bài viết trong chuyên mục "Phật Đản"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Đản. Hiển thị tất cả bài đăng

 

Có khổ đau mới hiểu giá trị của hạnh phúc, mới có chút khổ đã tự tử thì lãng phí đời người!

Càng né tránh nỗi đau ta càng thêm đau đớn hơn mà thôi, hãy hiểu rằng có khổ đau mới hiểu giá trị của hạnh phúc, do đó ta hãy chấp nhận, đối mặt với nó bằng sự dũng cảm vốn có.

Phải có khổ đau mới hiểu giá trị của hạnh phúc

 
Cuộc đời này, chẳng ai là không một lần kêu ca rằng tại sao mình lại khổ thế này. Để điều "trị bệnh khổ" cho chúng sinh, mỗi khi có người đến hỏi về đạo, Đức Phật đều nói với họ:
 
- Ta chẳng hỏi tôn giáo, lập trường của ông, mà chỉ hỏi ông có bệnh tật gì?
 
- Ta chỉ khai thị cho ông về bệnh tật và cách trị, ấy là khổ và cách dứt khổ vậy

Trước khi nhập diệt Niết bàn, Ngài cũng dạy các để tử lời cuối : “Các con hãy lấy giáo lý làm thầy” và kiểm chứng ngay cả lời Ngài dạy, thấy lẽ thật thì làm theo và không bắt buộc bất cứ ai phải theo. Ngài chỉ nói đến nỗi khổ đau của kiếp nhân sinh trong vòng sinh - tử lục đạo luân hồi, ai muốn giải thoát thì làm theo. 

Thế mới thấy, không phải ngẫu nhiên mà Đức Phật luôn nói đến hay nhấn mạnh tới những nỗi khổ mà con người phải đối mặt trong suốt kiếp người. Nhưng đó không phải là điều đáng để sợ hãi mà chúng ta phải hiểu để giữ tâm thế chủ động hơn trong việc đối mặt với chúng.

Thời khi Đức Phật còn là thái tử Tất Đạt Đa đi vi hành quanh kinh kỳ, Ngài đã kinh ngạc nhận ra, ai cũng phải đối mặt với đau khổ. Con người luôn phải đối mặt với bệnh tật, đói nghèo, nếu giàu có cũng không tránh khỏi được những phiền muộn,...

Song, ngài còn ngạc nhiên hơn khi nhìn thấy tất cả bọn họ đều an nhiên chấp nhận thống khổ, không hề kháng cự. Đức Phật bèn ngộ ra chân lý đầu tiên rằng: Khổ đau không thể tránh khỏi, chỉ có đối mặt mới giúp con người tiến đến sự giải thoát, có khổ đau con người mới hiểu được chân lý của hạnh phúc, cõi lòng trở nên thanh thản, tự tại.
 
Có khổ đau mới hiểu giá trị của hạnh phúc vì chỉ có trải qua khổ đau rồi con người mới thực sự trân trọng những ngày hạnh phúc của cuộc đời mình. Đúng như cách chúng ta thường nói: Đi qua những ngày mưa mới biết yêu hơn những ngày nắng. Vì thế, khổ đau luôn song hành trong cuộc sống của chúng ta như những ngày mưa - thứ mà ta chẳng bao giờ có thể tự kiểm soát được.

Vì vậy, có thể nói khổ đau cũng như những ngày mưa, đều cần thiết để ta nhận thức, trân trọng hơn về hạnh phúc -  về ngày nắng và chúng luôn cần thiết để con người xa lánh dục vọng, biết thu mình, có được con mắt tinh tường để ngắm nhìn nhân gian đẹp đẽ.

Xem thêm: 55 câu nói hay về thất bại mang lại cho bạn sức mạnh vô song
 
co kho dau moi hieu gia tri cua hanh phuc
 

Đừng vội mừng vì cuộc đời thuận buồm xuôi gió


Có một câu chuyện về anh chàng được đầu thai vào một gia đình ấm êm, no đủ, chẳng thiếu, chẳng lo bất cứ thứ gì. Đến ngày nọ, có người hành hương tìm đến, và nói: “Từ giờ ngài có thể sở hữu mọi thứ mình muốn, từ thức ăn đến mọi lạc thú trong đời.”
 
Anh chàng sung sướng lắm, ngày đầu tiên, anh ta nểm trải hết mọi sơn hào hải vị trên thế gian. Ngày thứ hai, anh đắm chìm trong những lạc thú mà trước đây không hề hay biết.

Nhưng đến ngày thứ 3, anh ta tìm đến người hành hương nọ và nói: “Tôi chán lắm rồi, tôi cần một việc gì đó để làm. Ông có việc gì cho tôi làm hay không?” Nhưng người hành hương đáp: “Xin lỗi nhưng không có việc gì cần làm cho anh cả!” Nghe xong, anh ta bèn quát lớn: “Tôi chẳng thà sinh vào địa ngục.”
 
Từ câu chuyện trên thức tỉnh chúng ta hiểu rằng cuộc sống thuận buồm xuôi gió quá mới thực sự là điều đáng sợ vì chúng đã cướp đi sức mạnh nội tại của chúng ta lúc nào không hay. Đôi khi khổ đau không phải là điều đáng sợ, nó là gia vị để cuộc sống của chúng ta thêm ý nghĩa hơn. Chỉ muốn an nhàn thì đời này bạn khó giàu sang, việc dễ thì ai chả làm được.

Thử nghĩ xem tới một ngày ta ngồi lại kể cho con cháu mình nghe về những gì mình đã làm được trong quá khứ, đã vượt qua những trở ngại của cuộc đời... Ta sẽ mỉm cười tự hào về những gì mình đã qua vì chính chúng đã giúp ta hình thành nên con người chín chắn hơn, trưởng thành hơn ở hiện tại.

Đừng khó chịu với những nỗi đau trong cuộc sống, hãy gửi lời cảm ơn tới chúng. Chúng ta hãy nên thường xuyên luyện tập cho mình cách đối mặt với khó khăn, không trốn tránh cuộc sống và cũng đừng quá cầu mong sự an toàn, để rèn luyện sức kham nhẫn của ta.

Thực tế là những đứa trẻ lớn lên trong môi trường được gia đình, người thân bảo bọc quá đầy đủ, muốn gì được nấy, sẽ dễ dàng vấp ngã trước biến động của cuộc đời.

Không có những khổ đau đó thì ta chỉ là những linh hồn yếu đuối, dễ bị phụ thuộc vì sự yếu kém, mong manh của mình. Chỉ khi vượt qua những đau khổ và được trở nên mạnh mẽ thì ta mới có được lòng tự tôn về bản thân.
  
dau kho la de day ta tran quy hon hanh phuc
 

Chúng ta hay tự phóng đại nỗi khổ của mình


Có lần các đệ tử của Đức Phật có cơ hội bàn luận về căn nguyên của tất cả khổ đau. Có người nói là vì lòng tham, có người cho rằng là do oán hận, căm thù. Người khác nhận định rằng người ta khổ nhất vì nhát gan, run sợ, không có giây phút bình yên. 

Cuối cùng, có một vị còn quả quyết người ta khổ chính vì không được ăn no!
 
Đức Phật đi qua, nghe được câu chuyện kia, bèn dừng lại giảng pháp cho mấy đồ đệ của mình. Ngài ôn tồn giảng: “Những gì các con nói đều không chỉ rõ được căn nguyên của cái khổ, nó chỉ là biểu hiện bề mặt. Các con đều là vì thói quen đã dưỡng thành trong kiếp trước mà cảm thấy thống khổ”.
 
“Có người kiếp trước từng là chim bồ câu phóng túng mà chuyển sinh nên thấy tham lam, dục vọng là khổ. Có người là con chim ưng đói chuyển sinh nên thấy đói khát mới thực là khổ. Có người lại là con rắn độc chuyển sinh nên thấy oán giận, căm thù là đau khổ nhất. Có người kiếp trước là con thỏ nhút nhát nên lại cho rằng nỗi khổ lớn nhất là sợ hãi”.
 
“Tất cả những điều khổ nhất trên thế gian này đều xuất phát từ thân thể mà ra. Có mang thân người chính là chịu khổ. Muốn thoát khỏi bể khổ thì chỉ có con đường tu luyện mà thôi!”.

Phật giáo không thừa nhận một thượng đế tối cao nào sáng tạo ra con người và thế giới này. Những khổ lạc của đời người cũng không phải một lực lượng siêu nhân nào đưa lại, mà đó là do chính mỗi con người tạo ra cho mình. 

Nguyên nhân của sự đau khổ do bản thân mình gây ra hay tác động bởi hoàn cảnh xã hội, nhưng khổ đau có nguồn gốc từ sự tưởng tượng của con người là chủ yếu. Thế mới có chuyện người ta thấy trời mừa cũng kêu khổ, nắng cũng than khổ, kẹt xe cũng khổ, bị lỗi hẹn cũng khổ, thức ăn không vừa miệng cũng khổ, không ai yêu cũng khổ mà được nhiều người thương cũng khổ… 

Người giàu có nỗi khổ của người giàu, người nghèo có nỗi khổ của người nghèo. Trong cuộc sống, không ai có thể trốn chạy trái đắng, nhờ vậy mà mới có thể mạnh mẽ, trưởng thành.
 
Vì thế, khi gặp khó khăn, tưởng rằng cố thế nào cũng không qua nổi, ấy thế mà ta chỉ cần theo đuổi mục tiêu tới cùng, rồi mọi thứ sẽ có một ngày bỗng hanh thông. Không ai muốn bản thân đau khổ, nhưng ngoài đối mặt ra, tránh né chẳng khiến cuộc sống của ta tươi sáng hơn.

Chớ vì mới rớt Đại học, chồng/vợ phản bội, làm ăn đổ bể vài lần là liền tự tử. Trong khi đó có người rớt Đại học không dưới 5 lần họ vẫn kiên nhẫn vừa làm thêm việc lại vừa ôn thi lại cho đến khi đỗ mới thôi, có người thất bại tới bao nhiều lần họ cũng không quan tâm và quyết chí làm cho bằng được mới thôi, có kẻ bị chồng phản bội lại là cơ hội họ làm lại cuộc đời mới rực rỡ và thành công tới mức họ còn chưa từng một lần tưởng tượng ra...

