bài viết trong chuyên mục "Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ."

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ.. Hiển thị tất cả bài đăng

 

11 câu chuyện ngắn nơi cửa Phật giúp ngộ ra trí tuệ thâm sâu của cả đời người

Trong cuộc sống, không phải chuyện gì chúng ta cũng có thể ngay lập tức thông suốt và thấu hiểu. Những câu chuyện ngắn nơi cửa Phật dưới đây chứa đựng những triết lý nhân sinh thâm sâu của cả đời người có thể giúp người đọc ngộ ra được nhiều đạo lý mà trước đó chưa từng để ý.

1. Câu chuyện ngắn nơi cửa Phật thứ 1


Một vị thiền sư hỏi người cầu đạo: "Anh cho rằng, một thỏi vàng tốt hay là một đống bùn lầy tốt hơn đây?"
 
Người cầu đạo đáp: "Đương nhiên là vàng tốt hơn rồi!"
 
Thiền sư cười nói: "Nếu như anh là một hạt giống thì sao?"
 
Bài học suy ngẫm:
 
Sống trên đời, đôi khi chỉ cần thay đổi cách suy nghĩ và góc nhìn nhận, có lẽ ta sẽ phát hiện ra những điều tốt đẹp mà bản thân chưa từng để ý.

Xem thêm: Buông 10 điều để cuộc sống an nhàn thêm 10 phần

Cau chuyen ngan noi cua Phat
 

2. Câu chuyện ngắn nơi cửa Phật thứ 2

 
Một thanh niên tìm tới nhà sư để xin chỉ dạy: "Đại sư, có người nói tôi là thiên tài, lại cũng có người mắng tôi là kẻ ngốc, vậy đại sư nghĩ sao?"
 
"Vậy anh nhìn nhận ra sao về chính bản thân mình?" Nhà sư hỏi ngược lại.
 
Người thanh niên đầy vẻ mờ mịt không hiểu gì.
 
Nhà sư nói tiếp: "Ví dụ như cùng là một cân gạo, trong mắt những người làm bếp thì là mấy bát cơm; trong mắt người làm bánh thì là mấy cái bánh rán; trong mắt người bán rượu lại là mấy chén rượu. Gạo vẫn là gạo. Cũng như vậy, anh vẫn là anh, anh có năng lực giỏi giang ra sao đều dựa vào cách anh nhìn nhận về bản thân mình."
 
Nghe xong lời nhà sư, thanh niên bất giờ mới thấu tỏ thông suốt.
 
Bài học suy ngẫm:
 
Không sợ bị người khác coi thường, chỉ sợ bạn tự coi thường chính mình. Ai nói bạn không có giá trị? Không một ai có thể quyết định cuộc đời bạn sẽ ra sao. Bạn lựa chọn con đường nào để đi, nó sẽ quyết định tương lai cuộc đời của bạn sẽ phát triển theo hướng như thế ấy.
 
Giá trị lớn nhất của đời người chính là việc chúng ta có thể tự ý thức được giá trị của bản thân trong cuộc sống hay không. 
 

3. Câu chuyện ngắn nơi cửa Phật thứ 3

 
Một người nông dân đi tới miếu để cúi lạy trước thần Phật nhằm cầu xin bình an cho gia đình.
 
Sau mấy hồi dập đầu, người nông dân này bỗng thấy bên cạnh mình có một người cũng đang cúi lạy. Nhưng điều đáng nói là dung mạo của người này giống hệt với bức tượng Phật trên đài cao kia.
 
Người nông dân thấy rất khó hiểu, hỏi nhỏ: "Ngài là Phật sao?"
 
Người kia đáp: "Đúng vậy."
 
Người nông dân lại càng mê muội, hỏi tiếp: "Vậy tại sao Ngài lại vẫn phải cúi lạy chứ?"
 
Người kia trả lời: "Bởi vì tôi biết, cầu khấn, nhờ vả hay xin xỏ người khác không bằng tự cầu cứu chính bản thân mình. Chỉ có bản thân mình mới thực sự giúp được mình mà thôi, không nên trông đợi vào người khác."

4. Câu chuyện ngắn nơi cửa Phật thứ 4

 
Một vị võ sĩ nắm trong tay một con cá rồi đi tới phòng của một vị cao tăng.
 
Võ sĩ nói: "Chúng ta thử đánh cược đi, thiền sư nói con cá trong tay tôi sống hay chết?"
 
Vị cao tăng kia biết nếu ông nói con cá đó chết rồi, người võ sĩ chắc chắc sẽ buông tay thả con cá đi; nhưng nếu ông nói nó còn sống, võ sĩ nhất định sẽ ngầm bóp chết con cá lập tức.
 
Vì vậy, cao tăng trả lời: "Con cá đó đã chết rồi."
 
