bài viết trong chuyên mục "Minh Vương Bộ"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn Minh Vương Bộ. Hiển thị tất cả bài đăng



Một điều khó hiểu của Phật giáo đó là sự xuất hiện của các dạng hình tướng phẫn nộ, khủng khiếp...Có thể nói đó là những hình tướng xấu xí, ghê rợn đến sởn tóc gáy, và những hình tướng phẫn nộ này dường như đi ngược lại với tinh thần Phật Giáo.

Những hình tướng này không hề là biểu tượng cho cái ác hay là tượng trưng cho một ma lực nào đó...Mà thay vào đó chính là tượng trưng cho sự dũng mãnh của thực tại căn bản của vũ trụ nói chung, và tượng trưng cho tâm thức của con người nói riêng.


Ngoài ra đó còn là sự tiêu diệt những mê muội hư vọng của tâm thức con người, và mục đích của các vị còn là sự bảo hộ cho lòng tín, đức tin. Những hộ thần phẫn nộ là những tượng trưng cho sự chế ngự dục vọng, đánh bại những điều xấu xa.


Những hộ thần thường có thân hình chắc nịch, ngắn nhưng dày... nhiều vị còn có nhiều đầu nhiều tay. Màu sắc của khuôn mặt các ngài thường đựơc hay so sánh với màu mây, màu đá quý...Đó là lý do tại sao trong các sadhanas hay có những đoạn so sánh một vị hộ thần màu đen như đám mây xuất hiện cuối trời, hay là xanh như màu ngọc lục bảo, hoặc trắng như một ngọn núi pha lê, màu vàng như vàng ròng, hoặc màu đỏ như là những tia nắng nơi ngọn núi san hô đỏ...Trong các sadhanas cũng có nói rằng các ngài phủ đầy người một lớp tro của các buổi lễ trộn với dầu mè hoặc là phủ khắp người những vết mỡ, những đốm máu và mỡ người.


Khuôn mặt của các ngài thường có những biểu hiện như sau : miệng mở một cười giận dữ, từ đó ló ra những chiếc răng nanh - người ta hay nói những chiếc nanh đó được làm bằng đồng hoặc sắt. Những con mắt đỏ ngầu đầy máu biểu lộ cho sự phẫn nộ. Thường thì các ngài có 3 mắt.


Điều quan trọng nhất trong nhóm các hộ thần đó chính là nhóm 8 vị, được biết đến như là các hộ pháp chính của Phật giáo Tây Tạng ( Bát Đại Hộ Pháp ), các hộ pháp này được xem như những vị bồ tát, và các ngài có nhiệm vụ chiến đấu một cách không khoan nhượng với bất kì thế lực ma quỷ nào cũng như những kẻ thù của Phật giáo .


Họ bao gồm :


* Yama ( Dạ Ma )

* Mahakala ( Đại Hắc Thiên )
* Yamantaka ( Hàng Phục Dạ Ma )
* Kubera ( Tài Bảo Thiên Vương )
* Hayagriva ( Mã Đầu Minh Vương )
* Palden Lhamo ( Vị Nữ Thần )
* Tshangs pa ( Phạm Thiên Trắng)
* Begtse ( Thần Chiến Tranh )




Yama: ( Dạ Ma ) Thần chết






Dựa trên những truyền thuyết về nguồn gốc của Yama, một người đàn ông được một vị thánh cho biết rằng nếu ông ta nhập định 50 năm ở trong 1 hang động, ông ta có thể đạt được giác ngộ.

Thời gian cứ thế trôi đi, đúng vào đêm ngày thứ 29 của tháng thứ 11 của năm thứ 49. Hai tên trộm đã chạy trốn vào hang động của ông. Trong tay bọn chúng là cái đầu của con trâu mà bọn chúng giết trộm. Sau đó chúng mới phát hiện ra rằng người đàn ông đã biết được việc làm mờ ám của bọn chúng, bọn chúng quyết định giết ông để bịt đầu mối. Ông ta van xin bọn chúng tha mạng cho ông, bởi vì chỉ còn vài phút nữa là ông có thể đạt tới giác ngộ. Nếu bị giết chết trước thời hạn 50 năm thì mọi công sức của ông bị đổ sông đổ bể.Bọn cướp phớt lờ trước lời van xin của ông ta, và cắt đứt đầu của ông ta.

Ngay lúc đó, ông ta lập tức biến thành yama và đội cái đầu trâu vào cái xác không đầu của mình. Yama giết chết hai tên cướp và uống cạn máu của chúng bởi cái chén được làm bằng sọ của bọn chúng.Trong cơn điên cuồng báo thù, Yama đe doạ tiêu diệt hết tất cả dân Tây Tạng.
Người dân Tây Tạng nguyện cầu đức Văn Thù Sư Lợi , xin ngài bảo vệ dân chúng trước cuộc báo thù của Yama. Văn Thù Sư Lợi liền vận dụng thần thông hoá thân thành Yamantaka ( Hàng phục dạ ma ), ngài đánh bại Yama,để cứu giúp dân chúng, đồng thời ngài khiến Yama trở thành một trong những hộ pháp của Phật giáo.


Chúng ta thường thấy Yama hay xuất hiện trong thangka với một phối ngẫu của mình, Chamundi, là người dâng cho Yama một chén tiên dược máu quỷ ( cam lồ máu ). Và những xác người chết như là thứ trang sức của Yama. Yama có màu xanh đen của đầu con trâu .





Mahakala : Đại Hắc Thiên



Huyền thoại về lịch sử của Mahakala được viết bởi Khedrup Khyungpopa, là người sáng lập dòng truyền thừa Shangpa Kagyu, vào thế kỉ thứ 11. Ngài dạy rằng sức mạnh đặc biệt cũng như năng lực kì diệu của Mahakala là do nguyện lực của đức Avalokiteshvara ( Quan Thế Âm ). Ngài nguyện còn sinh tử và quyết không thành Phật nếu còn chúng sanh chưa được giác ngộ. Sau khi giúp hàng vô lượng người, trong vô số đời đạt tới giác ngộ . Ngài thấy rằng sự đau khổ không hề giảm sút mà hơn thế nữa sự ô nhiễm trong tâm thức chúng sanh ngày một tăng trưởng. Ngài thấy thất vọng, nhụt chí. Lúc đó lập tức đầu Ngài vỡ tan thành trăm ngàn mảnh vụn.



