng ta biết tất cả mọi thứ trên đời, trên thông thiên văn, dưới am tường mọi sự việc mà lại không biết chính mình là ai, là gì, mình từ đâu đến và sau khi chết đi về đâu thì sự hiểu biết ấy chỉ đáp ứng được giá trị bên ngoài nên không thể giúp ta hoàn thiện chính mình để thật sự sống bình yên, hạnh phúc.

Người xưa nói “biết người biết ta, trăm trận trăm thắng”. Thắng ở đây không chỉ là thắng theo kiểu chiến trận, thắng ở đây cũng chưa hẳn là thắng người hay thắng kẻ thù mà thắng ở đây là thắng chính mình. Chúng ta chiến thắng những dục vọng thấp hèn có tính cách tham lam, sân hận, si mê để vươn lên vượt qua cạm bẫy cuộc đời nhờ biết cách làm chủ bản thân để không bị các thói quen xấu ác có tính cách làm tổn hại cho người và vật.

Chúng ta cần biết được chính mình để sống tốt hơn trong mối quan hệ với gia đình người thân, với bạn bè, với đồng nghiệp và với tất cả mọi người trong xã hội. Ngày xưa, thời Phật còn tại thế, có vị tỳ kheo đã hoàn tục và xuất gia đến lần thứ 7. Gia tài của thầy chỉ có cây cuốc cùng miếng ruộng nhỏ, ấy thế mà đã làm cho thầy điên đảo vọng động, tính toán hơn thua. Sau nhiều lần hoàn tục chỉ vì tiếc nuối cây cuốc, dù xuất gia nhưng thầy vẫn giấu cây cuốc vào chỗ kín để đến khi cần thì lấy ra xài. Lần thứ 6 khi hoàn tục thầy cảm thấy bất an bởi cuộc sống chẳng có gì khấm khá hơn. Trong thời gian đó, thầy quán chiếu về sự hiện hữu của thân này nên thấy rõ nó là một chuỗi nhân duyên hòa hợp giả có, không thực thể. Vậy cái gì là tôi mà muốn chiếm hữu để rồi từ đó thấy mọi thứ là của tôi mà chúng ta tham đắm, dính mắc vào đó rồi làm khổ đau cho nhau.

Sau lần thiền quán đó đã giúp thầy khai thông trí tuệ, thấy rõ được bản chất thật của thân này là vô thường, tâm suy tư nghĩ tưởng là vọng dối, hoàn cảnh sự vật thì đổi thay nên tất cả đều vô thường. Nhưng ngay nơi thân này có tính biết sáng suốt, thấy chỉ là thấy, nghe chỉ là nghe, mũi-lưỡi-thân-ý cũng lại như thế. Rồi thầy ra bờ sông quăng cây cuốc xuống dòng sông và la lớn lên trong sự mừng rỡ: “Ta đã chiến thắng rồi! Ta đã chiến thắng rồi!”

Lúc này, vua Ba Tư Nặc cùng quan quân vừa mới dẹp loạn xong và đang trên đường trở về, nghe tiếng thầy tỳ kheo nói “Ta đã chiến thắng rồi” nên Vua Ba Tư Nặc mới tự nghĩ thầm trong bụng “Ta mới chính là người đã chiến thắng” rồi đến thưa hỏi thầy tỳ kheo kia: “Thầy đã chiến thắng cái gì?” Thầy tỳ theo mới nói: “Tôi đã 7 lần hoàn tục và xuất gia, hôm nay mới chiến thắng được chính mình là biết cách chuyển hóa phiền não tham-sân-si do lầm chấp thân này là tôi và của tôi.”

Chúng ta từ xưa nay mải mê tìm cầu bên ngoài để kiếm tìm hạnh phúc mà tự đánh mất chính mình. Một số người cho rằng chết là hết nên đánh mất chính mình. Kẻ tin có đấng thần linh thượng đế ban phước giáng họa nên cũng đánh mất chính mình. Còn có nhiều người quan niệm cõi này là cõi tạm, cõi bên kia mới là cõi vĩnh hằng rồi từ đó đánh mất chính mình trong hiện tại. Một số người nói rằng tất cả đều là ngẫu nhiên, khi không nên cũng đánh mất chính mình. Rồi kẻ cầu khẩn, van xin, ỷ lại vào người khác càng đánh mất chính mình nhiều hơn nữa.

Tại một làng nọ có một ông già sống nghèo khổ trên mảnh đất khô cằn, đá sỏi của mình. Sau nhiều năm cày sâu cuốc bẩm, siêng năng đầu đội trời chân đạp đất nhưng chẳng có gì khá hơn. Rồi một buổi sáng đẹp trời ông đang chuẩn bị công việc hằng ngày thì bỗng nhiên người ta phát hiện bên dưới miếng đất của ông có một mỏ đá kim cương. Từ đó, ông già trở nên giàu có, ông sắm một chiếc xe hơi sang trọng với số tiền khổng lồ để mỗi ngày đi du lịch đó đây mà ngắm cảnh xem hoa, vui thú trong quãng đời còn lại.

