bài viết trong chuyên mục "Phật Bồ Tát"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Bồ Tát. Hiển thị tất cả bài đăng

 

Người sinh tháng nào dễ dàng được Bồ Tát phù hộ độ trì trọn đời MAY MẮN?

Trong cuộc sống, mỗi sự việc xảy ra, mỗi lần kỳ ngộ đều là do số mệnh quyết định. Những người sinh vào tháng nào thì thường được Bồ Tát phù hộ, vận mệnh tốt đẹp, cùng pg khám phá nhé! 


Nguoi sinh thang nao de dang duoc Bo Tat phu ho hinh anh 2
Bồ Tát phù hộ người sinh tháng nào

Những người được sinh ra vào 1 trong 3 tháng dưới đây thì được Bồ Tát phù hộ, trọn đời may mắn.

Tháng 1 âm lịch


Tháng Giêng tượng trưng cho mệnh âm sát (âm khí) bị đẩy lùi, ánh mặt trời chiếu rọi khắp nơi. Hơn nữa, theo văn hóa Phật Giáo thì tháng Giêng âm lịch cũng chính là tháng sinh của Khổng Tử và Phật Di Lặc, vậy nên, những người sinh vào tháng này thường đề ra những mục tiêu có xu hướng hướng tới Phật.

Không chỉ vậy, những người sinh vào tháng Một âm lịch thì trời sinh bản tính lạc quan, sẵn sáng hành đồng vì lợi ích của người khác hơn là lợi ích của bản thân, lúc trẻ có chút khó khăn thiệt thòi nhưng lớn lên sẽ được sung sướng, hạnh phúc.

Những người này phải trải qua 81 kiếp nạn của đời người, đó là định mệnh, đặc biệt là những người sinh vào ngày mùng 6, luôn có Di Lặc Bồ Tát bảo hộ, nhiều lần trải qua vất vả nhưng trung vận được sống trong giàu sang phú quý, trường thọ bách niên.

Tháng 4 âm lịch


Những người sinh vào tháng này thường thông minh tài trí hơn người, cả đời xuôi ngược nhưng lại gặp nhiều may mắn. Phương diện sự nghiệp có nhiều quý nhân hỗ trợ, có sự ổn định, vững vàng, được Bồ Tát phù hộ, độ mệnh nên cả đời bình an.

Mối nhân duyên với người khác phái cũng khá tốt đẹp, những người này dành nhiều tình cảm cho trưởng bối và đồng nghiệp, mối quan hệ với cha mẹ cũng khá tốt.

Bên cạnh đó, sức khỏe của những người sinh vào tháng 4 cũng rất tốt, vận khí cũng tốt, cả đời thuận lợi, không gặp phiền não. 

Nguoi sinh thang nao de dang duoc Bo Tat phu ho hinh anh 2
Ảnh minh họa

 

Tháng 12 âm lịch


Những người sinh vào tháng Chạp thường gặp nhiều may mắn do được Bồ Tát phù hộ, rất hiếm khi gặp chuyện không như ý, sức khỏe ổn định, ít khi bị bệnh.

Sự nghiệp cũng ổn định, tuy rằng phát triển không lớn, không nhanh nhưng có sự vững chắc, cuộc sống cũng rất thoải mái.

Những người may mắn này cũng yêu tự do, không thích bị kìm cảm, linh hoạt trong công việc, cả đời không phải lo lắng về vấn đề tiền bạc, vô tai vô họa, bình an cát tường.

 

Sự thật thú vị khiến ai cũng tò mò vì sự kỳ bí của Xá lợi

 Có khá nhiều đặc điểm đặc trưng của Xá lợi lạ lùng và khó giải thích mang tính tâm linh cho dù khoa học đã cố gắng tìm cách phân tích nhưng vẫn chưa thể tìm ra câu trả lời chính đáng.
Càng hiểu Xá lợi là gì chúng ta các tò mò về những đặc điểm đặc trung của Xá lợi vì những tính chất khác lạ và khó giải thích của nó.


-  Viên Xá lợi đầu tiên được tìm thấy trong tro cốt của đức Phật Thích Ca Mâu Ni sau khi ngài viên tịch. Tổng số Xá lợi Phật ước tính đến nay có chừng 84.000 viên và được coi là một bảo vật quý giá nhất của Phật giáo.

- Tất cả những gì thuộc về Phật tổ và các vị Thánh tăng như y bát, tóc, móng tay… cũng được xem là xá lợi. 

- Khi hỏa thiêu, người bình thường thì chỉ qua độ nóng mấy trăm độ đã biến thành tro nhưng Xá lợi có được mang ra lửa đốt không cháy, chày kim cương đập không nát. Thậm chí qua nhiệt độ 1.000 độ C Xá lợi vẫn không tan chảy. 

Dac diem dac trung cua Xa loi
 
Sự hình thành xá lợi được cố gắng giải thích qua phương diện khoa học nhưng giả thuyết sau có vẻ hợp lý hơn: có thể là sự kết hợp của cả ba giả thuyết: ăn chay và ngồi thiền; sỏi bệnh lý; và sự tinh thể hóa xương khi điều kiện hỏa táng phù hợp.