Võ sĩ lập tức buông tay ra, cười nói: "Thiền sư thua rồi, ngài nhìn xem con cá này rõ ràng vẫn còn sống."
 
Vị cao tăng cười mỉm, nói: "Đúng vậy, tôi thua rồi."
 
Bài học suy ngẫm:
 
Cao tăng quả thật đã thua trong lần đánh cược này, thế nhưng ông đã cứu được một con cá. Đó chính là lòng từ bi của người tu hành.
 
Từ bi đối với toàn thể chúng sinh và với chính mình sẽ mang một ý nghĩa to rộng hơn, giúp mở rộng con tim của mình và khiến mình trở thành cao cả, bén nhạy và nhiều nghị lực hơn.

Đừng bỏ lỡ: Từ bi là "vũ khí" vạn năng, mạnh mẽ gấp nhiều lần đao kiếm
 

5. Câu chuyện ngắn nơi cửa Phật thứ 5

 
Hàn Sơn hỏi Thập Đắc: "Trên thế gian này có người phỉ báng ta, bắt nạt ta, sỉ nhục ta, cười nhạo ta, khinh thường ta, lợi dụng ta, lừa gạt ta. Vậy nên cư xử ra sao với những người đó?"
 
Thập Đắc trả lời: "Nhẫn nhịn người đó, nhường nhịn người đó, tránh xa người đó, thuận theo người đó, chịu đựng người đó, kính trọng người đó, không để ý đến người đó. Cứ thế qua mấy năm rồi anh hẵng nhìn lại người ta.
 
Bài học suy ngẫm:
 
Những người gây khó khăn lại chính là những người mang đến cho bạn cơ hội để nhìn lại bản thân và giúp bạn có những thay đổi tích cực trong tính cách của mình.
 
Người gây khó khăn cho ta cũng giống như những chiếc gương vậy. Họ giúp chúng ta nhận ra rằng chính chúng ta đã tạo ra một phiên bản méo mó và phóng đại về bản thân mình. Chúng ta tìm thấy con người thật của mình và sống thật với bản thân bằng những gì chúng ta đang có. 
 
Hãy biết ơn những người gây khó khăn trong cuộc sống của bạn, hãy học từ họ và họ sẽ chỉ cho bạn biết chính xác đâu là mẫu người bạn không muốn trở thành. Có thể bạn quan tâm: Đừng khó chịu với những nỗi đau trong cuộc sống, hãy gửi lời cảm ơn tới chúng

Cau chuyen ngan noi cua Phat 2
 

6. Câu chuyện ngắn nơi cửa Phật thứ 6

 
Nam Ẩn là một vị thiền sư thời Minh Trị của Nhật Bản. Một ngày nọ, có một vị giáo sư học thức uyên thâm tới tìm ông để hỏi về Thiền, ông chỉ dùng trà để đãi khách.
 
Thiền sư Nam Ẩn rót trà vào ly của khách, cho đến khi rót đầy, ông không hề dừng lại mà vẫn tiếp tục rót nữa.
 
Vị giáo sư kia ngạc nhiên khó hiểu nhìn nước trà không ngừng tràn ra ngoài ly, cho đến khi không thể làm thinh được nữa nữa, ông mới lên tiếng hỏi: "Đã tràn đầy ra khỏi ly rồi, ngài đừng rót nữa!"
 
"Ngài cũng giống như chiếc ly này vậy, "Thiền sư Nam Ẩn chậm rãi trả lời, "bên trong chứa đầy suy nghĩ và thái độ của bản thân. Nếu ngài không làm sạch chiếc ly của mình thì bảo ta phải nói với ngài về Thiền sao đây?"
 
Bài học suy ngẫm:
 
Câu chuyện này không nhất thiết chỉ đúng cho học Thiền. 
 
Muốn tìm hiểu bất kỳ điều gì ờ đời như một tôn giáo, một người, một nhóm người, một nền văn hóa, một dân tộc, một lịch sử, một vụ kiện,… chúng ta phải loại hết những thành kiến, phỏng đoán và kết luận trong đầu về lĩnh vực đó.
 
Giữ đầu óc như một cái tách trống rỗng, một tờ giấy trắng tinh thì chúng ta mới có thể học hỏi được, dung nạp được những điều mới mẻ.
 

7. Câu chuyện ngắn nơi cửa Phật thứ 7

 
Tiểu hòa thượng hỏi lão hòa thượng: "Sư phụ, thế giới cực lạc mà người thường nói, con không nhìn thấy vậy tin làm sao?"
 
Lão hòa thượng dắt chú tiểu vào một căn phòng màu đen, nói với chú: "Bên góc tường có một cái búa."
 