Tuy nhiên, có một điểm đặc biệt là ông già đó chẳng bao giờ phải tốn tiền mua xăng. Ông đã dùng hai con ngựa để kéo chiếc xe đi hết nơi này sang nơi khác. Nhiều người trong chúng ta hiện nay cũng đang sống một cuộc đời như thế, nhưng đáng tiếc là hầu như tất cả mọi người đều lãng phí thời gian vô bổ để tìm cầu bên ngoài mà tự đánh mất chính mình. Chúng ta quay lại chính mình ở đây không có nghĩa là ta tự hủy diệt thân xác, đày đọa bản thân, mà chúng ta biết cách làm chủ bản thân qua ý nghĩ, lời nói và hành động để không làm tổn hại một ai.

Để hoàn thiện chính mình chúng ta cần phải nhận biết những khuyết điểm của bản thân để tìm cách khắc phục và chuyển hóa. Chúng ta có thể làm tốt hơn tất cả mọi công việc nếu chúng ta quyết tâm và nỗ lực làm mới lại chính mình. Ngay từ giờ phút này mọi người hãy lắng lặng tâm tư để quay về với tuổi thơ, khi còn nhỏ có lẽ ai cũng biết chơi trò đá dế, xem đá dế và cổ động đá dế. Một con dế trống bình thường chỉ thích gáy để ra oai với các nàng dế mái mà không thích đánh nhau, nhưng một khi đã bị con người quay cho chóng mặt rồi thì gặp đâu đá đó, cắn xé điên cuồng với đồng loại. Cuộc đời chúng ta cũng giống như thế, ta bị dòng đời cuốn trôi theo tiền tài, sắc đẹp, quyền cao chức trọng, ăn ngon mặc đẹp, ngủ nhiều nên chúng ta không còn biết chính mình là gì nữa.

Mỗi một ngày chúng ta hãy dành cho mình một chút ít thời gian, một không gian yên tĩnh để quay lại chính mình mà biết cách làm chủ bản thân trong cuộc sống bộn bề với những được mất, hơn thua, phải quấy, tốt xấu. Ta có thể vận dụng thiền trong đời sống hằng ngày bằng cách làm chủ suy nghĩ của mình. Một niệm ác dấy lên ta liền không theo hay trụ tâm vào hơi thở hoặc niệm Phật, Bồ tát để dần hồi chuyển hóa các tạp niệm lăng xăng mà làm mới lại chính mình.

Có một vị thương gia sau nhiều năm lập nghiệp kiếm được rất nhiều tiền và rất thành công. Tuy nhiên, trong thời gian kinh tế toàn cầu khủng hoảng anh bị phá sản rồi nợ nần chồng chất. Cuối cùng, không tìm ra cách giải quyết nên anh định kết liễu cuộc đời. Nửa đêm, anh lần mò ra bờ sông và chợt nhìn thấy một người thiếu nữ xinh đẹp đang ngồi than khóc thảm thương, động lòng hiếu kỳ nên anh đến hỏi cô gái:

“Có chuyện gì mà đêm khuya thanh vắng cô ngồi khóc một mình ở đây?” Cô gái buồn bã nói trong nghẹn ngào, uất ức: “Em bị người yêu bạc đãi nên không còn muốn sống nữa, không có anh ấy em không thể nào sống nổi.” Vị thương gia nghe xong liền lập tức dùng lời khuyên nhủ: “Trước khi quen bạn trai em vẫn bình thường sống một mình mà!” Cô gái vừa nghe xong liền thức tỉnh và cám ơn chàng thương gia rối rít, sau đó bỏ ngay ý định tự tử. Lúc đó, cô gái quay sang hỏi vị thương gia: “Còn anh, sao nửa đêm anh ra đây làm gì?” Vị thương gia hổ thẹn quá nên đành nói dối là chỉ dạo mát ngắm trăng, nhìn dòng sông thơ mộng.

Chàng thương gia và cô gái cả hai đều đánh mất chính mình nên trong cuộc mưu sinh phải chịu vật vã trong khổ đau, thậm chí đến đường cùng đành chọn giải pháp quyên sinh khi mất mát xảy ra. Xét cho cùng cũng chỉ thiệt cho mình mà thôi vì trước khi mất mát chúng ta đâu có gì.