- Tuy nhiên cần nhấn mạnh tính “may rủi” của sự kết hợp này: Đó là một quá trình ngẫu nhiên mà sự xuất hiện tùy thuộc vào nhiều yếu tố đôi khi không kiểm soát được. Có lẽ vì thế mà không phải vị cao tăng nào cũng có Xá lợi.

- Một trong những đặc điểm đặc trung của Xá lợi mang tính tâm linh màu nhiệm: Xá Lợi rất quý, nhưng nếu không biết cách gìn giữ thì Xá Lợi sẽ tự động giã từ mà trở về chốn cũ.

Vì thế, người nào có phước thờ Xá lợi thì Xá lợi sẽ tự lớn lên. Còn người nào vô phước mà thờ Xá lợi thì Xá lợi bay bổng đi nơi khác, mặc dù đang được cất giữ trong tháp.  

- Theo các cao tăng: Xá lợi là báu vật biểu trưng như Đức Phật còn tại thế. Nếu chúng ta dùng tâm vô nhiễm, cung kính lễ bái, cúng dường, tán thán thì được phước đức vô lượng, vô biên. 

- Phân loại Xá lợi:

Kinh Dục Phật Công Đức chia Xá lợi Phật làm hai loại: 1/ Sinh thân xá lợi (di cốt) và 2/ Pháp thân xá lợi (giáo pháp, giới luật).

Sách Pháp Uyển Châu Lâm phân biệt ba loại xá lợi Phật: 1/ Xương (Cốt xá lợi), màu trắng; 2/ Tóc (Phát xá lợi), màu đen; và 3/ Thịt (Nhục xá lợi), màu đỏ.
 
xa loi o co tu Vien DInh tu sinh soi
 
- Đặc tính Xá lợi:

1/ Có nhiều màu sắc: trắng, vàng, xanh, lục, hồng…

2/ Có nhiều hình dáng như hình các mảnh xương, hình hạt gạo, hạt đậu…

3/ Các viên xá lợi nhỏ có thể nổi lên mặt nước và có thể thu hút các viên khác nổi lên;

4/ Có thể tăng giảm số lượng;

5/ Có thể thay đổi màu sắc, kích cỡ;

6/ Phần lớn đều nhẹ so với kích cỡ.

- Rất nhiều nơi trên thế giới tôn thờ xá lợi rất cung kính. Có những nước thuê cả máy bay đi rước xá lợi. Có những nhà chùa huy động cả đoàn lớn các quý thầy và phật tử thành kính rước Xá lợi. 

Tác dụng của xá lợi đó là mang lại cho ta sự thanh tịnh. Khi chiêm bái xá lợi, tâm ta sẽ được tịnh hóa rất nhiều  vì “mỗi phần nhục thân và xá lợi của các Ngài chứa đựng một năng lực mầu nhiệm có thể làm căn lành tăng trưởng và nghiệp ác giải trừ”.

- Tại Việt Nam, ngôi chùa có nhiều Xá lợi nhất đó là Chùa Viên Đình hay còn tên gọi khác là Tổ Đình Vĩnh Long, ở thôn Kẹo, xã Đông Lỗ, huyện Ứng Hòa, Hà Nội.

Nơi đây có 30 ngọn tháp chứa cả nghìn viên Xá lợi do nhiều trung tâm Phật giáo trên thế giới cúng dường. Tại đây, những hạt ngọc xá lợi ở chùa đã và đang sinh sôi nảy nở, màu sắc cũng càng thêm lấp lánh, phát hào quang rực rỡ. 

Ba mươi hai tướng:

1.Dưới lòng bàn chân bằng phẳng.

2.Dưới bàn chân có hình bánh xe ngàn cọng.

3.Các ngón tay búp măng dài đẹp.

4.Gót chân no tròn.

5.Ngón tay ngón chân có màng da liền lạc.

6.Tay chân mềm mại.

7.Bắp chân như chân nai chúa.

8.Xương mắt cá chẳng lộ bày.

9.Đứng thẳng tay dài quá đầu gối.

10.Ngọc hành ẩn kín như mã vương.

11.Thân hình đầy đặn như cây Ni-Câu-Loại.

12.Lông trên mình mướt đẹp.

13.Mỗi mỗi sợi lông đều xoay về phía mặt.

14.Thân mình màu vàng rực.

15.Thân thường có ánh sáng chiếu xa một tầm.

16.Da thứa mịn màng, bụi đất không dính.

17.Bảy chỗ hõm như: hai lòng bàn lòng tay, hai lòng bàn chân,

hai vai, sau ót đều đầy đặn.

18.Phần trên của thân như thân sư tử chúa.

19.Cánh tay, khỉu tay, bả vai tròn trịa.

20.Các khớp xương đầy đặn, bằng phẳng.

21.Thân thể cân đối.

22.Bốn mươi cái răng.

23.Răng khít khao chẳng thưa hở.

24.Răng sắc trắng tinh.

25.Cằm vuông vức như cằm sư tử chúa.

26.Nước miếng ngon ngọt.

27.Tướng nhục kế trên đảnh đầu.

28.Lưỡi dài và rộng, có thể che đến chân tóc.

29.Tiếng nói trong trẻo thanh tao.

30.Mắt sắc xanh biếc.

31.Mắt tựa như mắt ngưu vương.

32.Tướng lông trắng giữa chặn mày (bạch hào).