Phật A Di Đà ( Amitabha) một trong 5 vị Phật ( Tỳ Lô Giá Na Phật, Bảo Sanh Phật, Khai Phu Hoa Vương Phật , A Di Đà Phật, Thiên Cổ Lôi Âm Phật ) ghép những mảnh vỡ lại, và biến thành 11 đầu. Sau đó ngài dặn dò đức Avalokiteshvara hãy thực hiện lại lời nguyện đó một lần nữa, nhưng giữ lời nguyện đó tốt hơn, kiên cố hơn. Do đó Avalokiteshvara có mười một đầu, và trong đó có mười đầu là hiền hoà và một đầu là phẫn nộ. Đầu phẫn nộ đó chính là đại diện cho Mahakala.

Ngài Avalokiteshvara buồn bã, trong khoảng thời gian 7 ngày. Ngài nghĩ rằng trên thế giới đầy những chúng sanh đau khổ cần một kết quả thật nhanh chóng mà không phải có quá nhiều nỗ lực. Sau đó ngài muốn biến mình thành một bổn tôn phẫn nộ để đánh bại nhanh chóng và hiệu quả hơn những trở ngại cho hạnh phúc của người khác. Với tư tưởng này chữ Hum màu xanh đậm xuất hiện từ trái tim ngài. Chủng tự Hum đó đã trở thành Mahakala. Điều đó có nghĩa rằng trong câu thần chú “Om Mani Padme Hum”, chủng tự Hum tượng trưng cho sức mạnh, quyền năng.

Sự xuất hiện của Mahakala kéo theo sự rung động của mặt đất, đồng thời có giọng nói của chư Phật vang vọng trong không trung chứng minh rằng Mahakala có đủ quyền năng làm ban phát những gì chúng sinh mong muốn nếu những mong muốn đó là trung thực và tốt.

Mahakala là một hộ thần giám hộ cho người thống trị Mông Cổ- Thành Cát Tư Hãn- lúc bấy giờ. Sự phẫn nộ của Mahakala được xem giống như hoá thân phẫn nộ của thần Siva. Ở Tây Tạng, về hình ảnh của Mahakala thường có một đầu và ba mắt, lông mày như những ngọn lửa nhỏ và râu thì có dạng như hình móc câu. Mahakala có từ 2 đến 6 tay.

Điều tự nhiên cơ bản mà dân Tây Tạng thường thờ cúng Mahakala có lẽ là vì ngài là vị thần của lều trại. Bởi vì dân Tây Tạng sống du mục, do vậy thời gian ở lâu mau là phụ thuộc vào thiên nhiên và môi trường xung quanh, do vậy họ dùng lều trại, việc di chuyển và định cư tạm thời là một phần quan trọng của cuộc đời họ.

Ngoài ra ngài còn là một Hộ Pháp rất quan trọng, bởi thế cho nên ở mỗi tu viện đều có một nơi thờ Mahakala.



Yamantaka ( Hàng Phục Dạ Ma )


Yamantaka, là một hoá thân phẫn nộ của Văn Thù Sư Lợi ( Bồ Tát của trí tuệ ), Yamantaka là hoá thân phức tạp và phẫn nộ khủng khiếp nhất trong tất cả các hoá thân phẫn nộ của Phật giáo. Ở hoá thân này, Văn Thù Sư Lợi đã hàng phục được thần chết Yama, khi mà Yama đang trong cơn khát máu điên cuồng trả thù giết hại dân Tây Tạng .



Theo truyền thuyết, trong đại định, Văn Thù Sư Lợi đi khắp tất các nơi trong địa ngục để tìm kiếm Yama. Cuối cùng ngài đã tìm ra được nơi trú ngụ của Yama và các thuộc hạ của mình đó là một thành phố sắt ở địa ngục. ( Yama lúc này mang hình dáng thân người đầu trâu nước).


Để điều phục Yama, Văn Thù Sư Lợi sử dụng hình dạng như vậy, nhưng thêm vào đó tám đầu và nhân lên nhiều tay, mỗi cánh tay đều cầm những thứ vũ khí đáng sợ. Và hơn thế nữa từ trong thân ngài mọc ra thêm một số lượng chân tương ứng, xung quanh ngài là một số lượng lớn những chúng sanh đang kinh hãi. Để đối đầu với cái chết, ngài hiện thân như chính bản thân của thần chết được nhân lên nhiều lần. Thần chết Yama thấy được bản thân nhưng sự khủng khiếp lại gấp nhiều nhiều lần. Lúc này thần chết Yama gặp phải tình cảnh đúng nghĩa là "sợ muốn chết".

Đó là lý do tại sao các nhà yogi khi thực hành pháp yamantaka , thông qua hình tượng yamantaka họ sẽ phát tiển được định lực đủ mạnh để đối diện với cái chết, cũng như các sự sợ hãi về cái chết. Mỗi đầu, mỗi cánh tay, mỗi bàn chân cho đến từng thái độ, từng món trang sức, tất cả biểu tượng đó của Yamantaka đều là những mảng giác ngộ tối cần thiết cho việc đối diện với cái chết.

Cả Yama và Yamantaka đều mang hình tướng là đầu trâu nhưng Yama thì luôn có một món trang sức hình bánh xe ở trên ngực, đây là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt hai vị hộ pháp này.










Kubera (Vaisravana) ( Tài Bảo Thiên Vương )



Theo thần thoại Hindu, Kubera là con trai của một nhà hiền triết gọi là "Visravas", vì vậy ngài được đặt theo tên cha mình là "Vairavana". Truyền thuyết nói rằng do sự tu tập nghiêm chỉnh, sự mộc mạc, chân thật của mình trong hàng ngàn năm. Brahma ( Phạm Thiên ), đấng sáo tạo trong thần thoại của Hindu, đã ban cho ngài sự bất tử và biến ngài thành vị thần của tài bảo. Ngài là vị thần bảo hộ cho tất cả các kho tàng của trái đất. Ngài sẽ ban phát kho tàng này cho những ai xứng đáng.



Nơi ở của Kubera là ngọn núi Kailash ( một đỉnh núi linh thiêng, mà người dân Tây Tạng rất hay hành hương tới, tương truyền ai tới được ngọn núi linh thiêng này thì dường như đã tịnh hoá được rất nhiều nghiệp lực, cũng như đã tiến một bước rất dài trong con đường tu tập - người dịch ). Nhưng khi được Brahma bổ nhiệm làm Thần Tài Bảo, thì Brahma cho ngài vùng Lanka ( Ceylon) làm thủ phủ của ngài.



Cũng dựa theo truyền thuyết, ngài cũng được Brahma tặng cho chiếc xe pushpaka, là chiếc xe khổng lồ và di chuyển theo ý nghĩ của chủ nhân với một tốc độ khủng khiếp.