Con người do bám víu vào sắc thân này mà cho là thật ta nên làm cái gì cũng để đáp ứng nhu cầu cho thân. Chúng ta ai sinh ra đời cũng với hai bàn tay trắng, vậy mà khi lớn lên sự chấp ngã ngày càng nhiều nên si mê, sân giận, tham lam chiếm đoạt giành lấy về phần mình làm khổ đau cho nhiều người khác. Chính vì thế, Phật dạy từ con người cho đến muôn loài vật đều chịu sự chi phối của vô thường, thay đổi vốn là bản chất của cuộc đời này để chúng ta bớt làm tổn hại nhân loại.

Ốc sên con một hôm thắc mắc hỏi mẹ: “Mẹ ơi! Tại sao chúng ta từ khi sinh ra phải đeo cái bình vừa nặng, vừa cứng trên lưng như thế mà các loài khác không có như vậy?” Ốc sên mẹ nói: “Vì cơ thể chúng ta không có xương để chống đỡ nên phải mang cái vỏ cứng bên ngoài để bảo vệ thân này.” - “Chị sâu róm cũng không có xương nhưng tại sao chị ấy không cần đeo cái vỏ như mình vậy mẹ?” - “Vì chị sâu róm sẽ biến thành bướm nhờ có đôi cánh nên tung bay đó đây và nhờ bầu trời bảo vệ.” - “Ủa, sao cô giun đất cũng không có xương, cũng không biến hóa được nhưng cô ấy không đeo cái vỏ như mình vậy mẹ?” - “Vì cô giun có khả năng chui xuống đất được nên lòng đất sẽ che chở cô ấy.”

Nghe mẹ nói như thế ốc sên con vừa khóc vừa nói: “Loài ốc chúng ta thật bất hạnh hơn các loài khác vì không có bầu trời bảo vệ và lòng đất cũng chẳng che chở cho chúng ta. Vì vậy mà chúng ta phải đeo cái vỏ nặng nề này.” Ốc sên mẹ mới nói với con rằng: “Chúng ta không dựa vào trời, cũng chẳng dựa vào đất, chúng ta phải dựa vào chính bản thân mình để được sống và tồn tại con ạ.”

Hình ảnh mẹ con ốc sên nói chuyện với nhau về cái vỏ bọc che thân mang ý nghĩa do ngu si chấp thân làm ngã nên phải bị đọa vào loài ốc sên để chịu quả báo. Loài bướm, loài giun được ví như các tín đồ cuồng tín không hiểu lẽ đúng sai của cuộc đời nên chấp nhận đấng tối cao ban phước giáng họa để sống một đời mê muội chẳng hiểu biết gì.

Cuộc sống của muôn loài vật được sinh ra bởi do thói quen chấp trước nhiều đời nên mới có thân tướng, hình dạng khác nhau. Làm người dù xấu xí, đen đúa, khó coi nhưng vẫn tốt hơn các loài vật vì còn biết suy nghĩ, tìm tòi, nghiệm xét, phân biệt tốt xấu, đúng sai. Các loài súc sinh chỉ sống theo nghiệp nên không có khả năng suy nghĩ, do đó chịu sống một kiếp tối tăm, mê muội vì đã hoàn toàn đánh mất chính mình.

Con người hơn các loài vật ở chỗ biết phân biệt, nếu gặp người khác chỉ dạy, nhắc nhở hoặc tự chiêm nghiệm, suy xét sẽ dễ nhận ra sai sót của mình mà thức tỉnh trở lại. Khi chúng ta luôn sống với chánh niệm tỉnh giác thì nhờ vậy ta lúc nào cũng để hết tâm ý vào những gì mình đang tiếp xúc. Chúng ta biết quan sát sự việc đang diễn ra một cách rõ ràng, tường tận và trung thực. Nhờ vậy, ta dễ dàng làm chủ bản thân mà không đánh mất chính mình để bình thản, an nhiên trước mọi xung đột, đổi thay của dòng đời nghiệt ngã.

Khi ta quét dọn nhà cửa hay lau chùi, chúng ta chỉ chú tâm vào việc mình đang làm. Ta biết rõ từng cử chỉ, hành động của mình mà không bị vướng kẹt vào bất cứ đối tượng nào thì việc dọn dẹp nhà cửa cũng được gọn gàng, sạch sẽ và mau chóng hơn.

Khi lái xe cũng vậy, ta phải dùng tâm biết để điều hành mắt nhìn thẳng phía trước hoặc liếc ngang, liếc dọc để quan sát từng diễn biến xảy ra. Tai nghe tiếng còi xe, mắt nhìn thấy đèn xin cho xe qua mặt hoặc quẹo trái, quẹo phải. Tay giữ lái, mắt quan sát, hai chân chủ động đạp số hay thắng để đảm bảo an toàn khi lái xe. Thân ta đang ngồi trên xe còn tâm ý đang nhớ nghĩ chỗ khác nên không làm chủ được tốc độ, do đó dễ gây ra tai nạn, gây thương tổn đến tính mạng và thiệt hại tài sản. Mặt khác, trong lúc lái xe đèn đỏ là cơ hội giúp ta biết dừng lại và tâm trở về với chính mình. Khi gặp đèn đỏ, chúng ta ngồi yên ổn để toàn thân thư giãn nhẹ nhàng giúp cho tâm được an ổn, thoải mái.