Tám mươi vẻ đẹp:

1.Tướng Vô kiến đảnh.

2.Mũi cao nhưng chẳng lộ hai lỗ mũi.

3.Lông mày đẹp như trăng đầu tháng.

4.Vành tai dài rũ xuống.

5.Thân vững chắc như Trời Na-La-Diên.

6.Các đốt xương giao nhau như móc câu.

7.Trông lại được phía sau.

8.Khi đi chân cách đất 4 tấc mà vẫn hiện dấu.

9.Móng tay, móng chân như sắc đồng đỏ.

10.Đầu gối vững chắc tròn đẹp.

11.Thân trong sạch.

12.Thân dịu dàng mềm mại.

13.Thân không cong vẹo.

14.Ngón tay, ngón chân tròn có màng da liền lạc.

15.Lằn chỉ trên ngón tay được che khuất.

16.Các gân mạch ẩn sâu không hiện.

17.Mắt cá không lộ bày.

18.Thân thể tươi nhuận.

19.Thân tự giữ ngang.

20.Thân đầy đặn.

21.Uy nghi toàn vẹn nghiêm túc.

22.Dáng dấp đầy đặn.

23.Khi đi đứng an ổn, không lay động.

24.Uy đức lừng lẫy.

25.Chúng sanh được gặp rất sanh ưa thích.

26.Gương mặt không dài lớn.

27.Dung mạo đoan chánh, sắc mặt chẳng nhăn.

28.Mặt đầy đặn.

29.Môi đỏ tươi, đẹp như trái tần bà.

30.Tiếng nói sâu xa.

31.Rún tròn đẹp và lún sâu vào.

32.Lông trên mình xoay về phía phải.

33.Tay chân đầy đặn.

34.Tay chân như ý.

35.Lằn chỉ trên tay sáng thẳng.

36.Lằn chỉ tay dài.

37.Lằn chỉ tay chẳng đứt quãng.

38.Những người ác tâm được gặp đều vui mừng.

39.Mặt vuông đẹp.

40.Mặt trong sáng như trăng rằm.

41.Chiều ý chúng sanh mà nói lời hoà vui.

42.Từ lỗ chân lông phát ra mùi thơm.

43.Trong miệng phát ra mùi thơm.

44.Dáng dấp oai hùng như sư tử chúa.

45.Tới lui như voi chúa.

46.Tướng đi như Nga vương.

47.Đầu tròn đẹp như quả Ma-Dà-Na.

48.Diễn nói một thứ tiếng mà đầy đủ cho tất cả.

49.Bốn cái răng cấm trắng và bén.

50.Lưỡi sắc đỏ tươi.

51.Lưỡi mỏng.

52.Lông màu hồng.

53.Lông mềm mại sạch sẽ.

54.Con mắt dài rộng.

55.Hậu môn có đủ tướng.

56.Tay chân trắng đỏ như màu hoa sen.

57.Rún chẳng lộ bày.

58.Bụng thon thon.

59.Bụng chẳng lộ.

60.Thân vững vàng không nghiêng ngả.

61.Thân giữ sức nặng.

62.Thân lớn hơn người thường.

63.Thân cao hơn người thường.

64.Tay chân mềm mại, láng sạch.

65.Ánh sáng nơi thân chiếu ra bốn bên cách khoảng một tầm.

66.Đi có hào quang chiếu sáng.

67.Bình đẳng xem khắp chúng sanh.

68.Không khinh khi chúng sanh.

69.Tiếng nói tùy tâm chúng sanh, không thêm không bớt.

70.Nói pháp không vướng mắc.

71.Theo lời lẽ của chúng sanh mà thuyết pháp.

72.Phát âm đúng với các giọng, các tiếng.

73.Theo thứ tự nói pháp cho người có nhân duyên.

74.Chúng sanh xem tướng Phật không thể xiết.

75.Xem tướng Phật không nhàm chán.

76.Tóc dài đẹp đẽ.

77.Tóc không rối.

78.Tóc xoắn đẹp.

79.Tóc màu như thanh châu.

80.Tay chân biểu lộ tướng phước đức.

(Trích Kinh Bồ Tát Thiện Giới)

Ý nghĩa ba ngày Vía của Bồ tát Quán Thế Âm – 19/02,19/06,19/09

Quán Thế Âm (Avalokitesvara) là vị Bồ tát với hạnh nguyện luôn lắng nghe tiếng kêu khổ đau của cuộc đời rồi tìm cách cứu giúp chúng sinh. Theo kinh Pháp Hoa, Bồ tát có khả năng thị hiện vô biên thân, tùy theo hoàn cảnh và điều kiện mà hiện thân tương ứng để cứu độ muôn loài.
HỎI:
Bạch quý thầy, con thường mới chỉ biết tới ngày Khánh Đản của Đức Quán Thế Âm Bồ tát chứ chưa biết các ngày còn lại và ý nghĩa của các ngày vía này. Xin quý thầy giảng giúp chúng con hiểu ạ!
ĐÁP:
Trước tiên, chúng ta hãy cùng tìm hiểu xem Bồ tát Quán Âm là ai, Bồ tát của Hạnh nguyện gì, và tại sao có 3 ngày vía, kinh của ngài là gì, và các hình tướng của Bồ tát Quán Thế Âm, Bồ tát Quán Âm ở Việt Nam hiện diện qua hình tướng nào, xin quý Phật tử hay nghiên cứu theo đọc thật kỹ để thấu hiểu.
Bồ Tát Quán Âm là ai?
Bồ tát Quán Thế Âm, còn được gọi là Bồ tát Quán Tự Tại (Avalokitesvara Bodhisattva) chỉ xuất hiện và xuất hiện khá nhiều trong các kinh điển Đại thừa như Hoa nghiêm, Lăng nghiêm, Pháp hoa, Bát nhã Tâm kinh, Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương, Đại Từ Đà la ni, Chuẩn đề Đà la ni… và rất nhiều các ký, sớ, giải, luận về Bồ tát. Ngài được xem là vị Đại bi (trong kinh Pháp hoa) nguyện cứu độ tất cả chúng sinh và Đại trí (trong Bát-nhã Tâm kinh) liễu ngộ năm uẩn đều là không.
Tượng Phật Quan Âm tại India, Nalanda