Kubera cũng được thờ cúng bởi các Phật tử, ông được xem như là một vị bảo hộ của phương Bắc ( trong một số tài liệu còn nói Kubera chính là Tỳ Sa Môn Thiên Vương, người trấn giữ ở phương Bắc, chủ về tài bảo -nd ). Biểu tượng đặc trưng của ông chính là con chồn. Con chồn đặc biệt này luôn nhả ra châu báu.

Theo Phật giáo , ngài còn được gọi là Jambhala. Ngài luôn xuất hiện dưới hình tướng to béo và được bao phủ bởi châu báu. Chân phải của ngài lúc nào cũng đạp lên một cái vỏ ốc nằm trên một bông sen ( vỏ ốc này tượng trưng cho tốc độ khủng khiếp của ngài ).



Hayagriva : Mã Đầu Minh Vương




Hayagriva được thờ cúng ở Tây Tạng một cách chính yếu bởi những người buôn ngựa bởi vì người ta tin rằng Hayagriva doạ và đuổi ma quỷ đi bởi tiếng ngựa hí vang trời. Khi người ta thỉnh, ngài sẽ báo hiệu việc giáng lâm của ngài bằng tiếng hí, đó là lý do có cái đầu ngựa trên đảnh đầu, một dấu hiệu đặc trưng của Hayagriva.


Âm thanh vang ra từ đầu ngựa, theo như truyền thuyết là có khả năng xuyên thủng màn vô minh, đem lại ánh sáng chân thật của tự do. Thần chú của ngài có chứa những câu thơ như sau.





"Nguyện cầu ngài bảo vệ đàn ngựa


Tăng thêm số lượng ngựa cái
Từ những con ngựa này sẽ sinh thêm nhiều chú ngựa con siêu phàm
Xin ngài hãy dẹp hết những chướng ngại trên đường


và hướng cho chúng con đi đúng hướng"





( do lối sống du mục của người Tây Tạng, nên ngựa là một thứ quan trọng không thể thiếu trong sinh hoạt thường nhật của họ )





Hayagriva là một hoá thân phẫn nộ của đức Avalokiteshvara ( Quan Thế Âm ), theo những khảo cứu thì có tới 108 hình tướng của Hayagriva. Năng lực đặc biệt của ngài là chữa bệnh, nhất là các bệnh về da, thậm chí cả những bệnh về da khá trầm trọng như là bệnh phong. Bệnh này được tin rằng do Naga gây ra ( Naga là loài rồng nhưng có hình tướng giống như rắn, rất thích sống ở khu vực sông nước, ao hồ, biển cả...).





Hình tướng đơn giản nhất của ngài thì có một mặt, hai tay và hai chân. Tất cả mọi thứ về ngài đó là khuôn mặt đáng sợ với ba con mắt, cái miệng đang gầm rống đầy những răng nanh, tư thế đứng của một chiến binh, chiếc bụng to lớn ẩn chứa một nội lực phi phàm trong đó. Tay phải ngài vung thanh kiếm để đe doạ đối phương, tay trái giơ lên phụ trợ trong một tư thế đáng sợ, đồ trang sức của ngài đó là những con rắn.





Nét đẹp của ngài lại là những điều đáng sợ nêu ở trên, bởi vì chính cái khía cạnh đáng sợ đó lại là biểu lộ của sự từ bi, chính cái đáng sợ đó giúp ta buông bỏ được bản ngã, và xuyên thủng được màn vô minh....



Palden Lhamo : Vị nữ thần






Palden Lhamo là vị nữ hộ pháp duy nhất trong nhóm 8 hộ pháp lớn của Phật giáo. Ngài là nữ hộ pháp bảo vệ cho chánh pháp ở khắp mọi nơi, bao gồm cả đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà nước Tây Tạng, thủ phủ Lhasa. Đồng thời ngài cũng là nữ hộ pháp cho đất nước Trung Quốc từ triều đại nhà Nguyên thế kỉ 13 cho tới những ngày cuối cùng của triều đại nhà Thanh đầu thế kỉ 20.






Ở Ấn Độ, Palden Lhamo còn được gọi là Shri Devi. Ngài còn là là nữ thần Okkin Tungri ở miền Bắc Mông Cổ. Ngài cũng được xem như là một hoá thân phẫn nộ của Saraswati ( Biện Tài Thiên ) vị nữ thần của sự học tập, của sự biện tài ( ăn nói ), và của âm nhạc. Một hoá thân khác của ngài là Chamudi, phối ngẫu của Yama. Lại cũng có thuyết nói ngài là một phối ngẫu của Mahakala.



Là nữ hộ pháp duy nhất trong việc bảo vệ chánh pháp, thế nên tương truyền rằng những thứ vũ khí của ngài vốn là được các thần khác trao tặng. Hevajra tặng cho ngài hai hạt xúc xắc để định đoạt sinh mạng của con người, Brahma tặng ngài chiếc quạt làm bằng lông công, từ Vishnu ngài được tặng hai chiếc đèn sáng rực( giống như hai viên ngọc toả hào quang ). Một chiếc thì được ngài cài trên đỉnh đầu, chiếc còn lại được ngài đeo vào ngang eo. Kubera, Thần Tài Bảo, đã cho ngài một con sư tử ( trang sức hình sư tử ) và được ngài đeo ở tai phải. Nanda, Thần rắn, đã ban cho ngài một con rắn ( trang sức hình con rắn ) và được đeo ở tai trái của ngài. Từ Vajrapani ( Kim Cang Thủ ) ngài nhận một chiếc búa sấm sét. Những vị thần khác ban tặng ngài một con la, được bao bọc bởi bộ da của quỷ Dạ Xoa, và có những con rắn độc quấn quanh bụng. Người ta hay thấy ngài cưỡi con la này đi du hành khắp muôn phương.



Ngoài ra còn có một truyền thuyết nói rõ hơn về sự từ bi của ngài. Tương truyền là ngài đính hôn với một vị vua tên là Shenji, người vừa là một vị vua khát máu vừa là một chiến binh bạo tàn, ông ta từ chối hết những lời yêu cầu của Palden Lhamo khẩn cầu ông dừng giết hại dân chúng vô tội. Cuối cùng ngài đành đưa ra một tối hậu thư :



Nếu không dừng giết hại, bà sẽ giết những đứa con của mình có với nhà vua, để cho ông có thể trải nghiệm về nỗi đau người thân bị giết hại mà ông ta gây ra cho những người khác.


Shenji vẫn không dừng, thế là ngài thực hiện lời đe doạ của mình. Trước cái chết của con trai mình, ông ta đã buộc phải dừng lại.