Đừng lấy cái chết ra để xem là lối thoát, điều đấy chỉ cho thấy bạn là kẻ yếu đuối, vô minh mà thôi, vì theo quan niệm Phật giáo về tự tử đó là hành động mở màn cho thống khổ ngút trời mà bạn không đủ trí tuệ để biết được.

Cuộc sống luôn có nhiều điều làm ta cảm thấy cực khổ nhưng quan trọng là lối sống tích cực, lạc quan luôn được phải duy trì. Nếu ta đủ năng lực để nhìn cuộc đời khi hiểu rõ quy luật nhân quả và thấu lý vô thường thì thấy cuộc đời con người chỉ là một giai đoạn, một khúc của vòng luân hồi vô tận.

Những được mất rồi cũng sớm qua đi, mê bộ váy đẹp mặc vài lần đã không còn thích, ao ước cái túi hàng hiệu mua về vài hôm bạn đã thấy chán, mơ căn nhà to thì nếu có rồi bạn cũng cảm thấy vẫn chỉ đang tù bức trong 4 bức tường... Rút cục là những tham ái, mưu cầu lợi dưỡng cho “cái tôi” giả dối kia chỉ là sự ngu tối mà thôi. 

Hơn nữa, do quy luật nhân quả chặt chẽ, những mưu cầu, toan tính không thể có gì đảm bảo là sẽ được như ý mình. Và vì vậy, chấp ngã, tham ái chính là nguyên nhân sinh ra mọi nỗi khổ đau trên đời.
 
Trong cuộc sống vật chất, tinh thần của cá nhân, người biết đủ là người có niềm vui và hạnh phúc, là người giải thoát khỏi những nỗi khổ của đời thường. 
 