Con người do đánh mất chính mình nên mới tham lam, thù hận, ganh ghét, tật đố, vu oan, phỉ báng, tìm cách triệt hạ lẫn nhau. Chính vì vậy, vua Trần Nhân Tông hiểu thấu được lời Phật dạy nên đã từ bỏ quyền lực cao nhất mà giao lại cho con để ra sức tu tập, cuối cùng đạt được giác ngộ, giải thoát. Sau đó, ngài đem tư tưởng Phật học, đặc biệt là Thiền học được đưa vào áp dụng rộng rãi trên khắp mọi miền đất nước nên mọi người nhờ biết quay lại chính mình mà làm chủ từ suy nghĩ cho đến lời nói và hành động. Ngài khuyên tất cả dân chúng quy hướng Tam bảo, giữ gìn năm giới, tu mười điều thiện, phá bỏ những tập tục mê tín và các tín ngưỡng khác có tính cách giết hại. Chính nhờ vậy mà đại đa số người dân đều sống có ý thức, trách nhiệm, thương yêu đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau bằng tình người trong cuộc sống.

Để không đánh mất chính mình chúng ta phải sống tỉnh giác, khi làm việc gì ta phải biết rõ việc đó; khi đi biết mình đang đi, khi uống nước biết mình đang uống nước, khi tiếp xúc với công việc thì biết mình đang làm cái gì… Thông thường, tâm ý chúng ta hay chạy theo những buồn vui, thương ghét nên lúc nào cũng sống trong phân biệt phải quấy, tốt xấu, đúng sai… Chúng ta hay nhớ nghĩ về quá khứ tốt và xấu rồi tiếc nuối những gì đã qua, tương lai chưa đến mà chúng ta lại mơ mộng ảo huyền, hy vọng đạt được những điều tốt đẹp mà trong hiện tại chúng ta lại không chịu gieo nhân thiện lành, do đó đành cam chịu đánh mất chính mình để bị dòng đời cuốn trôi mà làm những điều xấu ác.

Quay lại chính mình để nhận ra tâm Phật thanh tịnh, sáng suốt ở ngay nơi thân mình. Do đó, chúng ta biết cách làm chủ bản thân từ ý nghĩ cho đến lời nói, hành động không làm tổn hại một ai và luôn mở rộng tấm lòng từ-bi-hỷ-xả để đem tình yêu thương chân thật đến tất cả muôn loài bằng trái tim hiểu biết.

Thích Đạt Ma Phổ Giác


Ngón chân cái của chúng ta đang chạm vào lằn ranh thế kỷ XXI, hơn cả thế, còn là ngưỡng cửa của một Thiên niên kỷ thứ ba. Đêm thế kỷ XX đang tàn và bình minh Thiên niên kỷ mới đang hừng sáng. Giờ phút trọng đại đang đến. Trọng đại đến mức có quá nhiều tiên tri đã loan báo về những việc kinh thiên động địa có thể xảy ra:

Nào Chúa có thể giáng thế để mở màn một chương trình cứu độ mới, nào Phật Thích Ca có thể sẽ ngự thiền ngay ở "niết bàn lịch sử", nào Thiên niên kỷ thứ ba sẽ thiết lập con đường của tâm linh... hoặc có thể... có nhiều dự báo to lớn như vậy, nhưng tất cả mới chỉ là giả thuyết.

Song giữa muôn vàn dự báo đó, nổi lên một kế hoạch thực tại bức thiết mãnh liệt trong từng hơi thở của đời sống hiện tại, đó là: con người thế kỷ XXI sẽ ra sao? Tiến bộ thế nào? Và hạnh phúc nhường bao?

Những câu hỏi này không chỉ nằm trên giấy, trong học đường hay các cuộc thảo luận xã hội nữa, mà từng khắc từng giờ, nó đang diễn ra trên các đường phố với nền kinh tế thị trường bon chen kẻ buôn xuôi người bán ngược; diễn ra ở những làng quê yên ả, những tiếng máy động cơ nổ không chỉ dồn đuổi ong bướm dịu dàng, mà còn đang lùa vô vàn những cô gái quê tâm hồn còn non như cốm ra các vành đai, các tổ hợp công nghiệp, các đô thị và thậm chí cả các đường dây buôn phụ nữ, diễn ra ở các học đường, nơi đồng tiền đang lung lạc sách vở, nuôi dưỡng những cái đầu thực dụng, để dồn ép họ đi kiếm ăn non hay thả tâm hồn nông cạn lao vào giải tỏa trong ma túy hoặc các dịch vụ giải trí...