Ngài hay được thấy mang theo xác của con trai mình trên lưng con la đi khắp nơi. Đây là biểu tượng cho quyết tâm không dừng lại trước bất cứ điều gì để đem lại sự an bình cho tất cả.




Tshangs Pa ( Phạm Thiên Trắng )




Brahma (Phạm Thiên) , là một vị thần quan trọng nhất đối với đạo Hindu, tuy nhiên đối với Phật giáo thì Phạm Thiên chỉ chiếm một ví trí thứ yếu. Tên tiếng Tây Tạng của Brahma là Tshangs Pa, chúng ta thường biết đến Brahma với hình tượng 4 đầu 2 tay. Nhưng trong Phật giáo Tây Tạng ngài luôn được biểu hiện với màu trắng, 1 đầu 2 tay và được gọi là Tshangs pa dkar po. Có nghĩa là Tshangs Pa Trắng.


Cũng theo như các sadhana, đây cũng là hình tượng của Brahma. Người ta thường thấy ngài ngồi trên lưng con ngựa trắng, giơ cao thanh gươm, đôi lúc có đeo lá cờ sau lưng. Ngài là một vị thần của chiến binh, nhưng không hiện thân quá khủng khiếp và man rợ. Đằng sau chiếc vương miện ngài là chiếc khăn mỏng có chứa cái vỏ ốc ( một trong những biểu tượng cát tường thường thấy của Tây Tạng-nd ). Ngài mặc những bộ quần áo dài tay và "bồng bềnh như mây".



Mặc dù các truyền thuyết đằng sau nguồn gốc của ngài, không có gì không khế hợp với Brahma, song chúng ta có một truyền thuyết khá thú vị:








Ekajati - Bà mẹ khủng khiếp






Thất vọng vì sự bại trận của mình, ngài Tshangs Pa lại tiếp tục cuộc hành trình của mình trong vũ trụ. Ngài bắt đầu giết tất cả những người thanh niên ở những nơi ngài đi qua, và cưỡng bức những cô gái mà ngài gặp. Một ngày nọ ngài gặp nữ thần Ekajati. Với ý định quấy rầy nữ thần, ngài bắt đầu buông lời ong bướm. Nữ thần Ekajati nổi giận và dùng chiếc khăn tơ lụa của mình đang choàng trên người để đánh ngài. Bị đánh vào đùi, chân ngài lập tức gãy lìa. Cái đánh của nữ thần ngay lập tức khiến cho ngài giác ngộ và trở thành một trong những hộ pháp của Phật giáo. Cái đánh này không có ý nghĩa là hành hung trên một khía cạnh vật chất. Nó chính là sự tấn công vào các phần tiêu cực, các khía cạnh đen tối của tâm thức và chuyển hoá nó. Bởi vì sức mạnh, năng lực vô biên của ngài được chuyển hướng vào việc bảo hộ và cúng dường cho chân lý, đã khiến ngài trở thành một trong những vị đại hộ pháp của Phật giáo. Trong lịch sử, đây cũng chính là hình ảnh đại diện cho sự hội nhập của tôn giáo cổ của Tây Tạng ( đạo Bon ) vào đạo Phật bởi đạo sư vĩ đại Padmasambhava ( Liên Hoa Sanh ).




Begtse: Thần Chiến Tranh




Người chiến binh man rợ này, vốn là một Dạ Xoa, là vị thần của chiến tranh ở vùng Trung Á, mặc áo giáp và trang phục của quân Mông Cổ, xuất hiện trong Phật Giáo Tây Tạng vào nửa cuối thế kỉ 16, là hộ pháp cuối cùng gia nhập vào nhóm 8 vị hộ pháp.

Theo truyền thuyết,Begtse xuất hiện trước khi Dalai Lama, người lãnh đạo của một đội quân động vật. Đức Dalai Lama được mời từ Tây Tạng tới Mông Cổ do vua của Mông Cổ lúc bấy giờ là Atlan Khan ( con cháu của Thành Cát Tư Hãn) để chuyển dổi Phật giáo thành quốc giáo của Mông Cổ.



Biết được việc này nên đức Dalai Lama liền hoá thành Quan Âm Tứ Thủ Avalokiteshvara, vị Bồ Tát của lòng từ bi, hai tay của ngài chắp trước ngực tạo thành ấn nguyện cầu. Bước chân của con ngựa ngài cỡi, in lên trên cát không phải là dấu chân mà lạ thay lại là câu thần chú Om Mani Padme Hum.Tận mắt chứng kiến phép màu này, Begtse liền tin tưởng ngay vào tính ưu việt, sự vượt trội của Phật giáo và tự động quy phục, và chuyển sang Phật giáo. Người ta nói sự quy phục của Begtse chính là hình tượng cho việc chuyển đổi quốc giáo của Mông Cổ thành Phật giáo.



Ngài xuất hiện với đầy đủ các thứ phục trang như các hộ pháp khác, giơ cao một thanh gươm ( cán gươm có hình con bò cạp ) trong tay phải. Tay trái thì nắm một chiếc đầu của kẻ thù màu cam, ta còn có thể thấy ngài giương cung tên cùng lúc đó. Ngài đạp lên xác chết của người đàn ông bằng chân trái, chân còn lại thì ngài dẫm lên cái xác chết của con ngựa. Ba con mắt của ngài đầy sự phẫn nộ,nhìn trừng trừng đủ để đe doạ những kẻ phá hoại chánh pháp.


Đức Đặc Biệt 

Quân Trà Lợi Minh Vương, hay thành tựu vô lượng trăm ngàn pháp, thanh tịnh tất cả tội, chữa khỏi các bệnh Quỷ Mỵ Dã Đạo, tiêu diệt bệnh biến quái ác,cũng trừ tất cả độc, tránh xa các tai ách về thú ác, nạn trộm cướp, nạn vua chúa, tự bảo vệ mình bảo vệ người, sống lâu không bệnh an ổn khoái lạc.