Tượng Phật Quan Âm tại India, Nalanda

Các kinh điển trên đều nói đến Bồ tát Quán Thế Âm với hình tướng nam tính, nam giới chứ không phải nữ giới. Bồ tát tượng trưng cho từ bi và trí tuệ. Ngài nghe hết tiếng kêu khổ, tiếng niệm danh hiệu ngài, tiếng cầu xin ngài để được như ý muốn, được cứu độ khỏi khổ đau, tai nạn…
Bồ-tát Quán Thế Âm được quan niệm là hình ảnh phụ nữ, là mẹ, là Phật… có lẽ dính dáng đến nguyên lý Mẹ mà rất nhiều văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo… theo đó đều có các thánh nữ. Đặc biệt, trong Phật giáo Mật tông Tây Tạng có thờ thánh mẫu Tara gồm nhiều vị. Truyền thuyết cho rằng vị Tara được sinh ra từ nước mắt của Đức Quán Thế Âm; rằng trong kiếp xa xưa, mẹ Tara đã là một vị công chúa quyết tâm tu, quyết giữ hình hài nữ giới cho đến khi thành Phật. Xin nói thêm, thánh nữ Tara còn được hiểu là hàng chục vị, có thể đến hơn một trăm vị, được phân biệt theo màu sắc của các tranh tượng. Tara màu xanh (Lục độ Tara) là vị tiêu biểu nhất.
Ý nghĩa cứu khổ cứu nạn vẫn được coi là tượng trưng cho hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm.

Ý nghĩa cứu khổ cứu nạn vẫn được coi là tượng trưng cho hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm.