Những quan niệm mở đầu cho nhận thức. Cuộc đời lớn không thể không mưu cầu hạnh phúc lớn. Một hạnh phúc lớn không thể đứng ngoài một tình yêu lớn. Cuối thế kỷ XX, nhân loại đã đạt được hàng loạt sự tiến bộ, dồi dào, phong phú về vật chất, tuy vậy đời sống ngồn ngộn về tiện nghi vẫn chưa cứu vãn nhân loại ra nổi các cuộc khủng hoảng nhân bản, khủng hoảng hôn nhân gia đình, và khủng hoảng về lối sống đang thoái hóa tinh thần...

Muốn có hạnh phúc lớn, thì không thể chỉ có vật chất, người đời vẫn bảo "tiền không mua được hạnh phúc" , nhưng oái oăm thay thế giới của chúng ta đang sống trong nền kinh tế thị trường hóa toàn cầu, trong đó dường như gi gỉ gì gi cái gì cũng bị quy thành tiền. Bằng tiền người ta có thể mua được lạc thú, mua ô tô, thuê bác sĩ, thuê trạng sư... nhưng nỗi cô đơn thì tiền nào cứu nổi! Nỗi bất hạnh càng không! Sự thất vọng liệu có cứu nổi bằng những tấm séc? Tìm một lối sống hạnh phúc trong thời đại mới, nhiệm vụ của chúng ta không phải là phản kháng lại những "cơn sốt" tiến bộ, ai có thể ngăn được cuộc tiến triển của tin học và ai có thể đứng ngoài sự chi phối khắp nơi của nền kinh tế thị trường ngày nay, mà là tìm cách thích ứng với nó trong một tiến trình xây dựng nhận thức mới dựa trên những quan niệm mới. Nào chúng ta hãy lần từng bước một!

Ông bà ta thường nó "gái ham tài, trai ham sắc". Một phụ nữ không biết làm đẹp cho mình thì làm sao có thể quyến rũ đàn ông lao vào cuộc chinh phục tình yêu? Cũng vậy, một người đàn ông không đủ tài để chứng tỏ được mình là đáng nam nhi thì làm sao chinh phục được giới "khăn yếm"?

Cái tài đầu tiên của con người là làm giầu! Tức là "có tiền mua tiên cũng được". Tiền ư? Thời nào chẳng thế? Nhưng không phải vậy, thời buổi kinh tế thị trường đồng tiền đã được quan niệm một cách khác xa! Xưa kia, người ta coi "con hát", "con buôn" là thành phần rất thấp của xã hội. "Con hát" thì "xướng ca vô loài", ế chồng như bỡn. Nhưng ngày nay, ca sĩ lại được tôn vinh lên hàng nghệ sĩ, không chỉ đắt chồng, mà còn đắt vệ sĩ, đắt người theo đuổi, đắt người ngưỡng mộ. Còn "con buôn", ngày xưa mọi người gọi là "thương mại" tức buôn bán là mạt hàng, dần dần, chữ "mạt" được gọi chệch thành "mại". Làm thân con gái cành vàng lá ngọc, người ta chỉ ao ước lấy được chàng học trò thi đỗ để mong được 'võng anh đi trước võng nàng theo sau" vinh quy bái tổ ngày song hỉ. Các cụ ngày xưa, xem tử vi chọn chồng cho con chi xem cung Mệnh, cung Quan, mấy ai thèm ngó đến cung Tài. Nhưng, thời nay, cách nhìn về đồng tiền đã thay đổi. Đồng tiền không chỉ đóng vai đầy tớ hữu dụng, mà còn là thước đo của sự thành đạt căn bản: chuyên môn cao thì lương cao, đi buôn giỏi thì lãi nhiều, lao động nhiều thì được trả công lắm...

Ngày xưa, chẳng hạn người ta nghĩ đi buôn là "cho vay nặng lãi", "cắt cổ"... nhưng ngày nay, các nhà băng không những giúp ích cho sự đầu tư của cá nhân và tập đoàn mà còn ban cho người lao động những ngày nghỉ dựa trên lãi suất... bây giờ ai dám bảo chức giám đốc ngân hàng cũng như các cán bộ ngân hàng là nghề "mạt" nữa... mưu cầu đồng tiền được nâng cao, từ đó tiêu chuẩn hóa giá trị của đồng tiền cũng nâng cao, và danh dự của đồng tiền cũng tăng lên. Thời nay, đã không ít người coi "nghèo là hèn" vì lười lao động hay hãm tài, và khi đó đồng tiền trở thành động năng kích thích sự ganh đua tiến bộ của xã hội.