Quân Trà Lợi Minh Vương (Tên Phạn là: Kundah, Kundali), dịch âm là Quân Trà Lợi, dịch ý là cái bình. Trong Mật Giáo cái bình là tượng trưng cho Cam Lộ, cho nên lại dịch là Cam Lộ Quân Trà Lợi, là 1 trong 5 Đại Minh Vương của Mật Giáo, là Giáo Lệnh Luân Thân (Thân phẫn nộ) của Đức Phật Bảo Sinh ở phương nam. Quân Trà Lợi Minh Vương dùng phương tiện Từ Bi, Thành Chứng Đại Uy Nhật Luân để chiếu diệu cho người tu hành. Và rưới rót nước Cam Lộ, dùng để tẩy rửa 3 độc phiền não trong đất Tâm của chúng sinh. Nhân đây lại gọi là Cam Lộ Quân Trà Lợi Minh Vương ( Amriti-kundali, A Mật Lợi Đế Minh Vương ). Mà Cam Lộ ( Tên Phạn là: Amrta),dịch âm là A Mật Lật Đa, Á Mật Lí Đạt, dịch ý là Bất Tử, chất nước Bất Tử, Cam Lộ…. Tương truyền khi uống vào có thể sống lâu chẳng chết. Trong “ Chú Duy Ma Cật Kinh “ nói, chư Thiên dùng mọi loại thuốc hay bỏ vào trong biển, dùng núi báu khuấy đảo để khiến thành Cam Lộ, khi uống vào thì được thành Tiên. Nên có tên là thuốc Bất Tử. Trong Phật pháp, dùng Niết Bàn Cam Lộ khiến sinh tử bị cắt đứt vĩnh viễn, đó mới thật là thuốc Bất Tử. Ngoài ra, cũng có thuyết nói Quân Trà Lợi có 3 bộ, gọi là: Cam Lộ Quân Trà Lợi ( Phật Bộ), Kim Cang Quân Trà Lợi ( Kim Cang Bộ) với  Liên Hoa Quân Trà Lợi ( Liên Hoa Bộ).

Nhân vì thị hiện tướng phẫn nộ, hình mạo lại tựa như thân Dạ Xoa, cho nên cũng gọi là Quân Trà Lợi Dạ Xoa Minh Vương ( Kundalì-yaksas). Ngoài ra, cũng có cách gọi khác là “ Đại Tiếu Minh Vương “. Liên quan đến công đức tụng trì Quân Trà Lợi Minh Vương Chân Ngôn hoặc tu trì Quân Trà Lợi Minh Vương Pháp, trong “ Tây Phương Đà La Ni Tạng Trung Kim Cang Tộc A Mật Lí Đa Quân Trà Lợi Pháp “ nói: tu Pháp này hay diệt tất cả tội, được đại phú quý, cũng hay trừ tất cả sự sợ hãi, cũng hay trừ sự đói khát, hay lợi ích cho tất cả chúng sinh. Hoặc vào quân trận, hoặc có đấu tranh mà cầm cờ hiệu thảy đều được thắng, vô lượng trăm ngàn Pháp đều được thành tựu. Có thể trị bệnh Quỷ Mỵ Dã Đạo với bảo vệ bản thân mình và bảo vệ người khác, sống lâu không có bệnh. Lại nói, Quân Trà Lợi Tam Muội Gia Đàn, có lợi ích lớn, là nơi mà Chư Phật, Bồ Tát với các Hàng Trời Rồng đều khen ngợi. Nếu đã gây tạo mọi loại nghiệp tội trong vô lượng đời, ấy là Địa Ngục Súc Sinh…. Ngày nay, lúc này liền được thanh tịnh. Thảy đều đoạn trừ các Đại Địa Ngục, đóng bít các cửa Địa Ngục, mở ra các cổng Trời. Tất cả Tưởng ác, mộng ác, tai ách thảy đều tiêu diệt, tất cả oan gia đều sinh tưởng bạn lành. Tất cả La Sát, Dược Xoa, Tì Xá Già, Cổ Độc, Yểm Cổ, Trà Di Nê các thuật chú ác chẳng thể gây hại. Tất cả Quỷ Thần Ma Để Lí…. đều sẽ ủng hộ, như đứa con một không khác. 
Nếu có người tu Pháp ấy, thì dao chẳng thể hại, lửa chẳng thể thiêu đốt, tất cả nạn vua chúa, nạn trộm cướp, nạn oan gia, rồng ác, sấm sét cũng chẳng thể gây hại, tất cả nơi tranh luận thảy đều được thắng. Không sợ hãi loài Quỷ ở nước và núi….sẽ được sống lâu an ổn khoái lạc. Tất cả yêu kính, tiền tài giàu có; Gấu Heo, Gấu Chó, Đại Trùng, Sư Tử, Cọp, Sói, Voi trắng cũng chẳng thể gây hại, cũng chẳng chết đột ngột, Chư Phật, Bồ Tát thường nghĩ nhớ, bốn vị Đại Thiên Vương thường theo ủng hộ, với 28 bộ Dược Xoa Đại Tướng, Tuyết Sơn Dược Xoa Đại Tướng, tất cả Trì Chú Tiên, Nhân Vương, Tất cả Kim Cang, Chư Thiên, Quỷ Thần, Sứ Giả, Thủ Hộ Ấn Thần với các Giáo Thủ…. Hàng Trời Quỷ Thần của nhóm như vậy, ủng hộ người vào Đàn, như là con một, lại có công đức vô lượng vô biên. Trong Kinh lại có nói Pháp trừ mọi thứ bệnh sống lâu: 
  
_ Nếu có người ăn phải thuốc độc, thì lấy nước thơm rửa Chày Kim Cang, rồi lấy nước đó Chú 21 biến, đốt An Tất Hương, rồi cho người đã ăn thuốc độc ấy, uống vào liền được trừ khỏi. 

_ Nếu bị rắn độc cắn phải, lấy đất màu vàng Chú 21 biến, rồi hòa với nước thơm làm bùn xoa chỗ vết cắn, hoặc dùng đuôi con công phủi phết chỗ vết cắn, liền trừ tất cả độc. 

_ Nếu người không có Phước Đức, người bị bệnh ác biến quái…. Như Pháp tu trì tức trừ được tất cả biến quái ác, nạn bị bệnh lâu dài…. Liền được trừ khỏi. Hình tượng của Quân Trà Lợi Minh Vương, thông thường có 4 mặt 4 cánh tay, hoặc có 1 mặt 8 cánh tay. Căn cứ trong “ Quân Trà Lợi Nghi Quỹ “ đã ghi chép. Khuôn mặt của tượng 4 mặt 4 cánh tay biểu thị cho Tình đều chẳng giống nhau, mặt chính là mặt Từ Bi, mặt bên phải là mặt phẫn nộ, mặt bên trái là mặt đại tiếu, mặt ở phía sau là mặt há miệng hơi giận. Toàn thân màu hoa sen xanh, ngồi trên bàn đá. 4 mặt 4 cánh tay tượng trưng cho 4 loại pháp là Tức Tai, Giáng Phục, Kính Ái, Tăng Ích. Ngoài ra cũng có nói là chỉ 4 loại phiền não căn bổn là Ngã Si, Ngã Kiến, Ngã Mạn, Ngã Ái trong thức thứ 7. 
  