Tiểu hòa thượng dù trợn to hai mắt hay híp mắt ti hí vẫn không thể nhìn rõ năm ngón tay. Không thể làm gì khác, chú đành nói với sư phụ rằng mình không nhìn thấy gì hết.
 
Sau đó lão hòa thượng đốt một cây nên soi sáng căn phòng, ở góc tường quả nhiên có một cây búa.
 
Ông nói với đệ tử: "Thứ con không nhìn thấy không có nghĩa là không tồn tại, có phải thế không?"
 
Đến lúc này, chú tiểu mới thốt lên kinh ngạc, thắc mắc của chú bấy lâu nay cuối cùng đã được giải đáp.

Cau chuyen ngan noi cua Phat 3
 

8. Câu chuyện ngắn nơi cửa Phật thứ 8

 
Có một vị thiền sư có một người đệ tử rất hay than phiền. Một ngày nọ, thiền sư bỏ một thìa muối vào trong cốc nước rồi đưa cho đệ tử uống.
 
Đệ tử nói: "Mặn chát không chịu nổi."
 
Thiền sư lại đổ nhiều muối hơn xuống hồ nước, rồi kêu đệ nử nếm thử nước trong hồ.
 
Đệ tử uống xong lại nói: "Thật ngọt ngào tinh khiết."
 
Bấy giờ thiền sư mới đáp: "Những đau khổ trong cuộc đời cũng giống như chỗ muối kia, vị mặn nhạt của nó phụ thuộc vào thứ chứa đựng nó. Con muốn làm một cốc nước hay một hồ nước đây?"
 
Người đệ tử hiểu ra và từ đó giảm bớt tính phàn nàn đi rất nhiều, luôn mở rộng lòng và đón nhận mọi điều trong cuộc sống. 

Đọc ngay: Đơn giản hóa cuộc sống để bớt buồn phiền, đau khổ
 

9. Câu chuyện ngắn nơi cửa Phật thứ 9

 
Mùa hè nắng nóng, bãi cỏ trong sân chùa héo khô một mảng lớn, trông rất xấu xí.
 
Tiểu hòa thượng thấy vậy mới nói với su phụ: "Sư phụ, hay là chúng rắc vài hạt giống xuống đi!"
 
Sư phụ nói: "Đừng nóng vội, cứ tùy thời."
 
Khi có hạt giống trong tay, sư phụ nói với tiểu hòa thượng: "Con đem trồng đi." Không ngờ, một trận gió nổi lên, thổi bay đi không ít hạt giống vừa reo.
 
Tiểu hòa thượng vội vã nói với sư phụ: "Sư phụ, rất nhiều hạt giống đã bị gió thổi bay đi mất rồi."
 
Sư phụ đáp: "Không sao, những hạt bị thổi đi đều là hạt lép, dù có trồng xuống cũng không nảy mầm được, tùy tính."
 
Mới vừa rắc xong hết chỗ hạt giống, lại có mấy con chim bay tới, đậu dưới thửa đất kiếm ăn.
 
Tiểu hòa thượng vội vã lấy sào xua đuổi chim, sau đó chạy đi mách sư phụ: "Không xong rồi sư phụ ơi, hạt giống bị chim ăn mất rồi."
 
Sư phụ nghe xong chậm rãi trả lời: "Con đừng lo, hạt giống vẫn còn nhiều lắm, không ăn hết được đâu, tùy ngộ."
 
Nửa đêm, một trận mưa to gió lớn kéo đến. Tiểu hòa thượng nức nở chạy tới phòng sư phụ: "Lần này thì xong thật rồi, tất cả hạt giống đều đã bị nước mưa cuốn trôi rồi."
 
Sư phụ đáp: "Cuốn rồi thì thôi, trôi đến đâu nảy mầm đến đó, tùy duyên."
 
Qua mấy ngày, trên mảnh đất trơ trụi mọc lên rất nhiều mầm non xanh, ngay cả những nơi ban đầu vốn không reo hạt giống cũng xuất hiện những mầm xanh tốt nho nhỏ. 
 
Tiểu hòa thượng trông thấy thế vui mừng vô cùng: "Sư phụ, người mau nhìn xem, hạt giống mọc lên hết rồi."
 
Sư phụ vẫn bình tĩnh như trước và nói rằng: "Vốn là nên như vậy, tùy hỷ."

Cau chuyen ngan noi cua Phat 4
 

10. Câu chuyện ngắn nơi cửa Phật thứ 10

 
Có một võ sĩ hỏi thiền sư: "Thiên đường và địa ngục khác gì nhau?"
 
Vị thiền sư hỏi ngược lại: "Anh là ai?"
 
Võ sĩ đáp: "Tôi là một võ sĩ."
 