ĐỨC PHẬT CHƯA TỪNG NHẬP DIỆTTôn Nữ Diệu Liên
Thăm xứ Ấn Sau khi hoàn tất một số công việc từ thiện ở Biển Hồ, tôi giã từ Cam Pu Chia để chuẩn bị vào Ấn Độ. Vừa rời phi trường chuyển tiếp Thái Lan được một ngày thì phi trường bị đoàn biểu tình làm tê liệt. May quá, nếu không có lẽ tôi sẽ phải ở lại đây một thời gian thật lâu. 
Lần đầu tiên đến chiêm bái xứ Phật, không một người quen, tôi may mắn được thầy Tánh Tuệ và sư cô Liên Thật ra đón tận phi trường. Vùng nầy thuộc tỉnh Gaya, nơi có những thánh tích Phật giáo như Bồ Đề Đạo Tràng, Khổ Hạnh Lâm, sông Ni Liên Thuyền… Mục đích của chuyến đi nầy là xem lại những công việc từ thiện của “Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời” đã làm trong những năm qua, tìm hiểu để làm thêm những công việc mới, mong giúp một chút cho Đạo và chia xẻ khó khăn với những người dân giai cấp cùng đinh. 
blank 
Tượng Đức Phật Niết Bàn ở Ấn Độ
Có lẽ vì là vùng đất Thánh, nên mọi kế hoạch từ thiện của tôi tại đây đã biến thành các Phật sự mầu nhiệm. Việc đầu tiên là tôi quyết định không ở khách sạn, xin về lưu trú tại một ngôi chùa Việt Nam có thời khóa tu học: tụng kinh lúc 4 giờ sáng, 5 giờ nghe thuyết pháp và 6 giờ ăn điểm tâm. Chùa đang xây dựng nên chưa có phòng cho Phật tử vãng lai. Chùa được dựng tạm lên bằng những tấm tolle, vách hở nên gió và bụi bay vào, nằm bên cạnh đồng ruộng nên có nhiều chuột. Những con mèo hoang trong làng vào chùa rượt chuột chạy rầm rầm cả đêm. Mặc dù là tuổi chuột nhưng tôi rất sợ Chuột. Ngày đầu khi về phòng, tôi co chân ngồi trên giường và bỏ mùng xuống để các “cô”, “chú” ham rượt nhau không tông vào tôi. Những lúc như vậy thì tôi trì chú Đại Bi, khi tâm dịu xuống thì tôi ngồi yên theo dõi hơi thở. Tôi quán tưởng hình ảnh ngày xưa thái tử Tất Đạt Đa rời bỏ cung điện vào rừng lang thang một mình, sống hòa đồng với thú dữ, chịu cảnh màn trời chiếu đất, rừng sâu nước độc. Hình ảnh con đường tìm đạo 2.500 năm về trước của đức Phật với nhiều chông gai và thử thách giúp tôi vượt qua được khổ thọ khi phải sống chung với mấy chú Chuột trong chùa. Và hình như các Chú các Cô cũng cảm được cái “oán tắng hội khổ” nên chỉ ba ngày sau, các chú mèo và chuột, rút hết ra khỏi phòng, qua tạm cư ở những căn nhà kho không có người xử dụng. 
Tôi còn nhớ vào năm 1997, cũng nhờ quán tưởng cuộc đời tu hành của vua Trần Nhân Tông mà tôi đã leo lên được đỉnh núi Yên Tử. Lúc đó đường lên núi chưa có dây cáp, chồng tôi và tôi được Ni sư Như Minh cho đi tham quan núi Yên Tử. Khi leo lên giữa núi, nhìn thấy bên trái vách núi cao chọc trời, bên phải thì vực sâu thăm thẳm. Tôi tự trách mình sao lại tìm đến những nơi nguy hiểm, lỡ trượt chân mất mạng thì thật là khờ khạo biết bao. Để trấn an tâm sợ hãi và những suy nghĩ dại dột, tôi mang hình ảnh vua Trần Nhân Tông ngày xưa một mình lên núi ra để giúp tôi có thêm năng lực tiếp tục lên đường. Khi tôi bước trên rễ lớn của những cây thông bắt ngang làm thành bậc đi lên, tôi nghe kể lại rằng, những hàng Thông nầy là do Vua Trần Nhân Tông trồng trong thời gian ở đây, tôi bắt đầu bước những bước chân vững chãi hơn, ý thức rõ con đường với những kỷ niệm của người xưa để lại. Những bước chân của tôi hôm nay có lẽ đã dẫm lên những bước chân của Ngài hơn 700 năm về trước. Bao nỗi sợ hãi trong lòng tan biến, tôi không còn bị ảnh hưởng của địa thế núi rừng hiểm trở, mà chỉ còn lại ý thức của mỗi bước chân đi và hình ảnh tuyệt vời của một lão tăng, đầy dũng khí. 
Trở lại câu chuyện Xứ Phật, sau khi được thoải mái vì không phải sống chung với các chú Chuột, tôi đối đầu với thức ăn khó nuốt. Thức ăn khô trong chùa được quý Phật tử Việt Nam cúng dường mang theo trong các chuyến hành hương. Nhiều lần họ đem được vào Ấn Độ rồi nhờ người chuyển về chùa, vì vậy có những thức ăn khô 2 năm sau mới đến được chùa. Những gói mì ăn liền bị bể vụn do di chuyển qua nhiều nơi, những lần vo gạo và nếp tôi thấy nhiều hạt nổi lên vì mọt ăn rỗng ruột. Ngôi chùa nầy thuộc hệ phái Khất sĩ, nên mỗi ngày chỉ ăn hai bữa: sáng và trưa, trước giờ ngọ. Khi món ăn được lập đi lập lại mỗi ngày làm tôi bắt đầu khó nuốt, nhưng nghĩ đến sức khỏe và thời tiết khắc nghiệt mùa Đông xứ Ấn, tôi phải nghĩ ra cách đưa thức ăn vào cơ thể. Bài pháp ăn trong chánh niệm của Sư ông Làng Mai đến ngay với tôi để cứu vãn tình huống. Tôi nhớ lại, trong khóa tu mùa Đông năm 1993, trong giờ ăn sáng Sư ông dạy mọi người nhai mẩu bánh mì ít nhất là 50 lần và chỉ nhai bánh mì thôi, vào giờ trưa Sư ông lại nhắc nhở rằng mỗi miếng thức ăn đưa vào miệng chúng ta nhai ít nhất là 80 lần, chúng ta đếm từng lần nhai với ý thức rõ ràng, nương theo hơi thở nương theo số đếm, và chỉ nhai thức ăn mà thôi, không nhai bất cứ cái gì khác. Khi cắn phải miếng đậu que thì ta biết ta đang cắn miếng đậu que, không cắn những nỗi buồn, cơn giận, những dự án... Nhớ lại những lời sư ông dạy tôi đã nhai từng lát bột mì hấp và ý thức là mình đang nhai lát bánh mì hấp cho đến lúc bánh mì dẻo ra thành nước hòa lẫn với nước bọt mới nuốt xuống, không nhai miếng bánh mì dở hay ngon. Sau lần thành công nhai được thức ăn trên 80 lần và nếm được hương vị ngọt lịm của miếng bánh mì hấp mà đáng ra rất nhạt nhẽo; tôi đã tin cách ăn trong chánh niệm, giờ ăn lúc đó không còn khó chịu nữa mà là giây phút thú vị của sự thực tập thiền quán. 
Hàng ngày, sau giờ ăn sáng tôi cùng thầy Tánh Tuệ và sư cô Liên Thật vào các làng nghèo để kiểm tra lại các công tác từ thiện đã làm, và tiếp tục làm thêm những công việc mới, tôi học hỏi được nhiều từ chư Tăng Ni về kinh nghiệm từ thiện trên đất Ấn. Tôi trở về trước 11 giờ trưa để kịp dùng cơm, rồi đến giờ nghĩ và xế chiều tôi và chị Diệu Thuận đi bộ ra Bồ Đề Đạo Tràng hay các chùa Việt Nam lân cận để tụng kinh chiều, ngôi chùa tôi tạm trú đi bộ đến Bồ Đề Đạo Tràng mất khoảng 20 phút. 
Đức Phật Chưa Từng Nhập Diệt 
Những sợi nắng thưa dần nhường chỗ cho bóng chiều buông xuống, tôi đi vào bên trong Bồ Đề Đạo Tràng (BĐĐT) hoà nhập với tăng đoàn tu sĩ và cư sĩ từ nhiều quốc gia quy tụ về đây. Đúng là thế giới Cực Lạc. Tôi bước những bước chân chậm rãi trong chánh niệm, tìm được sự an lạc trong mỗi bước chân đi, nhịp thở điều hoà làm nở hoa dưới gót chân tôi bước, lòng tôi tràn ngập niềm hạnh phúc khó tả. Thoáng nhẹ trong không gian thênh thang tôi như thấy linh ảnh Đức Phật đang đứng ở dưới gốc cây Bồ Đề cuối bức tường, Ngài với nụ cười nhẹ và đôi mắt từ bi nhìn tôi khích lệ. Đó không phải là mơ, không phải là sự tưởng tượng, mà là một cái cảm thọ của sự tiếp xúc chân thật phát khởi từ tâm thể trong sáng. Không phải một lần mà xảy ra vài lần trong thời gian tôi tu tập tại BĐĐT. Chỉ có những lúc tôi có sự an lạc trọn vẹn và tỉnh thức tròn đầy thì tôi mới tiếp xúc được cảm nhận mầu nhiệm đó. Tôi tin chắc rằng “Đức Phật Chưa Từng Nhập Diệt”, Pháp Thân ngài tỏa sáng khắp mọi nơi, trong bước chân tĩnh lặng tôi thấy rõ tâm thể của một người tỉnh thức; tôi đã nói câu này nhiều lần với chồng tôi trong thời gian tôi sống tại đây. Đức Thế Tôn muốn những đứa con Ngài tự thắp đuốc lên mà đi nên Ngài đã thị hiện Niết Bàn, ngài mãi mãi ở khắp nơi, ngài chưa từng rời xa cội Bồ Đề, chưa từng rời xa Khổ Hạnh Lâm, chưa từng rời xa dòng sông Ni Liên Thuyền. Chỉ cần chúng ta có sự tỉnh thức trọn vẹn thì chúng ta có thể tiếp xúc được với Ngài ngay trong từng bước chân. 
Bồ Đề Đạo Tràng 
BĐĐT mở cửa từ 4 sáng đến 9 giờ tối, lúc nào cũng tấp nập khách hành hương và tín đồ Phật giáo. Có rất nhiều tu sĩ Tây Tạng về đây tu học, những chiếc áo màu hỏa hoàng của quý sư chiếm đến 80% bên ngoài và trong BĐĐT. Các thánh tích Phật giáo tại vùng Gaya thường có những ngôi chùa Tây Tạng xây bên cạnh, những vị tu sĩ Tây Tạng sống trong các chùa nầy vừa chuyên hành trì, vừa lo chăm sóc thánh tích. Phật giáo Ấn Độ nếu không có hình bóng và sự đóng góp của Phật giáo Tây Tạng thì e rằng sẽ rất nghèo nàn và buồn tẻ. Trong cái khổ nạn mà Phật Giáo Tây Tạng phải gánh chịu trong 50 năm qua, lại sinh ra được cái huy hoàng của nó, đó là sự chấn hưng và phát triển Phật Giáo trên đất nước Ấn vốn đã tàn rụi từ lâu. 
Vào những tháng mùa Đông, khí trời chuyển lạnh đẩy lui sức nóng khắc nghiệt, hàng đoàn tu sĩ tụ về BĐĐT để hạ thủ công phu. Hàng ngày có hàng ngàn khách hành hương có mặt bên trong BĐĐT. Trong số đó có khoảng 300 đến 400 người được gọi là tu học thường trú, tu sĩ Tây Tạng chiếm đến 90%, thời khóa mỗi ngày từ 5 giờ sáng đến 9 giờ tối, kéo dài từ 1 đến 3 tháng. Mỗi người chọn cho mình một pháp môn tu: trì chú, trì kinh, lễ lạy, thanh tịnh thân và tâm (purify body and mind), thiền định…. Ví như trăm dòng sông cùng đổ về biển cả, hàng trăm người an tĩnh hết lòng thực hành pháp môn của mình, năng lượng tu học hòa điệu trong không gian, không còn một sự ngăn ngại nào ngoài sự thanh tịnh tỏa rộng, thấm vào từng tế bào của cỏ cây, đất đá và hành giả. 
Để tỏ lòng hỗ trợ sự tu trì của quý thầy, cô và đại chúng, thầy Thích Tánh Tuệ, sư cô Liên Thật và “MTNCD” đã cúng dường tịnh tài đến 375 vị tu sĩ thường trú. Trước giờ cúng dường, chúng tôi đứng trước linh tượng Quán Thế Âm Bồ Tát cầu nguyện, niệm chú Đại Bi, tụng kinh Phổ Môn. Vì có một quá trình vào ra BĐĐT mỗi ngày nên thầy Tánh Tuệ biết vị tu sĩ nào là tu sĩ thường trú để cúng dường. Tôi lễ lạy một cách thành kính từng vị trước khi dâng phong bì cúng dường. Thầy Tánh Tuệ đi theo hướng dẫn để tôi không bị sót vị nào. Hai chân tôi có lúc không còn có thể đứng lên lạy xuống, tôi quay về theo dõi hơi thở, đưa hơi thở vào ra trong mỗi hành động, khi hơi thở và hành động được hoà hợp với nhau thì tôi chỉ còn một việc là nhiếp hết tâm ý cúng dường, và nhờ vậy mà tôi đã tìm được sự bình an và tập trung cho đến lúc cúng dường vị tu sĩ cuối cùng. Dù chỉ lễ lạy trong 4 tiếng đồng hồ, vậy mà hai ngày liền cơ bắp đau nhức, từ đó tôi mới tâm phục khẩu phục công năng hành trì pháp môn “thanh tịnh thân tâm” của quý thầy Tây Tạng. Mỗi ngày quý sư đã lễ lạy khoảng 2500 lần từ 1 đến 3 tháng. Có một điều kỳ lạ là chẳng ăn uống bồi bổ mà quý sư nhìn rất khoẻ mạnh và tươi vui. 
Nuôi Lớn Sự Thanh Tịnh 
Hàng ngàn người vào ra BĐĐT ban ngày, còn có những đạo tràng từ các nước Á Châu, phần lớn Thái Lan, về đây đăng ký với văn phòng BĐĐT để ở lại tu từ 9 giờ tối đến sáng hôm sau, gọi là trưởng tịnh (nuôi lớn sự thanh tịnh). Cá nhân cũng có thể đăng ký với văn phòng, đóng lệ phí 100 rupees để tu trưởng tịnh. Không khí thanh tịnh về đêm tại BĐĐT hoàn toàn khác với ban ngày, những người còn lại sau 9 giờ đêm là những người thật sự muốn tìm đến một sự im lặng tuyệt đối. Mỗi hành giả hành trì pháp môn riêng của mình, chọn một nơi thích hợp và nhất tâm hành trì. 
Trước khi lên đường đi Ấn Độ, tôi đã sắp xếp một chương trình dày đặc để mong được thực hiện và học hỏi. Vả lại, trên 15 năm qua chúng ta đã có một quá trình ủng hộ chư tăng tu học ở các tu viện Tây Tạng, nên tôi muốn biết thực trạng của vấn đề để mong điều chỉnh cho thích hợp. Nhưng rồi, như tôi đã nói, tôi đã thật sự tiếp xúc với năng lượng an lạc của tự thân. Những ngày ở đây trở thành những giây phút yên tĩnh lạ thường, từ những bước chân thiền hành qua những khu đất nghèo văng vẳng tiếng kinh chiều của các chùa Tây Tạng cho đến những đêm thanh tịnh tọa thiền, tất cả dâng lên một khúc nhạc trầm lắng và đầy yêu thương, làm cho người qua đây không còn nhất thiết phải làm chi khác nửa. Tôi quyết định dành thời gian để trở về với chính mình, tôi khao khát được tu, và được làm việc từ thiện trong tinh thần chánh niệm. 
Vị sư phụ ngôi chùa Việt Nam, nơi tôi xin tá túc, có Phật sự đi xa, nên từ đó mỗi ngày tôi vào BĐĐT lúc 6 giờ chiều, ngồi nhìn mọi người qua lại, hay cùng các bạn đạo chia xẻ những mẩu chuyện, rồi xế tối tôi vào điện chính lễ lạy đức Bổn Sư, tụng kinh Phổ Môn và niệm chú Đại Bi. Chị Diệu Thuận kể lại rằng khi tôi nhiếp tâm tụng kinh thành tiếng rặt giọng Huế thì các sư Tây Tạng chung quanh ngưng tụng, họ nhìn tôi rồi nhìn nhau mỉm cười. Sau 9 giờ tối tôi dựng lều ngồi thiền, và bắt đầu tĩnh tọa, đến gần nữa đêm, rồi đi thiền hành đến lúc bước chân tôi đưa tôi về lều nghỉ ngơi. Thời gian vô tận và không gian thênh thang luôn có mặt nơi đây, không có việc gì cần làm, không có mục đích cần đạt, không cần rong ruổi với thời gian. Tôi đã mở tung ra được nhiều sợi dây ràng buộc trong thời gian ngắn ngủi này mà hương hoa của sự vắng lặng đó vẫn còn ảnh hưởng trong cuộc sống hàng ngày của tôi cho đến hôm nay. 
Cái lều của tôi được dựng chơ vơ ngoài trời ngay bên lề đường, khí trời về đêm xứ Ấn lạnh lắm, sương rơi thấm ướt tấm khăn tôi trải che gió trên đỉnh lều, khí lạnh từ lớp đá hoa cương dưới nền tỏa ra được làm ấm lại bằng một tấm chăn mỏng. Lều được thiết kế tránh muỗi, dành cho ngồi thiền chứ không phải để nằm, nhưng cũng may là tôi nhỏ xíu, nằm co lại như mình đang nằm trong bào thai mẹ trước khi ra đời, tôi hạnh phúc mỉm cười từ từ đi vào giấc ngủ một cách dễ dàng, thỉnh thoảng tôi nghe tiếng những con chó hoang rượt và cắn nhau trong đêm tối. Tờ mờ sáng lúc chưa nhìn rõ được mặt nhau, những bước chân đi mạnh mẽ, những tiếng niệm chú xì xào từ các sư Tây Tạng vào BĐĐT lúc 4 giờ sáng mở đầu cho một ngày mới tu tập, đánh thức tôi dậy. Tôi lấy chăn đắp lên người, ngồi yên trong lều, theo dõi hơi thở và “thiền quan sát” sinh hoạt buổi sáng tại BĐĐT. 
Thức dậy mỉm miệng cười Hai bốn giờ tinh khôi Xin nguyện sống trọn vẹn Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời 
Năm giờ sáng, sương còn rơi và khí trời se se lạnh, vậy mà tiếng chân người mỗi lúc một rộn ràng hơn, số người thưa thớt ban đầu dần dần trở thành từng đoàn nối chân nhau tìm đến địa điểm hành trì mỗi ngày của mình. Mặt trời từ từ hé dạng, vén nhẹ màn sương khuya, đem hơi ấm ôm ấp lên muôn vật, tôi bước ra khỏi lều và xếp gọn hành trang chuẩn bị đi ăn điểm tâm. Tại khuôn viên trước BĐĐT, dù người sang hay kẻ hèn thì cũng chỉ có hai món để điểm tâm đó là trà sữa và bánh bột mì hay bột chapatti (lúa mì). Mỗi ly trà sữa là 5 ruppes, một cái bánh bột chỉ 10 rupees (0.25 usd), đây cũng là một sinh hoạt đáng nhớ, cái thế giới mà ai cũng như ai, ngồi trên thành lề đường, sưởi ấm hai tay bằng ly trà sữa nóng và lót dạ một miếng bánh mì để chuẩn bị cho một ngày sinh hoạt mới. 
Cúng Dường Ba La Mật 
Một buổi sáng vào mùa lễ hội Tripitaka, BĐĐT đông nghẹt người về tham dự. Đang đi thiền hành sau thời khóa trưởng tịnh, tôi dừng lại khi nghe tiếng xôn xao khác thường từ phía cổng chính của BĐĐT. Tôi thấy nhiều Phật tử nói tiếng Hoa, có lẽ là người Đài Loan, thuê những em bé người Ấn đem bánh mì và trà sữa vào cúng dường cho bất cứ người nào đang có mặt trong BĐĐT. Họ làm việc nhanh nhẹn để kịp đem đến tặng từng người như sợ người ta đi mất khỏi tầm nhìn của họ, người nhận muốn bao nhiêu thì họ tặng bấy nhiêu, không phân biệt tu sĩ hay khách hành hương, không tính toán, không kỳ thị, không phân tích, họ trao tận tay những miếng bánh mì tươi mềm và ly trà sữa nóng hổi vừa mới rót ra. Họ đến trước mặt tôi để “cúng dường”, tôi lặng yên tiếp nhận, hơi ấm từ ly trà nóng chuyền qua lòng bàn tay theo dòng nước mắt lăn dài trên đôi má, tôi nói thầm “hạnh phúc thay… hạnh phúc thay” khi thấy con người biết sống với nhau trong biển tình thương bao la. 
Chó Hoang 
Buổi sáng tôi chia xẻ phần điểm tâm cho vài chục con chó. Đây là những con chó hoang, không có nhà để về, không có chủ cho ăn, bãi rác là nơi các “em” tìm thức ăn và ngủ từng bầy với nhau. Rất nhiều chó hoang. Tôi và chị Diệu Thuận mua hàng chục miếng bánh mì, xé nhỏ ra và thảy cho từng em một. 
Một hôm khi đi qua làng, tôi thấy một con chó con từ đằng xa, cái đuôi ve vẫy, cái mồm sủa oang oang, “em” thuộc giống Pomerine nên rất đẹp và được nuôi đàng hoàng. Tôi đến gần, ngồi xuống chơi với “em” thì con chó bỗng nhiên ngưng sủa, ngửi quanh người tôi, rồi nhảy chồm lên liếm vào tay vào mặt tôi. Tôi thương quá, ôm “em” vào lòng, và hôn lên đầu lên má “em”, chị Diệu Thuận bảo tôi: “thôi đi mau kẻo tối”. Những hôm đầu tôi nhờ chị Diệu Thuận giúp tôi cho chó ăn bánh mì chị không nhiệt tình cho lắm. 
Thế rồi mỗi ngày hai chị em cùng đi tu học với nhau, và thường có những chú chó hoang theo gót chân tôi. Một hôm tôi phát hiện có một con chó màu đen, tôi đặt tên là “Mực” đã theo tôi từ lâu lắm, tận ngoài BĐĐT. Cứ mỗi góc đường Mực lại đứng chờ, tôi rẽ về hướng nào là nó quẹo về hướng đó. Thương quá! tôi nói với chị Diệu Thuận: “Lát nữa về chùa em đứng ngoài giữ nó chị vào tìm thức ăn cho nó giúp em nghe”. Chị Diệu Thuận cản: “thôi, đừng lấy thức ăn cho chó, trong chùa không thích đâu”. Ngay sau câu nói của chị Diệu Thuận, tôi thấy Mực đến trước cổng chùa rồi quây lưng đi ra lại đầu xóm. Tôi không nói gì hết, chạy nhanh vào bếp lấy mấy miếng bánh mì cũ chạy ra thì Mực đã đi mất, tôi cầm miếng bánh mì đi tới đi lui quanh xóm, tôi gọi thầm trong tâm: “Mực ơi! con đi đâu rồi? ra đây với cô đi con” nhưng mãi mãi em không trở lại. Tôi về kể lại cho chị Diệu Thuận nghe và tỏ lòng xót xa. Từ hôm đó chị Diệu Thuận không còn ngăn cản tôi “thương chó”, chị đã phụ tôi xé bánh mì và ném ra cho từng con một. Tôi rất vui vì có lần các “em” đến đông quá, chị bảo tôi mua thêm ít miếng nữa vì còn một số “em” ăn chưa no. 
Hôm nay ghi lại đây một vài kỷ niệm của những ngày hạnh phúc bên Bồ Đề Đạo Tràng như một sự chia xẻ nồng ấm với mọi người. Nhân mùa Phật đản Phật lịch 2553, xin dâng một đóa tâm hương với tất cả lòng thành kính lên đức Thế Tôn. Nguyện cầu cho chúng ta có đủ hùng lực để cùng nhau vững tiến trên con đường giác ngộ. Kính chúc các bật tôn túc, cùng chư tăng ni vô lượng an lành. 
Tôn Nữ Diệu Liên Mùa Phật đản – PL. 2553