  
  
Trong “ Bạch Bảo Khẩu Sao “ thì nói, tay phải cầm cái Chày Kim Cang, tay tác Mãn Nguyện Ấn, 2 tay tác Yết Ma Ấn. Thân đeo vòng hoa rực lửa có uy quang trụ trong vành trăng, màu hoa sen xanh, ngồi trên bàn đá phát ra tiếng vang (Sắt sắt thạch bàn), mặt chính là mặt hiền lành, mặt thứ 2 là mặt phẫn nộ, mặt thứ 3 là mặt đại tiếu, mặt thứ  4 ở phía sau há miệng hơi giận. Lại nói, tay phải cầm cái Chày Kim Cang là Bổn Thệ Giáng Phục, có ý nghĩa là tồi phá tất cả phiền não, nghiệp ác của chúng sinh. Tay trái tác Mãn Nguyện Ấn là Bổn Thệ Tăng Ích, có ý nghĩa là khiến cho thành tựu mọi sự cầu nguyện của tất cả chúng sinh. 2 tay tác Yết Ma Ấn, là Tổng Tam Muội Gia nghĩa là Yết Ma Thành Tựu là Tác Nghiệp Thành Tựu, cho nên tuy không có người Hành công sức tác nghiệp mà vẫn vận chuyển thành tựu mọi sở nguyện, giáng phục ác nghiệp phiền não. 

Lại nói, tai đeo vòng hoa rực lửa có uy quang biểu thị cho Bồ Tát Trí Hỏa thiêu đốt hết Tà Trí của Nhị Thừa Ngoại Đạo. Ngồi trên bàn đá phát ra tiếng vang biểu thị cho Tâm Tịnh Bồ Đề, toàn bộ biểu thị cho sự không nghiêng động. Còn như tạo hình Quân Trà Lợi Minh Vương có 1 mặt 3 con mắt 8 cánh tay, là đầu đội mão đầu lâu, mắt mở to,  rất giận dữ, và có 2 con rắn đỏ thòng ở trước ngực. 8 cánh tay, Bên Phải: Tay ở trên cầm cái Chày Kim Cang, co cánh tay hướng lên trên; Tay thứ 2 ở dưới cầm Tam Xoa 2 đầu có mũi nhọn dài, co cánh tay hướng lên trên; cánh tay thứ 3 ở dưới đè lên cánh tay thứ 3 bên trái, 2 cánh tay bắt chéo nhau ở trước ngực, 2 tay đều tác Bạt Chiết La Ấn; Cánh tay thứ 4, ngữa rũ hướng xuống dưới, gần hông phải, duỗi 5 ngón tay, là tác Thí Vô Úy Thủ. Bên trái: Tay ở trên cầm Kim Luân Hình ( Hình bánh xe vàng), co cánh tay hướng lên trên; tay thứ 2 ở dưới, ngón giữa hạ xuống, 3 ngón đều co lại hướng vào lòng bàn tay, ngón cái vịn bên cạnh đốt trên ngón giữa, ngón trỏ dựng thẳng, duỗi hướng lên trên, co khuỷu tay lại, cánh tay hướng về bên trái; tay thứ 4 ở dưới, đặt ngang che kín hông trái, đầu ngón tay hướng về bên phải. Trong “ Tây Phương Đà La Ni Tạng Trung Kim Cang Tộc A Mật Lí Đa Quân Trà Lợi Pháp “ nói, bên trái Đức Phật vẽ Kim Cang Quân Trà Lợi, nên tác tướng đáng sợ. Bên phải: Tay ở trên cầm cái Chày Kim Cang, lần lượt tay cầm cây Búa, kế đến tay ở dưới cầm cây Kiếm, tiếp theo tay cầm cái Chùy. Bên trái: Tay cầm sợi dây lụa, lần lượt tay ở dưới cầm cây Giáo, kế đến tay cầm Bánh Xe; tiếp theo tay cầm cây Gậy, trên cây Gậy an 2 con mắt. Hai tay chắp lại để ngang trái Tim, mắt màu hơi đỏ, răng nanh hướng lên trên, tóc ở trên đầu dựng thẳng như màu lửa rực, toàn thân có ánh sáng lửa rực, mọi thứ anh lạc trang nghiêm thân đó, môi trên cắn môi dưới, thân đó đứng chân đạp trên hoa sen xanh. Pháp Quân Trà Lợi Minh Vương phần nhiều dùng Điều Phục, Tức Tai, Tăng Ích làm phương diện. Nếu như người tu hành mỗi ngày trước khi ăn, dâng cúng 1 ít đồ ăn, rồi sau hãy niệm tụng Quân Trà Lợi Minh Vương Tâm Chú 7 biến, thì bất luận ở nơi nào đều được sự gia hộ của Minh Vương. Ngoài ra,Quân Trà Lợi Minh Vương Chân Ngôn cũng thường dùng để phụ trợ tu trì Mật Pháp khác, hoặc dùng để gia trì vật cúng. Hành Giả như pháp tu trì, cũng có thể đạt được hiệu nghiệm trừ tất cả chướng nạn, khỏi bệnh, sống lâu. 
 
CHÂN NGÔN, CHỮ CHỦNG TỬ CỦA QUÂN TRÀ LỢI MINH VƯƠNG 
 
 
Chân Ngôn: 
 
  (1) Nẵng mô     (2) la đát nẵng đát la dạ dã     (3) nẵng ma     (4) thất chiến nã    
(5) ma ha phộc nhật la câu lộ đà dã     (6) án     (7) hộ lỗ     (8) hộ lỗ     (9) để sắt
tra     (10) để sắt tra     (11) mãn đà     (12) mãn đà     (13) hạ nẵng     (14) hạ
nẵng     (15) a mật lí đế     (16) hồng     (17) phát tra     (18) sa phộc hạ
 
(1) NAMO     (2) RATNA-TRAYÀYA     (3) NAMA (?NAMAH)    (4) A’SCANDA
(?’SCANDA)  (5) MAHÀ-VAJRA-KRODHÀYA     (6) OM     (7) HURU     (8) 
HURU     (9) TISTHA (?TISTA)   (10) TISTHA (?TISTA)    (11) BANDHA     (12)
BANDHA     (13) HANA     (14) HANA     (15) AMRTA     (16) HÙM     (17) PHAT     
(18) SVÀHÀ
 