Thiền sư nghe xong cười nói: "Một người lỗ mãng như anh sao xứng hỏi ta?"
 
Võ sĩ vô cùng giận dữ, rút kiếm ra nhằm hướng thiền sư mà chém: "Hãy xem ta giết ngươi!"
 
Khi thanh kiếm chỉ còn cách đầu thiền sư vài tấc, ông cũng không hề hoang mang lo sợ, nhẹ giọng nói: "Đây chính là địa ngục."
 
Võ sĩ nghe thế rất kinh ngạc, vội vã dừng tay. Sau đó dường như ngộ ra, anh ta vứt bỏ thanh kiếm, chắp hai tay, cúi đầu quỳ lạy: "Xin cảm ơn sư phụ đã chỉ dạy, xin ngài hãy tha thứ cho sự thô lỗ vừa rồi của tôi."
 
Thiền sư mỉm cười nói: "Đây chính là thiên đường."
 
Bài học suy ngẫm:
 
Trong mỗi con người đều tồn tại hai mặt thiện và ác, tốt và xấu. Sự nóng giận mất kiểm soát sẽ đẩy con người đến địa ngục còn khi mang trong mình thiện niệm, trở về với bản tính chi sơ, cánh cửa thiên đường sẽ được mở ra. 

Lắng nghe: Lời Phật dạy làm người: Lương thiện là việc không cần cố gắng
 

11. Câu chuyện ngắn nơi cửa Phật thứ 11

 
Có một ngày, Tô Đông Pha đến chỗ nhà sư Phật Ấn nói chuyện phiếm, hai người ngồi xếp bằng đối diện nhau cùng luận về Thiền.
 
Khi đang nói chuyện vui vẻ, Tô Đông Pha mới hỏi nhà sư Phật Ấn: "Ngài nhìn tôi bây giờ giống cái gì?"
 
Thiền sư Phật Ấn nói: "Tôi nhìn ngài giống một phi tượng Phật."
 
Tô Đông Pha thấy Phật Ấn mập tròn, lại mặc áo đen, bèn đáp ngay: "Tôi lại nhìn ngài giống như một đống phân bò."
 
Thiền sư Phật Ấn chỉ cười mà không nói gì.
 
Tô Đông Pha đắc ý lắm vì nghĩ mình đã thắng. Sau khi về nhà, ông tự đắc khoe với em gái.
 
Em gái Tô Đông Pha nghe xong câu chuyện liền nói: "Trời, anh thua rồi! Tấm lòng của thiền sư rộng như cảnh giới của Đức Phật, cho nên mới nhìn thấy anh giống Phật. Còn lòng anh như phân bò cho nên nhìn thiền sư cũng chỉ giống như một đống phân bò mà thôi."
 
Tô Đông Pha nghe em mình nói xong mặt đỏ tới mang tai, biết mình đã thua một keo nặng.
 
Bài học suy ngẫm: 
 
Tâm người càng rộng rãi, mắt nhìn chỉ thấy điều tốt đẹp, còn lòng dạ hẹp hòi, nhỏ nhen thì chỉ nhìn thấy những thứ xấu xí. Khoan dung độ lượng với người chính là tạo phúc báo cho mình

Mọi người đều đang khổ bởi vì mọi người đều bị phân chia, chia chẻ, tinh thần phân liệt. Mọi người đều khổ bởi vì có lo âu lớn lao trong thế giới này; lo về "liệu mình sẽ làm nó lần này hay không." Có đau khổ lớn lao trong mọi trái tim - đau khổ về không biết bản thân mình, đau khổ về không biết chúng ta tới từ đâu và chúng ta sẽ đi đâu, và chúng ta là ai và cuộc sống này tất cả là gì. Ý nghĩa của cuộc sống này là gì? Đây là đau khổ của chúng ta.

Cuộc sống dường như vô tích sự thế, hoàn toàn vô nghĩa thế, lặp lại máy móc. Bạn cứ làm mãi cùng những thứ ấy lặp đi lặp lại - để làm gì? Đau khổ là ở chỗ con người cảm thấy rất ngẫu nhiên, dường như chẳng có ý nghĩa gì cả. Và con người không thể sống được nếu không kinh nghiệm ý nghĩa nào đó, nếu không kinh nghiệm rằng mình đóng góp cái gì đó có nghĩa cho thế giới này, rằng mình được sự tồn tại cần tới, rằng mình không phải là hiện tượng vô dụng, rằng mình không ngẫu nhiên, rằng mình được cần tới, rằng mình đang hoàn thành điều gì đó cực kì có ý nghĩa. Chừng nào người ta còn chưa đi tới cảm thấy điều đó, người ta vẫn còn đang trong khổ.