Song tấm huân chương luôn có mặt trái. Có nhiều gia đình cũng như trào lưu xã hội, sau khi hoàn tất cuộc chạy đua kinh tế và tiện nghi cho gia đình, lúc ấy thư thả mới quay lại ngắm nhau, mong tận hưởng mùa gặt hạnh phúc sau mùa bội thu vật chất, thì than ôi những tiện nghi trong gia đình đã xua mất hơi ấm ra khỏi cửa từ lúc nào không hay. Đây là bi kịch không chỉ xảy ra loanh quanh trong tầm nhìn cảm tính của chúng ta, mà ở khắp nơi thế giới đang phải chịu đựng cuộc khủng hoảng này bị sản sinh trong nguyên lý: nhu cầu làm giầu dẫn theo nhu cầu tiêu thụ; việc tiêu thụ không biên giới dẫn theo nhu cầu tiêu thụ; việc tiêu thụ không biên giới dẫn con người lạc mãi vào các cuộc chạy đua xa hoa, khi đó tình yêu bị rớt từ trên ngai cao cả của tâm hồn xuống chiếc ghế đệm đầy tiện nghi của lạc thú.

Và khi tình yêu đánh mất đức mã thượng của tâm hồn, như quên mình, thương xót và chịu đựng... thì nó đành bó tay trước mọi rủi ro: nào chàng bị sa thải, nàng thất nghiệp; hay chàng mất chức, nàng xuống sắc, hoặc chàng lầm lỗi, nàng dại dột... mỗi biến cố nhỏ đều gây sóng gió trong gia đình nơi mà mọi mạch vữa đã trở nên lỏng lẻo, trong khi xưa kia những biến cố đó chỉ nổi lên giống những cánh bèo bị nhấn chìm tan rữa giữa hai dòng thác yêu thương lúc nào cũng đổ ào ào...

Đến đây, chúng ta đã có thể tìm kiếm một kết luận. Hình ảnh của một con người và một tình yêu thế kỷ XXI sẽ là gì? Tất nhiên, làm giầu mong muốn giầu có sẽ là khát vọng chính đáng, song bằng một trí tuệ của kỷ nguyên đỉnh cao tiến bộ, con người càng có một nhận thức toàn thể về tiền bạc, rằng: "đồng tiền là một đầy tớ tốt , nhưng là một ông chủ tồi". Người ta sẽ có nhiều tiền như có nhiều đầy tớ phục vụ đời sống của mình, nhưng không coi đồng tiền là cứu cánh của cuộc sống - ở đó trên con đường truy lùng nó người ta phải đánh rơi tất cả từ danh dự đến tình yêu và hạnh phúc.

Con người sẽ sống đầy đủ hơn trong hằng hà những tiện nghi vật chất - vì đó là thành quả của khoa học kỹ thuật - song người ta sẽ không để tiện nghi bóp méo tinh thần của mình thành một "đồ chơi thực dụng". Và trong hàng loạt các cuộc khủng hoảng ngày nay, như hôn nhân tan vỡ, ái tình thất sủng, sống ly thân, sống độc thân, đồng tình luyến ái... con người càng nhận ra: vật chất cũng như thể xác không thể cứu chuộc toàn bộ đời sống; cái cứu chuộc đời sống chính là thiên sứ tâm hồn. Vậy người ta sẽ đào luyện tâm hồn bằng ngả nào? Bằng giáo dục - con người thế kỷ XXI sẽ coi trọng giáo dục như nền tảng căn bản của tâm hồn; bằng văn hóa - đó là nghệ thuật, văn học, sách vở, người ta sẽ không chỉ để ý đến thức ăn thuần túy miếng ngon thức béo nữa mà còn tìm kiém những "thực phẩm thiêng liêng" cho tâm hồn...

Tóm lại, hình mẫu con người thế kỷ XXI sẽ là gì? Là danh dự cao, tình yêu lớn và hạnh phúc vẹn toàn! Muốn có danh dự cao, ít nhất phải có chuyên môn cao, giỏi tay nghề, theo đuổi sứ mệnh lớn. Muốn có tình yêu lớn phải có một lòng nhân ái lớn được dựng lên từ cả hai phía: vật chất dồi dào và tâm hồn cao cả.

Thế kỷ XXI sẽ có nhiều biến đổi ngoài dự kiến của con người, nhưng tôi tin chắc rằng những giá trị danh dự, tình yêu, hạnh phúc chỉ là con đường đi tiếp tục cuộc hành trình của quá khứ nhắm lên cao, ngước lên cao và phóng lên cao.

Từ thời Trung Quốc cổ đại, vốn tục ngữ trong tiếng Trung đã rất phong phú. Một câu tục ngữ nhỏ có thể khiến cho tâm trí con người trở nên đơn giản hơn đúng lúc, để có thể sáng tỏ được chân lý.

Nguồn gốc của câu tục ngữ: "Bắt trộm một con gà mỗi tháng" là câu của một người tên là Mạnh Tử sống giữa những năm tháng thời Xuân Thu.