(1) Quy mạng     (2) Tam Bảo     (3) Quy mạng     (4) Bạo Ác     (5) Đại Kim Cang 
Phẫn Nộ     (6) Quy mạng     (7) Tốc Tật ( Bệnh tật nhanh chóng)     (8) Tốc Tật     
(9) An Trú     (10) An Trú     (11) Hệ Phộc     (12) Hệ Phộc     (13) Sát Hại     (14) 
Sát Hại     (15) Cam Lộ     (16) Phẫn ( Giận)     (17) Tồi Phá     (18) Thành Tựu       
             
Đại Tiếu Minh Vương Chân Ngôn 
 
(1) Án     (2) phộc nhật la tra hạ sa dã     (3) hồng phán tra
 
(1) OM     (2) VAJRÀTTAHÀSÀYA  (?VAJRATHÀHÀSÀYA)   (3) HÙM  PHAT 
 
(1) Quy mạng     (2) làm Kim Cang Đại Tiếu     (3) Phẫn Nộ Tồi Phá 



Đức Đặc Biệt

Bất Động Minh Vương Đối với việc hộ trì mạng căn của chúng sinh, có công đức thù thắng, chữ chủng tử (HAM) là Phong Luân, đại biểu cho hơi thở ra vào của sinh mạng, ý nghĩa là sống lâu, hay trừ chết yểu, bệnh đại dịch với tai nạn đại ách.

Bất Động Minh Vương (Tên Phạn là: Acalanàtha), là 1 trong 5 Đại Minh Vương hoặc là 1 trong 8 Đại Minh Vương của Mật Giáo, lại gọi là Bất Động Kim Cang Minh Vương, Bất Động Tôn, Vô Động Tôn, Vô Động Tôn Bồ Tát, mật hiệu là Thường Trụ Kim Cang. 

Bất Động Minh Vương, thông thường được thấy là Ứng Hóa Thân của Đại Nhật Như Lai, nhận Giáo Mạng của Như Lai, thị hiện Tướng Phẫn Nộ, thường Trụ ở Hỏa Sinh Tam Muội, thiêu đốt chướng nạn trong ngoài với các uế cấu ( dơ bẩn), bẻ gãy dập tắt tất cả Ma Quân Oán Địch. Trong “ Thắng Quân Bất Động Nghi Quỹ “, Bất Động Minh Vương thệ nguyện rằng: “ Nếu có người nào thấy thân Ta thì được Tâm Bồ Đề. Nghe tên Ta thì chặt đứt được Nghi Hoặc liền tu Thiện. Nghe ta nói thì được Đại Trí Tuệ. Biết Tâm ta thì Tức Thân Thành Phật”. 

Ngoài việc này ra, Bất Động Minh Vương đối với việc hộ trì mạng căn của chúng sinh cũng có công đức thù thắng. Trong “ Thắng Quân Quỹ “ nói rằng: “ Pháp Bất Động, ý nghĩa là hay bảo hộ Tâm Bồ Đề, tức bảo hộ chư Phật Bồ Tát, chúng sinh Bồ Đề. Bảo Hộ chư Phật Bồ Đề, phàm thể của Tâm Bồ Đề là Thức thứ 8, Thức này tức là chư Phật, thức này vô thủy vô chung có hiệu là Vô Lượng Thọ Phật, tất cả Mạng Căn của chúng sinh đều gìn giữ trên Thức thứ8, Mạng Căn này bảo hộ khiến bất động, tức Bất Động Minh Vương vậy. Bảo hộ chúng sinh Bồ Đề, phàm gìn giữ Phong Luân của thế giới sự, ấy là tuổi thọ của tất cả chúng sinh, tức là gió của hơi thở, hơi thở ngưng thì chết, Bất Động bảo vệ hơi thở của cõi Phật, hơi thở của chúng sinh”. Trong “ Thâm Bí Khẩu Quyết “ lại nói, chữ chủng tử của Bất Động Minh Vương đại biểu cho Bổn Thệ thọ mạng lâu dài của tất cả chúng sinh: “Dùng chữ (HÙM) làm chủng tử, Bất Động Minh Vương này đặc biệt có bổn thệ sống lâu, chữ (HÀM) làm chủng tử, tuổi thọ của con người tức là hơi thở, hơi thở là gió Sớ 10 nói rằng: “Mạng gọi là Gió, Gió là Tưởng, Tưởng là Niệm, Mạng Căn như vậy là Tưởng hơi thở ra vào, hơi thở ra vào của sinh mạng, chữ (HÀM), Phong Luân … có ý nghĩa là sống lâu. 

Cho nên “ Lập Ấn Tạp ” nói rằng: 

“Lại khi chính báo dứt
Hay sống được sáu tháng”

Y theo văn này mà Tu Pháp Diên Mạng vậy. Trong “ Giác Thiền Sao “ cũng đề cấp đến Tôn này trừ bỏ tai nạn chết đột ngột: “ Thời Ô Vũ Viện cai quản, thiên hạ liên tiếp bị chết đột ngột, liền Triệu việc Pháp chặn đứng nạn bị chết đó. Có thể Tu theo Pháp nào? Có thể xem xét bày tỏ việc Pháp, bày tỏ 
rằng: “Có thể Tu pháp Bất Động vậy”. Quỹ nói rằng: Pháp trừ chết yểu, dùng cỏ Cốt Lự thấm với Tô, Sữa, Mật làm thành Hộ Ma 10 vạn biến, hay trừ ách nạn lớn, ấy là người dân trong nước bị chết yểu bởi dịch bệnh lưu hành, cho nên tên là Yểu Tử Nạn. Lại nói rằng: Pháp trừ tai nạn chết chóc, dùng Sữa làm Hộ Ma, 1000 biến làm hạn định, hay trừ tai nạn chết chóc. 

“ Để Lí Kinh “ cũng nói: “ Lại dùng cỏ Câu Lũ hòa với Tô, Sữa , 
Mật…. rưới vào trong lửa đốt 10 vạn biến, hay trừ bệnh đại dịch “.

Tam Muội Gia Hình của Bất Động Minh Vương, tay phải cầm Kiếm, chặt đứt việc xấu xa phiền não nghiệp ái sinh tử của chúng sinh, cho nên cầm 
dao bén vâng theo Sắc Mạng Phẫn Nộ của Như Lai, muốn sát hại hết tất cả chúng sinh, lại dùng dao Lợi Tuệ chặt đứt mạng thọ nghiệp vô cùng của chúng sinh, khiến được sinh mạng Đại Không.