Thực ra khi mọi người sắp chết họ trở nên nhận biết lần đầu tiên rằng họ đã từng sống; trong tương phải với cái chết họ trở nên tỉnh táo: "Mình đã bỏ lỡ mất cơ hội rồi." Đó là nỗi đau của cái chết. Nó chẳng liên quan trực tiếp gì tới cái chết mà chỉ gián tiếp. Khi một người sắp chết người đó cảm thấy nỗi đau lớn lao; nỗi đau chẳng liên quan gì tới cái chết. Nỗi đau là: "Mình đã sống và bây giờ tất cả đều kết thúc và mình đã không thể làm được gì có nghĩa, mình đã không sáng tạo, mình đã không ý thức, mình đã sống một cách máy móc, mình đã sống như người mộng du, người vừa đi vừa ngủ."

Tâm trí tầm thường cứ sống mà chẳng lo nghĩ. Người đó dường như hạnh phúc hơn người thông minh; người đó cười, người đó đi tới câu lạc bộ và tới rạp chiếu phim, người đó có cả nghìn lẻ một mối bận bịu, và người đó rất bận rộn mà chẳng có công việc gì. Bạn càng thông minh, bạn càng nhạy cảm, bạn sẽ càng cảm thấy rằng cuộc sống này - cách bạn đang sống nó - không phải là cách đúng, không phải là cuộc sống đúng; cái gì đó sai trong nó.

Người không thông minh sống như mẩu gỗ trôi dạt; người đó trở nên bận tâm nhiều tới việc tham quan tới mức người đó quên tất cả về mục đích, người đó quên tất cả về cuộc hành trình. Người đó trở nên quá bị cuốn hút vào tham quan. Người đó tò mò nhưng tò mò của người đó là thừa. Người đó chưa bao giờ truy vấn, bởi vì truy vấn cần dũng cảm, truy vấn là mạo hiểm. Người đó vẫn chỉ tò mò. Người tò mò là người ngu; tò mò của người đó giữ người đó bận rộn, tính tò mò của người đó giữ người đó bị dính líu, cho nên người đó chưa bao giờ trở nên nhận biết về các vấn đề thực.

Người ngu vẫn còn tò mò về những điều như vậy, về những người khác - ai là ai, và họ chưa bao giờ hỏi, "Mình là ai?" Họ chưa bao giờ hỏi câu hỏi thực bởi lẽ đơn giản là câu hỏi thực sẽ đưa họ vào cuộc hành trình gian nan. Nếu bạn thực sự muốn biết mình là ai bạn phải vứt bỏ tất cả: định kiến, ý thức hệ, triết lí và tôn giáo của bạn bởi vì đây chỉ là những thứ không cấu thành nên tinh tuý của bạn.

Trung tâm bên trong nhất của bạn ở bên ngoài tất cả các khái niệm. Tất cả những điều đã từng được nói cho bạn, tất cả những điều đã trở thành căn cước của bạn, đều phải bị vứt bỏ. Nêu ra câu hỏi thực nghĩa là trải qua cuộc khủng hoảng căn cước; bạn sẽ phải quên đi tất cả về điều bạn nghĩ mình đang là.

Theo Osho

Một lần đi họp ở Hà Nội, tôi đến sân bay Tân Sơn Nhất. Vì lúc này tình hình kẹt xe ở TP Hồ Chí Minh khá trầm trọng nên tôi cho tài xế rước tôi sớm đến sân bay. May là không kẹt xe nên thời gian chờ khá rãnh rỗi. Hơi “bị rãnh” tôi nhìn hành khách xếp hàng ở cổng ra máy bay. Chợt một cái đập vai làm tôi giật mình: một thằng bạn học hồi thời trung học mà ít có dịp chúng tôi gặp lại. Qua chào hỏi, nó (hiện làm ở Ban quản lý các khu công nghiệp của tỉnh) bảo mình với nó đi cùng chuyến bay và cùng . . . chờ bay. Thế là có bạn dể “tám” cho đỡ buồn. Ôi thôi đủ chuyện trên đời từ hồi còn đi học đến chuyện bây giờ. Nó chỉ tôi dòng người đang xếp hàng ở cổng ra máy bay. Một cảnh tượng rất nực cười: “đổ xô” và “chen lấn”. Và tôi chợt giật mình khi người bạn nói: “Tao đi nhiều nước trên thế giới, khi ra sân bay, hể thấy người Châu Á nào ở sân bay mà “lăng xăng”, “hấp tấp” thì chắc chắn là người Việt Nam”. Tôi trãi nghiệm lại và thầm động ý với nhận định trên của nó mà trong lòng không vui một chút nào cả.