Trong kinh Pháp hoa, phẩm Phổ môn, nêu rất rõ và rất ấn tượng về ý nghĩa cứu khổ cứu nạn vẫn được coi là tượng trưng cho hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm.
Kinh cho ta thấy Bồ tát Quán Thế Âm là hình tượng nổi bật nhất của Đại Từ bi; những hóa thân của ngài gồm 33 hay 35 hình tướng để có thể thuận tiện cứu khổ cho chúng sinh. Lòng Đại từ bi ấy có thể xem như lòng mẹ đối với con cái, lại phù hợp với truyền thống của nhiều tôn giáo có một vị nữ được ví như là Mẹ của tất cả: Đức mẹ Kali, Đức mẹ Maria, Đức Mẫu… Do đó, mặc dù Bồ tát Quán Thế Âm có thể hóa thân thành Phật, Bích chi, Thanh văn, Phạm vương, Tự tại thiên, Đại Tự tại thiên, Đại tướng quân, Tỳ sa môn Thiên vương… Tiểu vương, Trưởng giả, Cư sĩ, Tể quan, Bà-la-môn, nam nữ Tỳ kheo... nét nổi bật nhất của hóa thân ngài vẫn là hình ảnh phụ nữ, hình ảnh mẹ hiền.
Kinh điển Đại thừa, đặc biệt là kinh Pháp hoa, được truyền sang Trung Quốc, các bản dịch chính kinh và phụ kinh của kinh này được phổ biến khá rộng từ năm 255 đến năm 601. Và quan niệm Bồ tát Quán Thế Âm mang hình tướng nữ giới được hình thành dần dần, đến đời Đường (618-907) thì hình tướng này hình như hoàn toàn phổ biến, nhất là trong giới bình dân, tạo thành một tín ngưỡng quan trọng.
Vì sao có 3 ngày vía Bồ Tát Quán Âm?
Hằng năm Phật tử khắp nơi trên thế giới thường làm lễ vía Bồ tát Quán Thế Âm thật trang nghiêm vào các ngày: 19/02, 19/06 và 19/09 đều theo âm lịch.
Nhưng đa phần chỉ biết suông là lễ vía Quán thế Âm thế thôi!
Thực ra trong Thiền môn nhật tụng cổ xưa đã ghi rõ:
Ngày 19/02 là vía Quán thế Âm Đản Sanh.
Ngày 19/06 là vía Quán thế Âm Thành Đạo.
Ngày 19/09 là vía Quán thế Âm Xuất Gia.
Mong rằng bài viết này sẽ đem đến cho quý độc giả niềm tin chân chính và thành khẩn, luôn luôn tưởng niệm đến danh hiệu Quán thế Âm Bồ tát để được giao cảm hằng thường với Bồ tát, dù tai họa đến đâu Hữu Cầu Tắc Ứng.
Hãy chánh tín, lời nói của Chư Phật không bao giờ hư dối.
Nếu muốn biết đường lối thực hành theo Tông chỉ Bồ tát Quán Thế Âm thì chúng ta cùng nhau tham khảo bài yếu chỉ Phẩm Phổ Môn, phẩm thứ 25, kinh Diệu Pháp Liên Hoa của Thiền sư Thích Duy Lực biên soạn :
 PHẨM PHỒ MÔN
Thứ Hai mươi Lăm.
Phổ môn là phổ biến thị hiện sức dụng thần thông của Tự tánh.
Vô Tận Ý Bồ Tát hỏi Phật: "Quán Thế Âm Bồ Tát vì nhân duyên gì tên là Quán Thế Âm?"
Phật bảo: "Nếu có vô lượng chúng sanh chịu các khổ não, nhứt tâm xưng danh (nhứt tâm là chẳng có niệm nào khác) thì sức dụng Tự tánh Quán Thế Âm hiện ra, tất cả đều được giải thoát nên gọi là Quán Thế Âm, cũng gọi là Tự tánh tự độ".
Sức dụng của Tự tánh được hiện ra thì vào lửa chẳng cháy, xuống nước chẳng chìm, dao chém chẳng đứt, thuốc độc chẳng giết được, ác quỉ chẳng hại được, lìa được tất cả tham sân si và tà kiến.
Năm thứ quán của Bồ tát Quán Thế Âm là gì?
1. Chân quán: là lập Chân để phá Vọng. Trước tiên phải xoay cái Tánh nghe trở về Tự tánh, thoát lìa âm thanh (sở nghe). Sở nghe đã tiêu thì Năng nghe cũng hết. Nên hai tướng động tịnh chẳng sanh, do đó sự dụng của lục căn (sáu giác quan) dung thông lẫn nhau gọi là nhĩ căn viên thông cũng gọi là "phản văn văn Tự tánh".
2. Thanh tịnh quán: Là dùng thanh tịnh để đối trị sự ô nhiễm của năng sở. Năng nghe Sở nghe đã hết mà chẳng trụ nơi hết. Luôn cả tri giải về sự chẳng trụ cũng không.
3. Từ quán: Là độ cho chúng sanh được vui mà chẳng có năng độ gọi là Vô Duyên Từ.
4. Bi quán: Là độ cho chúng sanh lìa khổ mà chẳng có sở độ gọi là Đồng Thể Bi.
Khi Từ bi thể hiện thì ngã chấp (cái tôi ích kỷ) đều sạch. Tình cảm thương mến phát huy đến cùng tột, cũng như ánh sáng chiếu khắp mọi chúng sanh trong pháp giới vũ trụ, chẳng có thiếu sót. Như vậy được Hòa Quang Đồng Một (Nhiều đèn cùng chung một ánh sáng) Nên năng - sở đều diệt.
5. Quảng đại trí huệ quán: Là trí huệ chiếu khắp pháp giới, quảng đại siêu việt số lượng. Tất cả năng sở, sinh diệt đều diệt thì tịch diệt hiện tiền, đây là thực tướng vĩnh viễn tồn tại cũng như phẩm Phương Tiện đã nói : "Chư pháp tùng bổn lai, thường tự tịch diệt tướng" vậy.
Phẩm này chỉ rõ sự diệu dụng của Tự tánh tự độ
"Quán Âm Diệu Trí Lực (diệu dụng của Tự tánh)
Năng cứu thế gian khổ"
Là nghĩa này vậy.
(Trích Yếu chỉ Kinh Pháp Hoa của Thiền sư Thích Duy Lực)
Các hiện thân của Bồ tát Quán Âm tại Việt Nam
Theo kinh Phẩm Phổ Môn, nếu có ai kêu cứu, và để cần hiện ra thân gì để cứu độ thì Quan Âm hiện ra thân đó như: thân quốc vương, thân tể tướng, thân nhi đồng, thân phụ nữ...” (phẩm Phổ môn).
Truyện tích về Quan Âm Thị Kính và Quan Âm Nam Hải (Diệu Thiện) ở Việt Nam được hình thành dựa trên quá trình tiếp biến văn hóa và cơ sở “thị hiện” này.
Tượng Quan Âm Thị Kính tại Việt Nam