Source: thuvienhoasen

Trong các chức năng sinh lý cơ thể giúp nuôi sống con người để tồn tại và sinh sôi trên mặt đất này, ăn uống có lẽ chiếm địa vị quan yếu hàng đầu. Không ăn uống con người không thể sống. Thở cũng quan trọng, có khi còn hơn cả ăn uống, vì người ta có thể nhịn ăn nhiều ngày, nhưng nhịn thở chỉ được vài phút. Tuy nhiên, tạo hóa dường như đã sắp đặt để cho con người một nguồn cung cấp gần như vô tận về khí trời và nước uống mà không cần phải trả giá hay chỉ trả giá rất ít. Duy chỉ có miếng ăn là con người phải vất vả lao động hay đấu tranh mới có. Thành thử, kể từ thuở còn “ăn lông ở lỗ”, mối quan tâm thường trực của xã hội loài người bao giờ cũng là miếng ăn, và dưới bất cứ hình thức văn minh, kỹ thuật nào, dù là lượm hái, săn bắt, nông nghiệp, hay kỹ nghệ, hoạt động căn bản của con người trước hết bao giờ cũng hướng vào mục đích kiếm ăn.
 

Vì tính cách quan yếu và cơ bản của nó đối với đời sống con người từ thuở ban sơ, “ăn” chắc hẳn phải là một trong những ý niệm đầu tiên có mặt trong sự hình thành của ngôn ngữ khi con người bắt đầu sống quần tụ và có nhu cầu trao đổi, tìm hiểu nhau.      

Có lẽ rất ít người Việt chúng ta để ý đến sự kiện “ăn” là một từ bao hàm nhiều nghĩa nhất và cũng được sử dụng nhiều hơn cả trong sự cấu thành các từ ngữ, thành ngữ, hay tục ngữ có liên quan hay không đến ăn, hiểu theo nghĩa đen, nghĩa là bỏ thức ăn vào miệng, nhai và nuốt. Các văn liệu phổ thông hiện đại mà ta có đã chứng minh sự kiện này. “Việt Nam Tự Điển” của hội Khai Trí Tiến Đức xuất bản tại Hà Nội năm 1930 — một công trình sưu tập có giá trị lịch sử về ngữ vựng tiếng Việt — đã liệt kê 12 nghĩa khác nhau của từ “ăn” và hàng trăm thí dụ văn liệu có liên hệ với “ăn” trong hơn năm trang. Các từ điển tiếng Việt khác, như của Đào Văn Tập hay Nguyễn Văn Khôn, cũng dành một số trang đáng kể cho từ “ăn”. Gần đây, cuốn “Tự Điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn Ngữ Học Hà Nội cũng đã minh hoạ vị trí ưu thế của từ “ăn” qua 12 nghĩa khác nhau của từ này và liệt kê những từ ngữ và thành ngữ hiện đại có liên quan đến “ăn” trên bốn trang giấy. Sau hết, cuốn “Tục Ngữ Phong Dao” (1 và 2) của Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc – một nổ lực sưu tập coi như đầy đủ nhất từ xưa đến nay – đã liệt kê gần 200 tục ngữ và ca dao bắt đầu bằng tiếng “ăn”, và nếu ta kể cả những ca dao hay tục ngữ khác có tiếng “ăn” ở trong thì thật không ngờ tổng số lại lên tới gần một phần mười của tất cả cái kho tàng văn học dân gian này. Đó là một sự kiện mà tôi chắc ai cũng phải đồng ý là rất khác thường, không cứ trong tiếng Việt mà trong bất cứ ngôn ngữ nào.      