Thói quen “đổ xô” và “chen lấn” trông nực cười thật và đáng suy ngẫm về một lối sống (hay là một thói xấu) của người Việt mình: sự “đổ xô” và “chen lấn” luôn hiện diện trong nhiều hoạt động đời sống và người ta không ai mảy may nghĩ rằng đó là một hình ảnh vô cùng xấu xí, thiếu văn hóa. Ở sân bay, ngay quầy làm thủ tục thôi đã có nhiều người chen ngang, lấn hàng rồi. Tới chỗ làm thủ tục hải quan, thay vì đứng chờ dưới vạch đỏ, người ta cứ lấn lên khiến nhân viên hải quan phải luôn miệng nhắc nhở. Thậm chí, khi đã có chắc chắn một chỗ ngồi trên máy bay rồi mà khi nghe loa thông báo: “Mời hành khách cao tuổi, phụ nữ có thai và trẻ em v.v…” là tất cả cứ ào ào đổ xô tới cửa boarding. Chỉ có tôi, bạn tôi và vài người khác là điềm nhiên ngồi đợi cho tới khi không còn ai mới ung dung đi vào, vừa không phài đứng chờ tới lượt mỏi cả chân, vừa thoải mái. Tại sao lại cứ phải ào ào lên khi mà đằng nào mình cũng lên được máy bay và chắc chắn có ghế ngồi?

Hôm nọ, chỉ một tin đồn là xăng tăng giá, thế mà người ta cũng đổ xô, chen lấn để mua xăng. Giống như lần trước tin đồn thiếu gạo khiến người ta ào ào chen nhau mua gạo. Chạy xe ngoài đường thấy ai cũng ào ào và luồn lách cốt sao cho xe mình vượt được người khác. Phần lớn nguyên nhân của các cuộc kẹt xe là do người lưu thông chen lấn và tự làm cản trở lẫn nhau.

Những ngày khuyến mãi của các Siêu thị hay Trung tâm điện máy, người ta xếp hàng và chen lấn từ sáng sớm để mua được món đồ mà chưa chắc đã là rẻ, có người còn bị móc mất điện thoại hay ví tiền trong khi chen nhau, thật lợi không bằng hại. Chen nhau không được về la làng lên là bị khuyến mãi lừa, mà không tự trách là tại sao mình tham lam ngu ngốc.

Những dịp lễ hội là dịp cư dân mạng lại xôn xao về những hành vì phản cảm thiếu văn hóa như vụ giẫm đạp nhau trên đường hoa Nguyễn Huệ, hay vụ phá ngày hội Hoa Anh đào ở Hà Nội. Mùa lễ hội những đền chùa, đình miếu đều chen chúc và giành giật, chẳng thấy còn chút gì là linh thiêng hết. Lễ khai ấn đền Trần, hội Chùa Hương, Hội bà chúa xứ núi Sam v.v… chỉ là dịp để khách hành hương hành xác nhau trong khổ sở, là dịp cho bọn buôn thần bán thánh trục lợi. Đâu đâu cũng thấy những biểu hiện của sự giành giật, bon chen, không ai chịu nhường ai.

Có lẽ tư tưởng: “trâu chậm uống nước đục”, hay “mội miếng giữa đàng bằng một sàng xó bếp” đã ăn sâu vào đầu óc người Việt nên người ta luôn muốn mình phải nhanh chân hơn kẻ khác, luôn muốn giành giật chút phúc lộc của giời? Thật không lý giải được.

Tôi có một đứa cháu 6 tuổi, vừa học hết Mầm non, chuẩn bị vào lớp Một. Cha mẹ cháu chạy hết gần 50.000.000 đồng để cháu được vào học trường Tiểu học điểm (dù cha mẹ cháu không mấy gì khá giả). Chạy được xong cha mẹ cháu đến khoe với tôi “thành tích” “chạy” đó mà còn nói thêm nhiều người khác giàu có nộp tiền nhiều hơn nhưng vẫn không được vì thiếu “quen biết”!. Tôi ậm ờ cho qua nhưng trong lòng chợt nghĩ mình hồi nhỏ đi học trường làng, cha mẹ nghèo con đông nên có “chạy” gì đâu (mà lúc đó không ai có khái niệm “chạy” đó) mà cũng học giỏi, thi đâu đậu đó. Chợt nhớ lời thằng bạn nói lúc “tám” ở sân bay: Bây giờ muốn được việc thì phải “chạy” từ lúc sinh cho đến lúc chết. Có bầu, đẻ phải “chạy nhà bảo sanh”; đi học phải “chạy trường, chạy lớp, chạy thầy; chạy điểm”; bệnh phải “chạy nhà thương, chạy thầy, chạy thuốc”; đi làm phải “chạy việc”; muốn thăng tiến phải “chạy chức, chạy quyền”; lỡ bị tội thì phải “chạy án”; mà có chết đi cũng phải “chạy chỗ chôn” . . .