Ngoài ra, trong quyển 5 “ Đại Nhật Kinh Sớ “ kể lại, Bất Động Tôn thành Phật tuy đã lâu, vẫn dùng Bổn Thệ nguyện Tam Muội Gia. Thị hiện Nô Bộc Tam Muội, là Như Lai Đồng Bộc làm mọi việc, cho nên lại có tên là Bất Động Sứ Giả, Vô Động Sứ Giả, thọ nhận sự cúng dường thức ăn còn dư lại của Hành Giả, ngày đêm thường ủng hộ Hành Giả, khiến thành mãn Bồ Đề.


Quyến thuộc của Bất Động Minh Vương là có 2 Đồng Tử, 8 Đồng Tử hoặc 48 Sứ Giả…. Trong đó 2 Đồng Tử là chỉ Căng Yết La và Chế Tra Ca Đồng Tử. 8 Đại Đồng Tử là chỉ: Tuệ Quang Đồng Tử, Tuệ Hỷ Đồng Tử, A Nậu Đạt Bồ Tát Đồng Tử, Chỉ Đức Bồ Tát Đồng Tử, Ô Câu Nga Bà Đồng Tử, Thanh Tịnh Tỳ
Kheo Đồng Tử với 2 vị Đồng Tử là Căng Yết La và Chế Tra Ca. Tín ngưỡng Bất Động Tôn, xuyên qua việc truyền bá Mật Giáo ở các nước Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bổn, Hàn Quốc đều có. Đặc biệt là ở Nhật Bổn, Bất Động Minh Vương nhận được sự sùng bái nhiệt liệt của dân gian, đến nơi này có thể thấy Tôn Tượng Bất Động Minh Vương, Mạn Trà La với Pháp cúng dường. 

TÔN HÌNH CỦA BẤT ĐỘNG MINH VƯƠNG 

Trong Truyền Thừa, Kinh Điển, Bất Động Minh Vương có nhiều các Pháp Tướng khác nhau, tùy duyên mà thị hiện. Căn cứ trong “ Đại Nhật Kinh. Phẩm Cụ Duyên “, “ Để Lí Tam Muội Gia Kinh “…. kể lại: Tay phải cầm Kiếm, biểu thị cho đoạn trừ Phiền Não Ma.Tay trái cầm sợi dây, biểu thị cho Phương Tiện Tự Tại. Trên đỉnh có 7 búi tóc, ngồi trên tảng đá, là Thân Tướng rất thường thấy. Như trong “ Bất Động Sứ Giả Pháp “ nói về Ngài rằng: “ Nên vẽ Bất Động Sứ Giả, thân màu vàng đỏ, tà áo bên trên nghiêng về một bên có màu xanh, cái Xiêm bên dưới có màu đỏ, bên trái có 1 búi tóc màu mây đen, tướng mạo Đồng Tử. Tay phải cầm chày Kim Cang, tay trái cầm sợi dây, 2 răng nanh nhỏ hơi ló ra hai bên, mắt giận dữ có màu đỏ, ngồi trên núi đá trong lửa rực.Nhưng trong “ Để Lí Pháp “ thì ghi chép rằng: Vẽ Bất Động Tôn, mặc áo màu đất đỏ, bím tóc bên trái rũ xuống, mắt nhìn nghiêng, hình Đồng Tử. Tay phải cầm chày Kim Cang để ở ngang trái Tim, tay trái cầm cây gậy báu, mắt hơi đỏ, ngồi trên Hoa Sen, tướng sân nộ, khắp thân rực lửa. Ngoài ra, Bất Động Minh Vương cũng có Pháp Tượng nhiều cánh tay, như trong “ An Trấn Quỹ” kể lại rằng: “ Có 4 cánh tay, thân Phẫn Nộ rất nghiêm, màu xanh cam đầy đủ sự đoan nghiêm, mắt miệng đều mở, răng nanh bén ló lên trên, tay phải cầm Kiếm, tay trái cầm sợi dây, hai cánh tay trên ở hai bên miệng, Tác Phẩn Nộ Ấn, thân ở trong bánh xe Kim Cang có 8 căm”. Trong 12 Trời của thế gian, thì dùng Bất Động Tôn của 4 cánh tay này làm thủ lĩnh.

CHÂN NGÔN, CHỮ CHỦNG TỬ CỦA BẤT ĐỘNG MINH VƯƠNG 

Chữ Chủng Tử: ( HMMÀM) hoặc ? ( HÀM) hoặc ? (HÙM)

Chân Ngôn: 
{ Trung Chú} ( Từ Cứu Chú)
(1) Năng mạc (2) tam mạn đa phộc nhật la noãn (3) chiến nã (4) ma
ha lộ sái nã (5) tát pha tra dã (6) hồng (7) đát la ca (8) hãn mạn

(1) NAMAH (2) SAMANTA-VAJRÀNÀM (3) CANDA (4) MAHÀ-
ROSANA (5) SPHATAYA (6) HÙM (7) TRAKA (TRÀT) (8) HÀM
MÀM (1) Quy mạng (2) phổ biến các Kim Cang (3) Bạo Ác (4) Đại Phẫn Nộ
(5) Phá Hoại ( 6) Hồng ( Nghĩa là sợ hãi) (7) Kiên Cố (8) Hãn Mạn
(chủng tử )

{Tiểu Chú}
(1) Nam ma (2) tam mạn đa phạt chiết la noãn (3) hãn 
(1) NAMAH (2) SAMANTA-VAJRÀNÀM (3) HÀM 
(1) Quy mạng (2) phổ biến các Kim Cang (3) hãn ( chủng tử) 

{Thí Thực Chân Ngôn} 

(1) Năng mạc (2) tam mạn đa phộc nhật la noãn (3) đát la tra (4) a 
mô gia (5) chiến nã (6) ma hạ lộ sái trữ (7) sa pha tra dã (8) hồng 
(9) đát la ma dã (10) hồng (11) đát la tra (12) hàm mâu
(1) NAMAH (2) SAMANTA-VAJRÀNÀM (3) TRAT (4) AMOGHA 
(5) CANDA (6) MAHÀ-ROSANA (7) SPHATAYA (8) HÙM (9) 
TRAMAYA (10) HÙM (11) TRAT (12) HÀM MÀM

(1) Quy mạng (2) phổ biến các kim Cang (3) Đát La Tra ( nghĩa là tàn hại 
phá chướng) (4) Bất Không (5) Bạo Ác (6) Đại Phẫn Nộ (7) Phá Hoại 
(8) Hồng ( nghĩa là sợ hãi) (9) Kiên Cố (10) Hồng (11) Đát La
Tra(nghĩa là tàn hại phá chướng) (12) Hàm Mâu ( chủng tử) 

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.