Đái Anh, một viên quan ở nước Tống thời Xuân Thu, ra quyết định giảm thuế. Ông hỏi Mạnh Tử, “Ta muốn giảm thuế. Mà chúng ta không có đủ kinh phí để giảm thuế nhiều như ta mong muốn. Ngươi nghĩ sao nếu chúng ta năm nay giảm ít và chờ đến năm sau mới giảm thuế đầy đủ?” Mạnh Tử nói, “Có một người hay ăn trộm một con gà bên hàng xóm mỗi ngày. Người ta nói với anh ta rằng, "Đây không phải là điều mà một người có đạo đức nên làm. "Vậy thì tôi sẽ ăn trộm ít gà hơn" Anh ta trả lời, "Tôi sẽ chỉ ăn trộm một con gà mỗi tháng và năm sau tôi sẽ không ăn trộm bất cứ một con nào nữa. Khi anh ta biết anh ta làm sai, anh ta cần phải dừng lại ngay. Sao phải chờ đến tận năm sau?”

“Bắt trộm một con gà mỗi tháng”, câu tục ngữ nhắc nhở những người biết rằng mình đang làm sai mà lại không sửa ngay. Đôi khi việc này rất khó, nhưng khi chúng ta nghĩ đến câu tục ngữ đơn giản này, có thể những suy nghĩ phức tạp của chúng ta sẽ trở nên đơn giản và chúng ta có thể tìm được con đường để biến thói quen tiêu cực trở thành một kinh nghiệm để học tập sau này.

Mạnh Tử rất giỏi trong việc dùng những việc tương đồng để diễn đạt ý mình. Ông nói rằng trị vì một đất nước là một việc đơn giản và chỉ là việc người cai quản có muốn cố gắng hay không. Tuyên Công ở nước Tề, cũng vào thời Xuân Thu, hỏi ông rằng, “Ngươi có thể nói ra sự khác biệt giữa thiếu cố gắng và không có khả năng không?” Mạnh Tử trả lời, “Nếu ai hỏi ngài rằng ngài có thể mang núi Thái Sơn trong tay và nhảy qua biển Bắc, và ngài nói, 'Ta không làm được,' thì đó là bởi vì ngài thực sự không làm được. Nhưng nếu ai hỏi ngài có thể bẻ một cành cây không, và ngài nói 'Ta không thể làm được,' đó là thiếu cố gắng. Trị vì một vương quốc không khó như mang núi Thái Sơn trong tay và nhảy qua biển Bắc. Nó cũng dễ như là bẻ một cành cây. Vì ngài muốn chăm sóc hoàng thân quốc thích của mình, ngài chăm sóc cho người thân của tất cả mọi người. Vì ngài muốn tốt cho con cháu của mình, ngài cũng tốt với tất cả mọi trẻ em trên đời. Nếu ngài làm được như vậy, ngài sẽ giữ được vương quốc của mình trong lòng bàn tay.”

Câu chuyện trên nói lên rằng, khi trung thực với người khác và trung thực với bản thân mình, thì một người có thể thấy được bản chất thực sự của mình. Khi từ bi với người khác và bảo trì một trái tim vị tha, một người có thể làm những việc lớn lao.

Những câu chuyện nhỏ này rất đơn giản, nhưng hàm ý sâu sắc bên trong còn sống mãi qua hàng thế kỷ.

Nguồn: Mạnh Tử

Một người đã sống qua ở Nhật cho biết người Nhật trong khi giao thiệp, nhất là trong khi làm kinh tế cũng có nhiều quái chiêu không thể thương được. Đầu cơ, móc ngoặc, hối lộ, nói chung là đi đường tắt... trò gì cũng có cả.

Nhiều người trong đám dân đi chào mời tiếp thị (gọi là “mizu shobai”), như có bùa mê thuốc lú, làm cho người ta phải xiêu lòng, rồi sau mới biết mình bị lừa.

Bài viết so sánh: “Cái tinh ma thâm độc của họ khác với cách xảo trá ngô nghê hay dối quanh của người Việt, nên lúc đầu rất khó nhận ra”.

Có chút gì đó vừa “vui” vừa buồn khi nghe nhận xét trên đây. “Vui” vì không phải chỉ người Việt thích lừa lọc nhau, thiên hạ cũng xấu chẳng kém gì ta. Mà buồn vì hóa ra người Việt mình rút cục chỉ biết mẹo vặt, chứ không có cái mưu đồ sâu xa, cái thâm trầm như thiên hạ.

Hơn bù kém, thấy đáng buồn hơn vui. Người bị lừa vừa bật cười vừa bực mình – đến lừa mà cũng vụng dại hớ hênh, thì còn làm được cái gì nên hồn (!).