Chỉ khi nhìn thấy những người Nhật trật tự xếp hàng nhận hàng cứu trợ sau cơn động đất, sóng thần mới thấy rõ ràng sức mạnh của giáo dục. Người dân Nhật được giáo dục về nền nếp và trật tự xã hội từ nhỏ, nên ý thức ấy đã ăn sâu trong họ. Còn người Việt mình, từ bé nhiều đứa trẻ đã được cha mẹ dạy một cách cố tình hay vô thức rằng: phải tranh giành, chen lấn, xô đẩy mới có được cái tốt hơn cho mình, vì thể tư tưởng ấy đã ăn sâu bén rễ và trở thành một lối sống xấu lúc nào không hay.

Có lẽ chẳng bao giờ người Việt mình thay đổi được những thói xấu làm hình ảnh Việt Nam trở nên “kỳ quặc” trước mắt những du khách nước ngoài. Nhất là giới trẻ ngày nay, được sinh ra và chiều chuộng trong nhung lụa, thì cái tính ích kỷ cá nhân còn tăng lên gấp nhiều lần, họ sẽ ít biết hy sinh vì người khác. Nhưng tôi vẫn mong sao có nhiều người biết nhìn ra thế giới và nhìn lại nước Việt mình, để thấy cần phải nỗ lực thay đổi. Thay đổi để chính bản thân mình tốt hơn, đất nước mình tốt hơn.

Kính gửi: Các con. Muốn làm đệ tử của Thầy, thì phải sống đúng những đức hạnh đơn giản nhất của Phật giáo, nó là phong cách sống ra khỏi nhà sinh tử của người tu sĩ, vì thế, nó rất quan trọng và cần thiết cho người quyết tâm làm chủ sự sống chết.

I/ Những đức hạnh ấy gồm có:

1- Nhẫn nhục là thấy lỗi mình, không thấy lỗi người, nhờ có nhẫn nhục như vậy, nên tâm bất động trước các ác pháp và các cảm thọ.

2- Tùy thuận là tùy theo mọi ý kiến của người khác, nhưng không bị lôi cuốn vào ác pháp.

3- Bằng lòng là vui lòng trước mọi hoàn cảnh, mọi người, mọi việc nhưng không vui lòng theo những điều làm ác.

4- Ăn ngày một bữa, không ăn phi thời, đó là hạnh sống của Phật và chúng Thánh tăng.

5- Siêng năng đi kinh hành, phá hôn trầm, thùy miên và vô ký, đó là hạnh sống không mê muội, không ngủ phi thời của Phật và chúng Thánh tăng.

6- Sống độc cư, độc bộ, độc hành là phong cách sống của Phật và chúng Thánh tăng để tâm không phóng dật.

Muốn tâm không phóng dật, thì chỉ có phòng hộ và giữ gìn: mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý, luôn luôn giữ gìn không cho tiếp xúc sáu trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, nếu khi đã tiếp xúc thì giữ gìn bảo vệ không cho tâm bị lôi cuốn theo sáu trần. Cho nên, cuộc sống không tiếp duyên ra bên ngoài, không nói chuyện với bất cứ một người nào cả. Đó là hạnh phòng hộ sáu căn để tâm không phóng dật. Chính ngày xưa đức Phật đã tuyên bố: “Ta thành Chánh giác là nhờ tâm KHÔNG PHÓNG DẬT”. Câu này có nghĩa là nhờ phòng hộ mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý mà đức Phật thành Chánh giác. Nếu người nào sống được như vậy, mới thật sự là đệ tử của Thầy.

II/ Học trò tôn kính Thầy là phải sống không vi phạm sáu đức hạnh đã kể trên, còn những học trò nào vi phạm những đức hạnh ở trên là không tôn kính Thầy, là không xứng đáng làm đệ tử của Thầy. Xưa đức Phật dạy lấy Giới làm Thầy, vậy người nào giữ gìn Giới luật nghiêm chỉnh, không hề vi phạm những lỗi lầm nhỏ nhặt là tôn trọng Thầy, là cung kính Phật; chứ không phải tôn trọng Thầy là hầu hạ Thầy, cung kính Phật là hầu Phật.

Đạo Phật là đạo rất tôn trọng sự sống bình đẳng, cho nên, người nào cũng có một quyền sống như nhau, không có người hầu, kẻ hạ. Vì vậy, không có ai hầu hạ ai cả, chỉ có giúp đỡ nhau khi bệnh tật, khi già yếu. Cách thức hầu hạ thầy như các con hỏi là theo đạo đức Nho giáo trong thời phong kiến. Khất sĩ Việt Nam chịu ảnh hưởng Nho giáo phong kiến, nên người mới vào tu phải hầu hạ thầy và phục dịch các vị đại đức, thượng tọa, hòa thượng như tôi tớ trong những nhà giàu có, làm quan sang trọng.