Câu hỏi đến ngay với ta là: tại sao từ “ăn” lại trở nên một thành phần quan trọng đến thế trong tiếng Việt? Trong các ngoại ngữ Tây phương mà nhiều người Việt am hiểu tường tận như tiếng Anh và tiếng Pháp, tuyệt nhiên ta không thấy sự phổ biến của ý niệm “ăn”. Chỉ có người Trung Hoa mới quan tâm nhiều đến ăn uống, chẳng hạn, ở những vùng quê, họ thường chào hỏi nhau bằng câu “ăn cơm chưa?” (chih fan le mei yu?’), và ai cũng biết rằng ở bất cứ xó xỉnh nào trên thế giới, ở đâu có người Trung Hoa là ở đó có tiệm ăn. Có điều hơi khác với người Việt là họ ít dùng ý niệm “ăn” ( thực {chih}) trong những từ ngữ đáng lẽ phải có ý niệm này; ví dụ họ gọi tiệm ăn là “ phạn điếm” hay “ tửu điếm”. Phạn điếm cũng không có “ thực khách” và “ thực đơn” mà chỉ có “ khách viên” và “ thái đơn”. Tiếng phổ thông Trung Hoa cũng có những từ như “ thực khổ” (đau khổ), “ thực ngôn” ( nuốt lời), “ thực lực” ( khó khăn), “ thực hương” ( nổi tiếng), và những thành ngữ như “ thực bất trú” ( quá sức), “ thực bế phạn” (vô công rồi nghề), “ thực cổ bất hóa” (bảo thủ, ngoan cố), “thực ngôn bất hóa” (trí thức nửa vời), v.v…(*) trong đó từ “thực” (ăn) được dùng với nghĩa bóng, nhưng số từ ngữ này hình như không thể nhiều như tiếng Việt. Do đó, ta có thể coi sự vận dụng ý niệm “ăn” vào việc mô tả tính tình, tâm lý, cách cư xử của con người trong những khía cạnh và tình huống khác nhau của đời sống là một hiện tượng đặc biệt, có thể coi như độc đáo, của ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam.     

Trước hết hãy xét đến “ăn” với nghĩa đen của nó. Hàng ngày chúng ta “ăn sáng” hay “ăn lót dạ”, “ăn trưa”, “ăn tối”, hoặc ở nhà hoặc đi “ăn hàng”, “ăn tiệm”, điều đó không có gì đáng nói. Thỉnh thoảng chúng ta được mời đi “ăn cỗ” hay “ăn tiệc” cũng là chuyện thông thường. Điều đáng nói là từ “ăn” khi được dùng ghép với những dịp vui mừng hay lễ lạc như “ăn Tết”, “ăn giỗ”, “ăn hỏi”, “ăn cưới”, “ăn khao”, v.v…làm ta có cảm tưởng người Việt mình thường lợi dụng bất cứ cơ hội nào để mà ăn uống. Đối với chúng ta, “ăn Tết” hay “ăn giỗ” chắc chắn có ý nghĩa tình tự nhiều hơn là cổ bàn hay bánh chưng, bánh tét, và “ăn hỏi” chỉ là một lễ nghi nhiều khi chẳng có ăn uống gì cả. Đối tượng của ăn uống là thực phẩm, cố nhiên, nhưng cũng có thể không phải là thực phẩm. Người dân quê nhiều khi dùng từ “ăn” thay cho “hút” trong câu nói “ăn điếu thuốc, uống miếng nước”, và “ăn” cũng có khi dùng thay cho “nuốt” như trong từ “ăn lời” (Kiều: “Nói lời rồi lại ăn lời như không”). Đi quá một bước nữa, ta thấy “ăn” với nghĩa mập mờ được dùng trong câu thành ngữ “ thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ”, nhưng ở đây “ăn” đã đi sang lãnh vực của nghĩa bóng.      

Ăn là quan trọng trong đời sống, nhưng đối với người Việt, phong cách ăn uống đôi khi còn quan trọng hơn. Ăn uống phải đàng hoàng , chững chạc: người tự trọng không thể “ăn bốc”, “ăn thừa”, “ăn chực”, “ăn tham”, nhất là không được “ăn vụng”, nghĩa là len lén ăn một mình một cách giấu diếm. Ở thôn quê, những nàng dâu mới thường hay mắc tật này, một phần vì sợ mẹ chồng, phần khác muốn chứng tỏ là mình không “ tham ăn” hay không phải là người chỉ biết “ăn hại” nhà chồng, cho nên nhiều khi phải “ăn vụng”. Nhưng thói đời “ăn vụng no lâu”, cho nên thân hình các cô càng ngày càng đẫy đà, mập mạp. Các bà mẹ chồng tinh đời khi kén vợ cho con vì vậy đã tránh xa:

“Những người béo trục, béo tròn,
Ăn vụng như chớp đánh con cả ngày”.

Một từ đặc biệt khác là “ăn dở”, ứng dụng cho người đàn bà mới mang thai thèm những chất khác thường mà, theo y học hiện đại, cơ thể lúc đó đang thiếu thốn. Thông thường thì khi có mang người đàn bà thích ăn những đồ chua, chát, thậm chí cả gạch ngói, và ta cũng đoán biết tại sao như vậy. Nhưng có khi họ ăn dở cả bằng hành thì thật là khó hiểu, chả lẽ cơ thể họ lại cần chất sắt đến như thế. Bởi vậy trong ca dao, cô gái xấu số mới phải buồn phiền:

“Mẹ em ăn dở bằng hành,
Đẻ em mắt toét ba vành sơn sơn”.

Ăn để sống, không ai sống để ăn. Những người trung thành với phương châm này thường là những người có nho phong hay Nho học trong xã hội Việt Nam cổ truyền. Họ thường có cuộc sống thanh bạch có lẽ vì tính khí khái và biết tự trọng nên thường coi nhẹ miếng ăn hay miếng đỉnh chung. Những trường hợp treo ấn từ quan trong lịch sử không phải là ít. Vì thấm nhuần đạo lý thánh hiền, các nhà nho coi  “miếng ăn là miếng nhục” nểu chỉ vì miếng ăn mà phải bán rẻ đạo đức hay gia phong. Vì thế, các cụ thường quan niệm “miếng ăn quá khẩu thành tàn” và hay răn đe: “ăn một miếng tiếng để đời”, với ngụ ý khuyên con cháu phải giữ gìn tiết tháo hay phẩm hạnh để cuộc sống được thanh cao, trong sạch.

Trong những cách thế dùng từ ăn của người Việt, ta thấy từ nghĩa đen đến nghĩa bóng không có bao xa có lẽ vì sự hội ý hay liên tưởng quá gần gũi. “Ăn vụng” vì vậy còn được dùng để ám chỉ hành vi ngoại tình, lén lút, và “ăn gỏi” hay “ăn (sơi) tái”, ngoài nghĩa đen đi cùng với gỏi ( ví dụ gỏi cá), tái ( ví dụ thịt bò tái) là những món ngon lành, còn mang nghĩa lấn lướt, áp đảo một cách dễ dàng, ngon lành ví dụ “ Mày bé người, đụng đến nó thì cứ gọi là nó ăn gỏi ( hay sơi tái) mày đi” . Ta vẫn biết “ăn mặn” là nghịch nghĩa với “ăn chay” như trong câu tục ngữ “ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối”, nhưng đến câu “đời cha ăn mặn, đời con khát nước” thì rõ ràng ăn mặn không còn nghĩa đen nữa mà chỉ dùng để ám chỉ một hành vi bất chính, cái nhân trong luật nhân quả. Người Việt khi ma chay, khao vọng, hay có việc làng thường thổi xôi để cúng bái, đãi đằng, cho nên do liên tưởng, xôi cũng có nghĩa là miếng đỉnh chung (“xôi thịt”, “cố đấm ăn xôi”), và “ăn xôi” cũng có nghĩa là chết giống như “ăn đất” (Ca dao: “Bao giờ ông lão ăn xôi (chầu trời), thì em lại lấy một người trai tơ”). Những thí dụ khác của nghĩa bóng qua sự hội ý hay liên tưởng là : “ăn tiền” (hối lộ), “ăn bẩn” (nhỏ nhen, tham nhũng), “ăn sương” (đĩ điếm, trộm cắp), “ăn đong” (ít ỏi, lơ mơ), v.v… Khi ta nói một người nào “ tiếng Tây ăn đong”  chẳng hạn, thì ngoài nghĩa bóng lại còn thêm hàm ý, mỉa mai, khinh thị, hay châm biếm, cũng như khi ta chê một con buôn “ăn bẩn” hay một ông quan “ăn tiền” của dân.

Cả một nền luân lý cổ truyền đã được xây dựng, chẳng phải là với những ý niệm cao siêu, xa vời gì, mà chỉ trên căn bản những thành ngữ có gốc là tiếng “ăn” một ý niệm rất tầm thường. Để dạy con cái nên người, bậc cha mẹ thường nói: “ăn có nhai, nói có nghĩ”, “ăn trông nồi, ngồi trông hướng”, “ăn  có mời, làm có khiến”, “ăn tùy nơi, chơi tùy chốn”, “ăn ngay nói thật, mọi tật mọi lành” v.v…Lòng trung thành và sự biết ơn tổ tiên thường được nhắc nhở qua những câu “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” “ăn cây nào rào cây ấy”, và “ăn miếng chả, giả miếng bùi”. Xa hơn nữa, nhân sinh quan của dân tộc cũng được biểu lộ đó đây qua những thành ngữ phản ảnh triết lý dân gian: “ăn vóc học hay”, “ăn mặn khát nước”, “ăn nhịn để dành”, “ăn lấy chắc, mặc lấy bền”, “ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau”. Đó là những tư tưởng khôn ngoan, sáng suốt, những hạt minh châu sáng ngời trong kho tàng văn hóa Việt Nam. Ngược lại, “ăn” cũng can dự vào những nét dung tục, sỗ sàng, đôi khi có tính cách chanh chua hay khôi hài của sắc thái văn hóa bình dân. Ta có thể kể qua những thành ngữ hay tục ngữ mang những nét dung tục như: “ăn chẳng bõ ỉa”, “ăn tục, nói phét”, “ăn lường, chơi quỵt”, “ăn hại, đái nát”, “ăn độc, chốc đít”, “ăn dơ không biết thối”, “ăn đầy bụng , ỉa đầy bờ”, “ăn thủng nồi trôi rế”, v.v.