Tượng Quan Âm Thị Kính tại Việt Nam

Sự tích Quan Âm Thị Kính được lưu truyền phổ biến trong dân gian Việt Nam từ xưa qua nghệ thuật hát chèo, truyện thơ và gần đây nhất là truyện văn xuôi. Theo tác giả Nguyễn Lang, sách Việt Nam Phật giáo sử luận, tập II, “Truyện thơ Quan Âm Thị Kính (bản Nôm) hiện chưa biết được sáng tác trong thời gian nào. Bản Việt ngữ do Nguyễn Văn Vĩnh ấn hành năm 1911, gồm 788 câu lục bát và một lá thư Kính Tâm viết cho cha mẹ bằng văn biền ngẫu”.
Cứ vào nội dung của truyện Quan Âm Thị Kính thì có thể đây là một dị bản của Phật giáo Cao Ly (Triều Tiên): “Thị Kính là con gái của nhà họ Mãng, quận Lũng Tài, thành Đại Bang, nước Cao Ly”. Tuy vậy, bối cảnh của câu chuyện Quan Âm Thị Kính liên quan mật thiết đến một ngôi chùa cổ ở miền Bắc nước ta, Pháp Vân tự (chùa Dâu, Bắc Ninh). Và Phật Bà chùa Dâu được xem là Phật Bà Quan Âm Thị Kính, “Xem trong cõi nước Nam ta/Chùa Vân có Đức Phật Bà Quan Âm”.
Hình ảnh Quan Âm Thị Kính bồng con trên tay, qua nhiều dị bản rất gần gũi và tương đồng với những câu chuyện về Quan Âm đồng tử và Quan Âm tống tử. Theo các nhà nghiên cứu, tượng Quan Âm tay ôm đồng tử lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử tín ngưỡng tượng hình tại Việt Nam vào thế kỷ thứ XVII và đã trở nên nổi tiếng vào thế kỷ thứ XVIII, hiện nay vẫn còn bảo lưu tại nhiều chùa.
Truyện thơ Quan Âm Nam Hải gồm 1.426 câu, được lưu truyền trong dân gian trước cả truyện Quan Âm Thị Kính. Theo Nguyễn Lang (sđd), truyện Quan Âm Nam Hải vốn xuất phát từ một vị Tăng đời Nguyên bên Trung Hoa. Tích này được lưu truyền trên đất Việt kể từ khoảng cuối thế kỷ XIV hay XV và được Việt hóa. Bản Nôm cổ nhất của truyện Quan Âm Nam Hải vẫn chưa biết được khắc vào thời đại nào. Bản Việt ngữ đầu tiên Quan Âm diễn ca của Huỳnh Tịnh Của, ấn hành năm 1897.
Tượng Quan Âm Nam Hải tại Việt Nam. Truyện thơ Quan Âm Nam Hải gồm 1.426 câu, được lưu truyền trong dân gian trước cả truyện Quan Âm Thị Kính.

Tượng Quan Âm Nam Hải tại Việt Nam. Truyện thơ Quan Âm Nam Hải gồm 1.426 câu, được lưu truyền trong dân gian trước cả truyện Quan Âm Thị Kính.

Theo dị bản Việt hóa thì Quan Âm Nam Hải vốn là Diệu Thiện, công chúa thứ ba (về sau gọi bà Chúa Ba) con vua Diệu Trang (Subhavyùha) ở nước Hưng Lâm (có thể thuộc Ấn Độ). Nàng từ bỏ cuộc sống xa hoa của cung đình, vượt qua mọi ngăn trở của vua cha, cương quyết vượt biển đến động Hương Tích (chùa Hương ngày nay) tu hành và chứng quả tại đây. Truyền thuyết cho rằng, sau khi đắc đạo, công chúa Diệu Thiện biến thành Quan Âm nghìn mắt nghìn tay cứu độ hoàng tộc và muôn dân.
Tượng thờ Quan Âm Nam Hải xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ XVI. “Trong một văn bia đời nhà Mạc năm 1578, học giả nổi tiếng đương thời là Nguyễn Bỉnh Khiêm cho biết tượng Diệu Thiện được tôn thờ tại chùa Cao Dương. Văn bia còn ghi rõ Diệu Thiện là một biểu tượng rất đặc thù của giáo lý từ bi trong đạo Phật. Quan Thế Âm nghìn tay nghìn mắt trước hết có liên hệ mật thiết với sự thực tập trì chú Đại bi, dần dần đã trở nên một biểu tượng rất lớn trong các chùa viện Phật giáo” (Thích Hạnh Tuấn, Hình tượng Bồ tát Quán Thế Âm nghìn tay nghìn mắt).
Như vậy, các hình thái Quan Âm Nam Hải, Quan Âm đồng tử, Quan Âm tống tử, Quan Âm Diệu Thiện, Quan Âm Thị Kính đều bắt nguồn từ lòng từ bi, hiện thân cứu độ của Bồ tát Quan Thế Âm trong kinh Pháp Hoa. Những truyện tích và tín ngưỡng Quan Âm rất phổ biến ở các nước châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Tôn tượng Bồ tát Quan Thế Âm được thờ tại chùa viện nước ta hiện nay rất đa dạng, dựa vào một trong 33 ứng hóa thân của Bồ tát.
Avalokitesvara, Quán Âm Diệu Trí Lực (diệu dụng của Tự tánh), Năng cứu thế gian khổ

Avalokitesvara, Quán Âm Diệu Trí Lực (diệu dụng của Tự tánh), Năng cứu thế gian khổ

Theo nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền, tượng thờ Quan Âm Nam Hải xuất hiện ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ XVI. “Trong một văn bia đời nhà Mạc năm 1578, học giả nổi tiếng đương thời là Nguyễn Bỉnh Khiêm cho biết tượng Diệu Thiện được tôn thờ tại chùa Cao Dương. Văn bia còn ghi rõ Diệu Thiện là một biểu tượng rất đặc thù của giáo lý từ bi trong đạo Phật. Quan Thế Âm nghìn tay nghìn mắt trước hết có liên hệ mật thiết với sự thực tập trì chú Đại bi, dần dần đã trở nên một biểu tượng rất lớn trong các chùa viện Phật giáo” (Thích Hạnh Tuấn, Hình tượng Bồ tát Quán Thế Âm nghìn tay nghìn mắt).
Pho tượng cổ Quan Thế Âm chùa Hương, Hà Nội