Người nước ngoài thường nhận xét nói chung người Việt mình thông minh lanh lợi. Nhưng họ cũng thấy ngay sự nhạy cảm nhanh nhẹn trong phản ứng này không dựa trên một sự suy nghĩ chắc chắn mà có gì đó nông nổi vội vã. Trong sự chủ động lại như mang sẵn yếu tố thị động.

Bản thân chúng ta không phải không biết điều đó.

Trong tiếng Việt từ “khôn” không hàm ý sâu sắc trong tư duy và uyên bác trong kiến thức, mà ngã sang một sự tính toán lặt vặt dễ gây phản cảm.

Đó là nghĩa của “khôn” trong những câu tục ngữ “khôn ăn người, dại người ăn”, “khôn văn tế, dại văn bia”, “khôn chẳng qua lẽ, khỏe chẳng qua lời”, “khôn sống, mống chết”, “khôn nên quan, gan nên giàu”, “khôn ngoan chẳng lọ thật thà – lường thưng tráo đấu chẳng qua đong đầy”…

Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “khôn” là khả năng suy xét để một người tìm ra một cách xử sự có lợi nhất, tránh được những gì có hại đến quyền lợi các mặt của anh ta. Khôn lỏi – ranh ma – láu cá… đều là thực dụng và vụ lợi.

Tuy không dùng đến từ khôn, nhưng câu “Ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau” thật đã thâu tóm đủ cái tài tính toán của người mình và minh họa cho định nghĩa nói trên.

Tồn tại trong suốt lịch sử, công thức này đã thành một thứ “chân lý mặc định”, người Việt dùng nó để “minh triết bảo thân” và việc truyền dạy trong các gia đình được xem là hoàn toàn tự nhiên. Không ai mang nó ra phê phán bao giờ. Gặp một người hành động theo nguyên tắc đó, chúng ta hoàn toàn thông cảm, trong bụng hiểu rằng ai cũng phải xử sự thế thôi, trông người khôn ta phải học theo để khi khác áp dụng.

Cả trong truyện kể dân gian lẫn trong chính sử, người xưa còn ghi lại nhiều mưu mẹo vặt của người mình trước sứ Tàu. Nguyễn Văn Tố trong Đại Nam dật sử (1944) kể khi tiếp Tống Cảo, Lê Hoàn cho xua trâu bò của dân ra để dọa, gọi là quan ngưu, không đầy một nghìn nói khoe là mười vạn. Đấy là khi cần khoa trương thế lực. Còn nói tới việc khoe trí khôn, hẳn ai cũng nhớ sự tích Trạng Quỳnh thi vẽ: Quỳnh chấm cả mười đầu ngón tay vào mực để vẽ giun.

Về khoản khôn ngoan ranh vặt thì Trạng Quỳnh là cả một tượng đài vĩnh viễn. Trong danh sách những điển hình của tính cách Việt, nhân vật này bao giờ cũng đứng đầu sổ.

Thời xã hội mới bước sang giai đoạn xã hội hóa, Nguyễn Công Hoan được biết tới như một ngòi bút giàu chất An Nam bậc nhất. Người Việt trong các tác phẩm của ông đôi khi cũng ngớ ngẩn, ngờ nghệch, nhưng phổ biến và được ông diễn tả hơn cả là loại láu cá và rất giỏi biến báo trong đối xử. Như viên tri châu nọ, trong truyện sáu mạng người, sau khi bắn nhầm mấy người dân đi hái thuốc, thì vu cho người ta là giặc khách để báo lên quan trên lấy thưởng. Như gã nhà giàu nọ, có ông chú từ quê lên chơi, muốn đuổi, liền kêu ầm lên mất ví để buộc ông ta phải bỏ về sớm. Và như trường hợp cụ Chánh Bá có đôi giày cũ, nhân đi ăn giỗ, bắt thằng nhỏ vứt béng ra sau vườn, để bắt vạ nhà chủ, buộc người ta mua đền đôi giày mới.

Các nhân vật nông dân của Nguyễn Khải loại như Tuy Kiền cũng nổi tiếng là ranh ma. Trong việc tính toán giành lấy một chút lợi riêng, họ ở vào thế yếu. Luôn luôn họ phải che giấu, lẩn tránh và tìm ra mưu mẹo để tự khẳng định. Họ thường hiện ra vừa đáng yêu, vừa đáng ghét.

So với “khôn lỏi, “ranh vặt”, thì “tinh tướng” có nghĩa hơi khác một chút, nó được dùng để chỉ những người không những đã khôn mà còn muốn phô ra để cho người khác biết. Đọc Ngô Tất Tố hẳn ai cũng nhớ mẩu chuyện Làm no hay là cái ăn trong những ngày nước ngập. Cái việc khoe rằng, mình có sáng kiến chế biến đất ra đủ các loại thức ăn chính là dấu hiệu của một lối xử thế tinh tướng, dù ở đây, người ta thấy ghét thì ít mà tội nghiệp nhiều hơn.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.