Một nét độc đáo của văn hóa Việt có lẽ là việc sử dụng từ “ăn” trong sự chửi rủa. Tôi không biết có dân tộc nào khác làm như vậy không, nhưng gần gũi với ta hơn cả là người Trung Hoa cũng chỉ “thá má nị…(đ.m)” hay xúc phạm đến tổ tiên của nhau. Người Tây phương như Pháp, Mỹ mà ta quen thuộc khi tức giận chỉ đến nước văng tục hay rủa nhau bằng đồ nọ đồ kia (salaud, putain, jerk, son of a bitch,v.v.), hay sỗ sàng hơn thì thốt ra những lời xúc phạm đối phương có liên quan đến tính dục (fuck you, mon cul). Nhưng, cho nhau “ăn” những chất bài tiết của cơ thể (cứt, máu kinh nguyệt, nước đái) như người Việt thì không. Ngoài ra, theo tôi, có lẽ chỉ có người Việt mình, mà phần lớn là mấy bà nạ dòng, trong khi chửi rủa mới cho nhau “ăn” (hay những hình thức của ăn như: bú, liếm) cả cơ quan sinh dục của mình. Người ở đô thị có lẽ ít khi được nghe, nhưng ở thôn quê thì đó là chuyện cơm bữa. Nét văn hóa dân tộc đặc biệt này bộc lộ cho ta thấy đôi điều về quan niệm tình dục của người Việt. Một là cơ quan sinh dục, nhất là của đàn bà, bị coi như thứ đồ dơ bẩn đồng hạng với các chất bài tiết của cơ thể. Hai là: mặc dầu vậy, sự phô trương cái giống của mình ra để sẵn sàng cống hiến nó cho đối phương thưởng thức không thể là một sự cấm cản (inhibition) về tâm lý như đối với một vài dân tộc khác. Có thể nói, về phương diện tình dục, người Việt cũng không đến nỗi quá bảo thủ, và đặc biệt người dân quê, vì không bị ràng buộc bởi giáo điều “nam nữ thụ thụ bất thân” của Khổng-Mạnh cho nên sống gần gũi với thiên tính và bản năng hơn.

Trong xã hội nông nghiệp cổ truyền, “ăn chơi”- trong đó có ăn uống rượu chè, và cờ bạc- trong dịp tết hay hội hè, đình đám là những dịp xả hơi đền bù cho sự vất vả quanh năm vì công việc đồng áng. Có lẽ do nếp sống đó mà từ “ăn” hay được dùng trong khi đánh cờ, đánh bạc. Khởi đầu có lẽ với nghĩa đen nhưng lâu dần “ăn” trở thành thắng hay được. Trong cờ tướng, khi chiếm được quân cờ nào của đối phương ta nói “ăn con xe”, “ăn con mã”, v.v…với ý nghĩa chiếm đoạt, thắng lợi. Trong bài bạc, ví dụ đánh tổ tôm, đánh chắn, hay xoa mạt chược, thì khi ta hỏi người ngồi cánh dưới: “ăn không? Không ăn thì bốc”, ăn lại có nghĩa thu nhận một cây bài cho thành phu để được tròn bài. Vì vậy ta có những từ như “ăn chắn”, “ăn cạ”, “ăn tôm”, “ăn lèo”, “ăn xuyên”, v.v…Tôi còn nhớ thuở bé hay có dịp xem đánh sóc dĩa những khi có hội hè đình đám. Trên chiếu bạc, trước khi mọi người đặt tiền, người cầm cái hay hồ lỳ thường rêu rao miệng dẻo quẹo: “Sấp một ăn một, sấp hai ăn hai, sấp ba ăn ba, sấp bốn ngửa tư, một đồng ăn bốn đồng. Mở này, mở này…”. Tuy ít tuổi, tôi cũng hiểu ăn đây có nghĩa là được, và sau này, tôi cũng biết thế nào là “ăn già”, “ăn non”, hay “ăn gian” trong cờ bạc. Ý niệm “ăn thua” sơ khởi của những cuộc đỏ đen dần dà áp dụng cho cả những sự ganh đua, tranh chấp, hay so sánh ngoài đời. Nó đã biến thành vài nghĩa khác như ta dùng hiện nay, ví dụ: “ việc ấy ăn thua ( liên can) gì đến tôi “ hay ”nó đã cố gắng, nhưng chả ăn thua (hiệu quả) gì”, và cũng đưa tới từ “ăn đứt”, nghĩa là hơn hẳn (Kiều: Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”).

Từ những nghĩa bóng phong phú, đa dạng “ăn” được thăng hoa và sử dụng như thành phần của những ý niệm căn bản khác trong tình tự và triết lý nhân sinh của dân tộc. Ghép với một vài từ khác, đặc biệt là “nói”, “ở”, “ngồi”, “nằm”, “làm”, là những tư-thế ở-đời của con người, “ăn” không còn nghĩa nguyên thủy của nó nữa, dù đen hay bóng, mà đã hòa quyện cùng từ kia để biến thành một ý niệm mới, y hệt một tổng hợp hóa học mầu nhiệm mà công thức là từ kép. “Ăn nằm” chỉ có nghĩa là sự chung đụng xác thịt, “ăn ở” chỉ có nghĩa là sinh sống, cư xử (ăn ở cho phải đạo), “ăn ngồi” chỉ nói về địa vị hay ngôi thứ (“ăn trên, ngồi trốc”), “ăn làm” hay “làm ăn” chỉ có nghĩa là hoạt động mưu sinh ( “ăn nên làm ra”), và “ăn nói” thường mô tả tư cách của con người trong xã hội ( “ăn ngay nói thật”, “ăn gian nói dối”). Điều đáng kể là trong tiếng Việt những từ ghép này đã đẻ ra không biết bao nhiêu là thành ngữ, tục ngữ, những cụm từ bốn chữ, sáu chữ, hay ca dao hoặc để diễn tả tính tình, phẩm hạnh con người ( “ăn không, nói có”, “ăn cháo đái bát””, “ăn to nói lớn” “ăn xổi ở thì”), hoặc để bày tỏ tình cảm hay thân phận ( “ăn gió nằm mưa”, “ăn cạnh nằm kề”, “ăn đợi nằm chờ”, “ăn gửi nằm nhờ”, “ăn cơm nguội nằm nhà ngoài”), hoặc để biểu thị một nhân sinh quan ( “ăn vừa ở phải”, “ăn lấy chắc mặc lấy bền”, “ăn theo thuở, ở theo thì”, “chẳng ăn cũng thiệt, chẳng chơi cũng già”).

Có hai từ độc đáo hơn cả mà theo tôi chỉ có trong tiếng Việt, đó là: “ăn vã” và “ăn vạ”, khác nhau chỉ một âm vị thanh sắc. Hãy thử dịch hai từ này sang tiếng Anh, Pháp, hay Trung Hoa bằng những từ tương ứng diễn tả được đầy đủ hai ý niệm đó. Tôi thấy đó là việc không ai làm nổi vì lẽ đơn giản: những ngôn ngữ này không có những từ đó. “Ăn vã” có nghĩa là chỉ ăn thức ăn chứ không ăn cơm và thường được dùng với ý trách móc hay mặc cảm phạm tội. Bạn đọc có thấy nền văn hóa nào khác có ý niệm đặc biệt này không? Tôi nghĩ là không. Chỉ với một từ này, ta đã có thể thấy nếp sống kham khổ, cơ cực của người Việt miền Bắc thôn dã quanh năm chỉ biết lấy cơm làm đầu và coi thịt thà, tôm cá là những đồ ăn phụ hay xa xỉ mà mục đích chỉ là đưa đầy cơm. Thế nên, trong chế độ dinh dưỡng của dân tộc, ta chỉ thấy những món ăn không thể “ăn vã” như rau dưa, tương cà, mắm muối, hoạ hoằn mới có thịt cá, nhưng lại kho thật mặn. Điều đáng nói là những món ăn này không phải chỉ dành riêng cho người nghèo khó mà trái lại, cả những người giàu sang có “của ăn của để” cũng chẳng bao giờ chê, nghĩa là những món ăn này thực sự là những “món ăn dân tộc”.

Khởi thủy,  từ “ăn vạ” thoát ra từ ý niệm “ngả vạ” hay “bắt vạ”, một hình thức chế tài do các chức sắc trong làng áp đặt theo phong tục xưa. Thí dụ nhà nào có con gái chửa hoang phải bồi thường danh dự hay “đền” cho hàng xã, hoặc bằng tiền hoặc bằng trâu, bò, lợn, gà, v.v… Ý niệm này dẫn tới “ăn vạ” nhưng nội dung hiện đại của từ này (thí dụ: “nó nằm ăn vạ cả ngày”) không còn dính dáng tới phong tục xưa nữa mà chỉ mô tả sự đòi hỏi công bằng, một cách phản đối có tính cách tiêu cực. Do đó, ta cũng có thể nói: “ăn vạ” là một hình thức đấu tranh bất bạo động của cá nhân để đòi hỏi sự công bằng tối thiểu cho mình, đồng thời nó cũng phản ảnh đức tính chịu đựng thử thách và gan lì trước nghịch cảnh là những nét đặc biệt của dân tộc tính Việt Nam. Trên một bình diện cao hơn và với một quy mô rộng lớn hơn, kỹ thuật “ăn vạ”, một cách tổng quát, có khác chi phương pháp đấu tranh bất bạo động để dành độc lập của Mahatma Gandhi hay những cuộc phản kháng “sit-in” của sinh viên đại học Mỹ?

Hầu hết những từ hay thành ngữ được viện dẫn ở trên, cũng như hầu hết những ca dao và tục ngữ, rõ ràng là đã bắt nguồn từ cuộc sống đơn sơ và mộc mạc nơi thôn dã và đã trở thành nền tảng của văn học dân gian. Vì vậy những từ đó có tính cách “cổ điển”, nghĩa là đã được sáng tác, thử thách, và chấp nhận trong quá trình định hình và định tính của nền văn hóa dân tộc trước khi giao tiếp với Tây phương. Định nghĩa như vậy giúp ta có thể phân biệt được những gì đến sau sự giao tiếp đó trong cái tiến trình không bao giờ ngưng của văn hóa. Những từ sinh sau đẻ muộn đó không có bao nhiêu. “Ăn ảnh” (“cô ấy rất ăn ảnh”) và “ăn giơ (jeu)” (“cầu thủ đưa banh rất ăn giơ với nhau”) hiển nhiên không thể có trước khi người Pháp đô hộ chúng ta. Ta cũng có thể ngờ “ăn diện” (“chẳng chịu làm ăn, chỉ thích ăn diện”) là một từ mới của thế kỷ 20 cũng như từ “ăn mòn” ( “sắt bị át-xít ăn mòn) vì không thấy được liệt kê trong Việt Nam Tự Điển xuất bản năm 1930. Sự kiện từ “ăn” bỗng dưng không còn được chiếu cố trong sự phát triển ngôn ngữ như hàng ngàn năm trước, ta phải hiểu như thế nào?