Pho tượng cổ Quan Thế Âm chùa Hương, Hà Nội

Như vậy, các hình thái Quan Âm Nam Hải, Quan Âm đồng tử, Quan Âm tống tử, Quan Âm Diệu Thiện, Quan Âm Thị Kính đều bắt nguồn từ lòng từ bi, hiện thân cứu độ của Bồ tát Quan Thế Âm trong kinh Pháp Hoa.
Những truyện tích và tín ngưỡng Quan Âm rất phổ biến ở các nước châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Tôn tượng Bồ tát Quan Thế Âm được thờ tại chùa viện nước ta hiện nay rất đa dạng, dựa vào một trong 33 ứng hóa thân của Bồ tát.

Quan Thế Âm là vị Bồ Tát rất gần gũi với đời sống của chúng ta. Thế nhưng nhiều ý kiến cho rằng Quan Thế Âm Bồ Tát không có thật và đó chỉ là một hình ảnh ngụy tạo được lập ra từ Trung Quốc. Để hiểu sâu hơn về vấn đề ấy như thế nào, cũng như tránh đi sự ngờ vực không căn cứ, mời bạn đọc qua bài chia sẻ Bồ Tát Quán Thế Âm – Tín Ngưỡng Và Triết Lý.
D
anh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm
Danh hiệu đầy đủ của Bồ Tát Quán Thế Âm là: Nam Mô Nhĩ Căn Viên Thông Tầm Thinh Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Từ Đại Bi Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát. Chúng ta thấy trước danh hiệu: Quán Thế Âm Bồ Tát làm một chuỗi từ rất dài, đó là pháp môn tu và ý nghĩa về công hạnh của Ngài.
Ngoài danh xưng Bồ Tát Quán Thế Âm người đời còn có thể gọi Ngài là Quan Thế Âm hoặc Quán Tự Tại… Mỗi danh xưng đều mang một ý nghĩa riêng:
     Quan Thế Âm: Là dùng nhãn căn này để nhìn cuộc đời, nghe ngóng tiếng kêu đau thương của cuộc đời để mà dang tay cứu độ.
    Quán Thế Âm: Là dùng tâm để quán chiếu lại từng loại tâm thức sâu xa của chúng sanh dựa vào thinh trần
     Quán Tự Tại: Là nói lên cái giá trị tu hành của Bồ Tát làm cho chúng sinh được an lành tự tại, không lo lắng, không sợ hãi cho nên Bồ Tát Quán Thế Âm còn có cái tên là Vô Úy.
Dựa vào lịch sử chúng ta biết rằng khoảng thế kỷ đầu Tây lịch, Việt Nam chúng ta bắt đầu biết đến Quan Thế Âm Bồ Tát bằng sự tín ngưỡng. Khi ấy, qua lời giới thiệu của những người thương buôn Ấn Độ vào Việt Nam, họ chỉ xem Bồ Tát là vị thần có quyền năng cứu khổ ban vui và nhất là cứu độ chúng sinh trên biển lớn để vượt qua khỏi cái tại nạn ách nàn.
Từ đó, người Việt chúng ta biết đến đạo Phật thông qua Bồ Tát Quán Thế Âm chứ không phải là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Cho nên hình ảnh của Quán Thế Âm đã trở nên rất quen thuộc và phổ biến trong niềm tin của mọi người.
B
ồ Tát Quán Thế Âm là một biểu tượng tín ngưỡng tuyệt vời
Tín ngưỡng chính là lòng tin của mọi người về một nhân vật nào đó mà không biết về lịch sử hay triết lý của người đó ra sao, như thế nào. Lòng tin này được hình thành từ thực tế, bằng chính trải nghiệm trong cuộc đời của họ.
Quan Thế Âm Bồ Tát cũng vậy. Những người bình dân có thể là Phật tử hay không phải Phật tử, khi họ trải qua những khổ nạn nhờ vào sự mong cầu Bồ Tát có được cuộc sống bình an, hạnh phúc, khỏe mạnh thì họ sẽ khởi tâm yêu mến, tôn kính và rất tin vào sự linh ứng của Ngài.
Thông thường người ta biết đến Bồ Tát Quan Thế Âm qua hai tính đặc thù: Một là cầu nguyện để được bình an tai qua nạn khỏi, tật bệnh tiêu trừ. Hai là cầu để có được con trai con gái.
Đó là một trong những lý do vì sao người đời tin Quan Thế Âm Bồ Tát mà không cần biết lịch sự về vị Bồ Tát này. Cho nên ý kiến cho rằng Bồ Tát là huyền thoại, là phi thực tế có thể sẽ gây mâu thuẫn trong những tình huống thực tế trên.
Chúng ta được biết có hai con đường để đến với đạo Phật đó là tùy tín hành và tùy pháp hành. Và phần lớn giới bình dân của chúng ta đến với đạo Phật bằng tín hành tức là bằng niềm tin. Cho nên tại sao lại phủ nhận một giá trị thiêng liêng ấy như là phương tiện để đưa đạo vào đời, mà phương tiện này lại có sự hữu dụng thực tiễn với mọi người.
Trong bài nguyện hương của chúng ta hàng đêm có câu:
Quán Âm thị hiện
Thuyết pháp độ sanh
Lâm nạn xưng danh
Tầm thinh cứu khổ.
B
ồ Tát Quán Thế Âm vế mặt triết lý
Tuy nhiên nếu tôn thờ Bồ Tát bằng sự tín ngưỡng thì cũng có những tác dụng phụ đi kèm. Đầu tiên là làm đạo Phật của chúng ta đi giá trị thật. Người ta sẽ đến với đạo Phật bằng sự cầu cúng, vái van chứ không biết làm việc thiện để tạo phước lành. Khi mất đi triết lý thì đạo Phật rất đỗi bình thường như những tôn giáo khác.
Thế nhưng nếu thiên về triết lý quá thì lại bỏ đi một khoảng cách rất lớn đối với giới quần chúng bình dân. Vì vậy cho nên tín ngưỡng và triết lý cần phải dung nhiếp với nhau để đưa đạo vào đời
Bồ Tát Quán Thế Âm - Tín Ngưỡng Và Triết Lý 3
Bồ Tát Quán Thế Âm – Tín Ngưỡng Và Triết Lý
Có những người cầu nguyện được thì cho Bồ Tát linh, nhưng có nhiều người cầu nguyện không được thì họ nghĩ Bồ Tát không linh, Bồ Tát thiên vị rồi không đi chùa, không cầu nguyện. Sự thật Bồ Tát hay Đức Phật cũng không cần chúng ta tin hay là không tin. Đạo Phật chúng ta không phải là tôn giáo nhưng mà giới thiệu niềm tin là vì phương tiện độ đời. Các vị Bồ Tát cũng thế
Vì sử dụng phương tiện để độ đời cho nên có những việc gọi là bất khả tư nghì nghĩa là ngoài suy nghĩ của chúng ta. Đức Phật đã từng nói trong các kinh “Ai tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta”. Như vậy đạo Phật không phải là giới thiệu niềm tin đến mọi người vì Đức Phật hay Bồ Tát không mang nghĩa là người ban phước giáng họa cho cuộc đời.
Đức Phật chỉ giới thiệu đạo giác ngộ, giới thiệu về chân lý và những triết lý thật trong cuộc đời. Cho nên về mặt tín ngưỡng cũng có sự thu hút người rất mạnh nhưng mà không khéo lại mang đến sự hiểu biết lệch lạc về đạo Phật.
T
Tinh thần của đạo Phật dựa trên nhân quả
Tinh thần của đạo Phật về sự hạnh phúc hay khổ đau của con người dựa vào nhân quả. Ở đây cầu nguyện được hay không là do phước báo của chúng ta quyết định. Người có đủ phước báu thì nhận nhiều cơ hội để thành tựu ước mơ và ngược lại
Một gia đình được bình an, tai qua nạn khỏi cơ bản nhất cũng phải hiểu rằng gia đình đó cũng có phước đức, mà người đời hay gọi là phúc đức ông bà để lại. Cho nên sự cầu nguyện của chúng ta với Bồ Tát có thể linh thiêng gia hộ được hay không một phần rất lớn do biệt nghiệp và cộng nghiệp của cá nhân hay là của tập thể.
Bồ Tát Quán Thế Âm - Tín Ngưỡng Và Triết Lý 4
Bồ Tát Quán Thế Âm – Tín Ngưỡng Và Triết Lý
Vì thế trong cuộc sống, bên cạnh niềm tin thì chúng ta cần phải biết gieo trồng những căn lành tương thích. Nhiệm vụ của các Đức Phật hay là Bồ Tát trên cuộc đời này tùy duyên hóa độ. Không phải là các Ngài không muốn độ chúng ta, chỉ là các Ngài không thể không vượt qua được quy luật của nhân quả để thay đổi nghiệp của chúng ta.
Như vậy với định nghiệp, Đức Phật cũng không can thiệp được cho dù lúc Ngài còn tại thế.
Vì thế về mặt tín ngưỡng, việc cầu cúng thành tâm nguyện ước thì chúng ta cứ việc thực hiện. Nhưng nếu ước nguyện không đạt được thì hãy xem xét lại phước báu mình đã tạo được như thế nào. Người Phật tử sống như vậy thì vừa giữ được tín ngưỡng mà vừa giữ được tinh túy của Phật giáo trên tinh thần nhân quả quyết định được tất cả số phận của chúng ta

“Bồ Tát Quán Thế Âm tín ngưỡng và triết lý” đây là 2 mảng rất là quan trọng. Chúng ta tùy duyên hóa độ: Khi nhu cầu cần tín ngưỡng dùng tín ngưỡng để độ, nhu cầu cần triết lý dùng triết lý để độ, đó là phương tiện thù thắng trong tư tưởng Phật giáo đại thừa. Vì vậy mong rằng các Phật tử chúng ta khi học và tu tùy căn cơ trình độ trong mỗi hoàn cảnh của chúng ta và tùy giai đoạn đừng chấp lý bỏ sự, cũng đừng chấp sự bỏ lý, như thế chúng ta sẽ không bị vấp phải những sự khó khăn trên con đường nhận thức và tu tập.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.