Như đã thấy, “ăn” can dự sâu đậm vào đời sống dân tộc. Hầu như không có hoạt động nào hay khía cạnh nào của cuộc sống mà không thể mô tả được bằng một từ ngữ có tiếng “ăn” ở trong. Sự kiện từ “ăn” có nghĩa bóng nhiều hơn nghĩa đen và thói quen sử dụng thường làm ta quên hẳn cả nghĩa đen của nó cũng bao hàm một ý nghĩa đặc biệt về vai trò của “ăn” trong văn hóa dân tộc. Có thể nói” ăn đã đi vào tiềm thức hay hơn thế nữa, đã trở thành một thứ “ký ức sinh lý tập thế” của dân tộc chúng ta.

Mỗi nền văn hóa hay dân tộc tính, trong quá trình hình thành, đều chịu sự chi phối của một hoàn cảnh lịch sử, địa lý, và môi sinh nhất định. Người Mỹ lương thiện, xởi lởi, và vị tha là vì đã được thiên nhiên ưu đãi từ những ngày lập quốc, người Do Thái căn cơ và tính tóan vì đã phải bôn ba qua những hoàn cảnh khắc nghiệt trong lịch sử. Dân tộc Việt Nam cần cù, nhẫn nại, gan lì, bền bỉ chịu đựng (resilient) là cũng do kết quả của một cuộc sống khó khăn, chật vật, vất vưởng, tạo nên bởi địa bàn sinh hoạt khi xưa quá chật hẹp, đất đai cằn cỗi, và ảnh hưởng của thiên tai như lũ lụt tái diễn hàng năm. Thêm vào đó là hiểm họa xâm lăng triền miên của láng giềng hay từ phương Bắc, và hoàn cảnh đó đã tạo cho dân tộc ta một tinh thần đề kháng cang cường đã được lịch sử nhiều lần chứng minh. Nói theo kiểu duy linh thì tinh thần đó đã được un đúc bởi “khí thiêng sông núi”, nhưng trên thực tế đó chỉ là vấn đề tự tồn (survival). Vừa phải chống đỡ với giặc giã hay ngoại xâm, vừa phải vật lộn với đất đai có hạn, vừa phải chịu đựng một môi sinh khắc nghiệt kể từ những ngày xã hội được định hình, người Việt thật ra đã quá vất vả trong sự mưu sinh. Kiếm được miếng ăn trong những điều kiện như vậy thật là thiên nan vạn nan. Trải qua nhiều ngàn năm như vậy, “ăn” đã trở thành mối quan tâm thường xuyên, có thể nói một ám ảnh, của một dân tộc nhược tiểu thường bị “ăn hiếp” và “thiếu ăn”, không được thiên nhiên ưu đãi. Và đó, theo ý tôi, là điều có thể giải thích tại sao trong tiếng Việt từ “ăn” lại có nhiều nghĩa và được sử dụng nhiều đến thế.

Đó là một quá trình thăng hoa thiết yếu, có tính cách văn hóa và tâm lý. Vì vậy, ở đây ta không bàn đến cấu thức, ghép từ hay chuyển nghĩa của tiếng “ăn” trên phương diện ngôn ngữ học vì cùng lắm nó cũng chỉ thỏa mãn được câu hỏi “như thế nào (how)” mà thôi. Ở đây, vấn đề là tìm hiểu tại sao (why). Khi ta trân trọng một vật gì, ta thường đặt nó trên bệ cao để chiêm ngưỡng hay thờ phụng. Khi ta bị ám ảnh bởi một điều gì, mọi tư tưởng của ta đều quay về điều đó. Lâu dần, những khi muốn diễn đạt một tư tưởng mới, mô tả một tình huống mới, hay bày tỏ một thái độ bất thường, điều đầu tiên ta nghĩ tới luôn luôn là điều đã ám ảnh ta trong bấy lâu, và một cách tự nhiên, vô thức, ta đã mượn nó để nói lên những điều ta muốn nói. Về mặt tâm lý, đó là cách thế tự nhiên giúp ta trút bỏ hay tự giải thoát khỏi sự ám ảnh hay ẩn ức, một hình thức “nói lên cho hả dạ” (catharsis) của phân tâm học. Trường hợp buột mồm, buột miệng, nói lỡ lời, nói nhịu, nói mê, nói sảng cũng như thế, tuy chỉ là trạng thái nhất thời. Trên căn bản và một cách giản lược, tôi nghĩ đó cũng là quá trình thăng hoa của từ “ăn”, và chính sự thăng hoa này đã đưa đến địa vị độc tôn của nó trong tâm thức và tình tự của dân tộc chúng ta. Ngày nay “ăn” có thể không còn là một nỗi ám ảnh như ngàn xưa, nhưng không ít thì nhiều vẫn còn tiếp tục là một mối quan tâm. Tính cách quan yếu của miếng ăn đối với dân tộc Việt Nam vẫn còn đó.      

Dân tộc ta đã trải nghiệm nạn đói ghê gớm năm Ất Dậu (1945) do phát-xít Nhật gây nên khiến cho khoảng hai triệu người chết. Sau cuộc Cải Cách Ruộng Đất đau thương tại miền Bắc, cố học giả Bernard Fall đã viết như sau trong cuốn The Viet Minh Regime xuất bản năm 1956: “Sự tồn tại của toàn thể chế độ xã hội chủ nghĩa phần lớn sẽ tùy thuộc vào việc đảng cộng sản có thành công hay không trong việc đem lại cho người dân sống dưới quyền họ kiểm soát một mức sống đầy đủ”.

Chế độ đó đã suýt chết đuối trong vũng lầy quan liêu bao cấp nếu không kịp thời “đổi mới” mà mở cửa đón nhận thị trường tự do. Người dân còn nhớ thời đau khổ đó đã phải ăn cơm độn ngô khoai và bo bo.

Ngày nay, dưới xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã trở thành một trong những nước nghèo đói nhất thế giới. Nói cho công bằng, vấn đề thực phẩm cũng là vấn đề sống còn của nhân loại với dân số càng ngày càng gia tăng một cách đáng lo ngại. Riêng đối với đất nước ta, điều bất hạnh là vấn đề này đang nằm trong quyền hạn và đường lối giải quyết “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” của Đảng Cộng Sản. Tham nhũng lan tràn chồng chất, lạm phát không thể kiểm soái, hố cách biệt giầu-nghèo, nông thôn-thành thị và bất mãn ngày một gia tăng trong xã hội.

Tương lai sẽ ra sao?


(*) Tôi chỉ biết võ vẽ tiếng Quan Thoại. Những thí dụ từ ngữ về thực (chih) này là xin của cụ bà Hứa Bảo Liên, phu nhân (đã khuất núi) của cụ Nguyễn Tường Bách, bác sĩ, nhà cách mạng, nhà văn. Hai cụ đã sống ở Trung Hoa 40 năm trước khi định cư ở Mỹ.

Trong kiếp này cháu gặp nhiều điều không may mắn, cuộc sống hiện tại có nhiều điều bất an, đó là do kiếp trước cháu gieo duyên chẳng lành mà tạo thành quả cho đời nay, do đó khi sanh ra làm người cháu phải gặp nhiều hoàn cảnh và những đối tượng không như ý, để trả quả khiến cho cháu cuộc đời lỡ dở và nhiều khổ đau.

Sống trong hoàn cảnh này, nếu cháu biết giải tỏa thì cháu thoát ra khỏi cảnh khổ đau. Vậy giải tỏa như thế nào?

Giải tỏa có nhiều cách như:

Cháu nên hiểu và chấp nhận mình là một người đang thiếu nợ, mà đã chấp nhận mình là một người thiếu nợ thì phải chấp nhận trả nợ, chấp nhận trả nợ thì phải vui lòng mà trả nợ, có vui lòng trả nợ thì nợ mới dứt, còn nếu cháu không vui mà trả nợ thì làm sao nợ dứt được phải không cháu? Trả nợ mà không vui tức là vừa trả mà cũng vừa vay, cháu có nhận ra điều này không? Đã tự làm mình khổ mà nợ cũng không dứt đó là một bằng chứng cụ thể cho kiếp làm người nếu ai không hiểu Phật Pháp đều phải đi dẫm lại lối mòn khổ đau này của nhau.

Nợ nhân quả mà cứ vay trả, trả vay như vậy thì đời này sang đời khác trả nợ cũng chưa xong, hiện giờ cháu đang sống buồn khổ là cháu đang trả nợ mà trả như vậy thì làm sao cháu trả cho xong, tại sao vậy?

Vì nợ này không phải nợ tiền bạc của cải tài sản, mà nợ buồn khổ, cho nên cháu còn buồn khổ là còn nợ, chừng nào cháu hết buồn khổ là cháu hết vay nợ.

Tuy cháu đã hiểu được nhân quả như vậy, thì lòng cháu như gió đã dừng, nhưng sóng chưa dừng cháu ạ!

Muốn cho sóng dừng thì cháu nên dẫn tâm cháu vào chỗ không có sóng thì cháu nên nhắc tâm:

a- Buồn khổ là ác pháp hãy rời khỏi tâm ta.
b- Lúc nào tâm cũng phải thanh thản an lạc vui vẻ không được buồn khổ.
c- Dù bất cứ hoàn cảnh nào ta cũng phải an vui không được buồn khổ, buồn khổ làm cho đời úa tàn khô héo.
d- Tâm như đất không nên buồn khổ, buồn khổ là nợ của nhân quả.
e- Buông xuống đi! Hãy buông xuống đi!
Buồn khổ làm chi có ích gì?
Thở ra chẳng lại còn chi nữa
Vạn sự vô thường buông xuống đi.

Chúc cháu thành công trong việc rèn luyện tâm mình được an vui hạnh phúc.

Trích Đường về xứ Phật X
Trưởng lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Hỏi: Kính thưa Thầy! Con có bà Ngoại năm nay ngoài 70 tuổi đang bị bệnh ung thư, sự sống không còn bao lâu nữa, tuy ở xa nhưng con có cảm tưởng hiện giờ Ngoại đang chịu nỗi đau về thể xác (sự hoành hành của bệnh) nỗi đau về tinh thần (lo sợ cái chết). Con là trong những đứa cháu được Ngọai yêu quí. Trong tình cảm này con rất muốn làm một việc gì đó thiết thực giúp cho Ngoại. Thầy có thể chỉ dạy cho con được không?

Đáp: Trước tiên con nên về gặp bà Ngoại con và an ủi Người, để cho Người đừng dao động tâm khi cơn bệnh hoành hành và khuyên Ngoại con: “Đây là nhân quả của bà Ngoại do tiền kiếp Ngoại có biết không?” “Nhân là hạt, quả là trái. Khi vô tình hay hữu ý mình đã gieo hạt giống xấu (hành động ác) thì ngay trong hiện tại mình phải gặt lấy tai họa hay bệnh tật khổ đau. Ngoại bệnh đau cũng vậy, đời trước hay trong kiếp này vì thương chồng, thương con vô tình Ngoại đã gieo một hạt giống xấu bây giờ Ngoại phải chịu bệnh một mình như vậy. Ngoại đừng buồn khổ nghe Ngoại? Ngoại không buồn khổ là Ngoại sẽ hết bệnh mau.”

Ví dụ 1: Ngay trong đời sống hiện tại mình lái xe không cẩn thận, lạng lách, vượt qua mặt, chạy ẩu sang lề khác, phạm vào luật lệ giao thông, đó là nhân. Nên tai nạn xảy ra làm cụt tay gãy chân, có khi mất mạng, đó là quả.

Ví dụ 2: Ngay trong đời sống hiện tại mình không giữ vệ sinh chung, quăng rác bẩn thừa thải khắp nơi; hoặc ăn uống không vệ sinh, đụng đâu ăn đó, không biết dơ sạch, đó là nhân. Khi bị bệnh đau phải tốn tiền đi bác sĩ, đến bệnh viện có khi bị chết, đó là quả.

Ví dụ 3: Ăn thịt chúng sanh, đụng con gì ăn con vật nấy, không biết trong thịt chúng sanh có nhiều chất độc tố, đó là nhân. Đến khi bị bệnh đau, gặp những bệnh nan y khó trị, phải chịu khổ sở đau nhức, lăn lộn trên giường bệnh, đó là quả.

Ví dụ 4: Ỷ quyền thế, la lối chửi mắng người, xem mọi người dưới quyền như tôi tớ người làm công không ra gì, đó là nhân. Khi bị bệnh đau hoặc tai nạn xảy ra cho mình hay những người thân trong gia đình, đó là quả. Cho nên nhân quả thường đi song song với nhau, hễ có nhân là có quả. Vừa mở miệng nói xấu người khác, đó là nhân, thì ngay đó bị người khác xem thường mình, cho mình là người xấu ác, đó là quả. Nhưng muốn chuyển nhân quả ấy thì phải làm sao?

Nhân quả muốn chuyển được thì phải vui vẻ chấp nhận để trả nợ nhân quả. Khi đứng trước hoàn cảnh tai nạn bệnh tật thì không nên buồn rầu, lo sợ, không nên than thân, trách phận, không nên đổ thừa cho ai cả mà hãy vui vẻ nhận chịu một cách tự nhiên đầy can đảm và dũng cảm.

Khi nhân quả đến muốn chuyển hóa nhân quả thì phải sống đúng tám giới luật của Phật tức là Thọ Bát Quan Trai. Tám giới luật của Phật là chín đức hạnh làm người. Chín đức hạnh làm người là chín pháp thiện. Nhờ sống đúng chánh pháp thiện mà chuyển tất cả quả khổ.

Vậy, con hãy lắng nghe Đức Phật dạy mà hướng dẫn cho ngoại con: “Này các tỳ kheo muốn ước nguyện một điều gì, điều đó được viên mãn thì giới luật phải nghiêm chỉnh”. Tám giới luật Phật tức là chín đức hạnh. Chín đức hạnh gồm có:

1/ Đức hiếu sinh. (Lòng thương yêu sự sống của muôn loài).
2/ Đức buông xả. (Không gian tham trộm cắp cướp giựt, móc túi, lấy của không cho).
3/ Đức chung thủy. (Không tà dâm lấy vợ người, chồng người khác).
4/ Đức thành thật. (Không nói dối).
5/ Đức sáng suốt. (Không uống rượu).
6/ Đức tự nhiên. (Không trang điểm, đeo vòng vàng chuỗi ngọc và thoa dầu thơm).
7/ Đức trầm lặng độc cư. (Không ca hát, không nghe ca hát, không gõ mõ tụng kinh, niệm Phật, niệm chú).
8/ Đức thanh bần. (Không nằm giường cao rộng lớn).
9/ Đức ly dục. (Không ăn uống phi thời, không ăn uống lặt vặt, chỉ ăn ngày một bữa).

Sau khi sống đúng 9 giới luật (Bát Quan Trai) tức là những đức hạnh làm người thì con hướng dẫn Ngoại con dùng hai cánh tay đưa ra, đưa vào và tác ý. Trước khi đưa tay ra thì bảo: “An tịnh thân hành tôi biết tôi đưa tay ra”. Khi đưa tay ra xong thì tác ý tiếp: “An tịnh thân hành tôi biết tôi đưa tay vô”. Khi đưa tay ra thì dùng tưởng nghĩ như bệnh theo tay mà đi ra. Cứ nhiếp tâm an trú vào cánh tay đẩy lui bệnh tật như vậy thì bệnh sẽ hết, nhưng khi đưa tay vô thì dùng tưởng thân không bệnh đi vô.

Đây không phải là phương pháp trị bệnh mà đây là phương pháp chuyển nghiệp. Do chuyển nghiệp nên phải sống đúng giới luật. Phương pháp chuyển bệnh này mà trong kinh Tứ Niệm Xứ gọi là “Trên thân quán thân để khắc phục tham ưu”. Nếu Ngoại con tin tưởng nơi Phật pháp là pháp mầu nhiệm cứu Ngoại con thoát bệnh khổ thì Ngoại con nên yên tâm ôm pháp chuyển bệnh thì không bao lâu Ngoại con sẽ hết bệnh khổ.

Không biết con có nhận được một bức thư của Thầy gởi cho Ngoại con không? Nếu được bức thư ấy mà Ngoại con nương vào đó giữ tâm thanh thản, an lạc và vô sự cho đến khi bỏ thân tứ đại thì chấm dứt tái sanh luân hồi.

Trích Đường Về Xứ Phật tập IX
Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây


Tháng lễ Phật Đản sinh là một trong những dịp có ý nghĩa đặc biệt với Phật giáo. Vào ngày này, các tín đồ Phật giáo tổ chức lễ tắm Phật như một nghi thức tỏ lòng thánh kính tới Đức Phật đồng thời thể hiện mong mỏi hướng thiện, an lành.

Y nghia nghi thuc tam Phat trong thang le Phat Dan sinh hinh anh 2
Ngày Phật Đản sinh tức ngày sinh của Đức Phật Thích Ca mâu Ni được coi là dịp trọng lễ củaPhật giáo trên khắp thế giới. Tháng 4 âm lịch hàng năm là tháng lễ Phật Đản sinh, với nhiều sự kiện tôn giáo do các tín đồ thực hiện. Trong đó, tắm Phật là nghi thức có ý nghĩa tôn giáo và nhân văn sâu sắc, thường được tổ chức long trọng.
Theo truyền thống, lễ tắm Phật được tổ chức vào ngày 8/4 âm lịch nhưng tới năm 1950, Phật giáo thế giới thống nhất chọn ngày 15/4 âm lịch làm ngày kỷ niệm Phật Đản. Vì vậy, tháng 4 được gọi là tháng lễ Phật Đản và nghi lễ tắm Phật có thể được tổ chức trong các ngày từ 8/4 đến 15/4 âm lịch hàng năm. 
Vị trí thờ cúng thế nào là hợp phong thủy?
Thiên long bát bộ - hộ pháp thần trong Phật giáo
Vén màn bí mật nhân tướng của Phật, Nho và Đạo giáo

Nguồn gốc của đại lễ tâm linh này xuất phát từ truyền thuyết về sự ra đời của Đức Phật. Tương truyền, khi Ngài sinh ra có Cửu Long (chín rồng) tới phun hai dòng nước nóng lạnh để tắm cho Ngài. Cùng lúc ấy, chư thiên tung hoa trời, trỗi nhạc trời mừng Thái tử. Từ đó, để kỉ niệm ngày Phật đản, chúng đệ tử tổ chức nghi lễ tắm Phật, diễn lại điển tích xưa.
Đây không chỉ là nghi thức mang tính chất tưởng nhớ, hướng về Đức Phật mà còn là niềm tin tôn giáo, rũ bỏ muộn phiền, thanh rửa tâm hồn, theo gương Đức Phật, học tập Phật pháp để hướng tới chân – thiện – mĩ của đời người. Mỗi tín đồ Phật giáo khi tham gia vào nghi lễ này đều mang trong mình một tâm niệm, rũ bỏ sân hận, rũ bỏ những đau khổ, muộn phiền trong quá khứ và hướng tới tương lai, tới những điều mới mẻ, tốt lành.
Y nghia nghi thuc tam Phat trong thang le Phat Dan sinh hinh anh 2
Giáo lý nhà Phật ghi rõ, nghi lễ không nằm ở kiểu cách mà cốt ở chân tâm, vì thế, mỗi nơi lại có cách tổ chức nghi lễ tắm Phật riêng, dựa trên tích xưa kể lại. Có nơi dội nước từ đỉnh đầu xuống, cũng có nơi chỉ dội từ vai xuống với ý nghĩa tôn kính Đức Phật.

Song, quan trọng nhất chính là dùng nước sạch, thanh khiết và lòng mỗi người lắng đọng, tĩnh tại, chân thành hướng thiện, nhất tâm hướng Phật. Chỉ có như vậy thì tâm mới tịnh, thân mới thanh, nghi thức mới vẹn tròn, đem lại công đức vô lượng cho chúng sinh.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.