Vì thế, Đạo đức của Phật giáo khác xa đạo đức của Nho giáo. Đức Phật là một ông vua từ bỏ quyền uy thế lực, từ bỏ cung vàng điện ngọc để trở thành một người dân bình thường và còn hơn thế nữa để trở thành một người đi xin ăn. Đức Phật đi tu không có người hầu kẻ hạ, tự đi xin ăn và tự rửa bát, tắm giặt. Sau này tuổi già sức yếu, chúng tỳ kheo đệ tử Phật mới đề nghị ông A Nan làm thị giả cho Phật. Nhưng ông A Nan làm thị giả cho Phật như một người trẻ tuổi giúp đỡ người già, chứ không hầu hạ theo kiểu đạo đức Tam Cang của Nho giáo.

III/ Các con không xả tâm được, là vì đời không muốn bỏ, và tu hành chỉ là mục đích muốn thêm đạo. Đạo và đời là hai nẻo đường ngược chiều, cho nên, đạo là xả ra, buông ra, còn đời thì lấy vào, ôm vào. Vì xả tâm không được, đó chính là các con còn ưa thích đời; do còn ưa thích đời, nên luôn luôn phải chịu khổ đau thì đừng có than thân trách phận.

Đời không muốn bỏ mà đạo thì muốn tu, như vậy, các con chưa thông hiểu chữ “TU”. Tu vốn là xả tâm tất cả; xả tâm tất cả là “ĐẠO”. Vậy xả tâm không được là tu cái gì?

IV/ Đạo Phật không khó, chỉ cần hiểu biết rõ các pháp vô thường, không có pháp nào là ta, là của ta thì ngay đó là xả tâm; ngay đó xả tâm thì tâm bất động; tâm bất động là cứu cánh, là Niết bàn. Hãy cố lên con ạ! Giải thoát ngay liền trước mắt không xa.

Kính thư
Thầy của các con

Trưởng lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Một ngày nọ, tôi giật mình nhận ra rằng câu nói “Em yêu, anh đã về” quen thuộc giờ đã trở nên không còn ý nghĩa gì nữa. Vợ của tôi biết rõ tôi đang ngồi uống cocktail ở La Luna Desperation bar với ba người bạn, và khi tôi nhắn tin báo về nhà, cô ấy sẽ tự biết phải chuẩn bị bữa tối cho mấy người. Cô ấy cũng sẽ không vòng tay ôm cổ tôi và hỏi một ngày làm việc của tôi như thế nào, vì cô ấy đã và đang cập nhật từng giờ trên Facebook của tôi.

Chúng ta biết rõ vợ, chồng, người yêu của chúng ta đang làm gì, ở đâu, với ai, bằng tin nhắn, các cuộc điện thoại, Facebook, Twitter và rất nhiều ứng dụng điện thoại khác. Những mối tình không phải chuyện của hai người nữa, mà là chuyện của hai người và cả thế giới. Người ta than phiền về hiện tại và muốn hoài cổ về quá khứ, nhưng lại không thể trải qua một ngày sống thiếu internet.

Chúng ta chuyển từ những quán rượu tạm bợ sang những nhà hàng, quán bar sang trọng với những giờ hạnh phúc. Chúng ta thay hàng rào gỗ bao quanh nhà bằng cả một hệ thống báo động tinh vi. Chúng ta không trồng rau bằng việc tự xới đất và đặt một hạt giống xuống đó, mà bằng việc ra cửa hàng rau sạch, chọn lựa giữa hàng đống món hàng và mua một túi bắp cải được bảo quản siêu sạch. Các thương vụ kinh doanh chuyển từ việc đổi ngựa lấy đất trồng sang việc bắt tay kí hợp đồng bên cạnh hàng chồng tài liệu và những chiếc máy tính vô tri vô giác. Những lá thư tay đầy ắp yêu thương chuyển thành những kí tự nhảy múa trên màn hình điện thoại.

Chúng ta mất đi sự trông chờ, hi vọng, thay vào đó là những kết quả thấy được, tiền chuyển vào tài khoản và những bữa ăn thịnh soạn được bày ra trước mặt. Chúng ta bỏ qua những phép tắc, lễ nghi mà bon chen sống từng ngày, giành giật từng thứ để thỏa mãn sự ích kỉ của bản thân. Không còn tính thật thà, không còn sự cao thượng, tất cả xoay quanh hai câu hỏi “Anh làm gì?” và “Anh kiếm được bao nhiêu tiền?”

Chúng ta đã đấu tranh cả cuộc đời vì sự tự do, để rồi cuối cùng trở thành nô lệ của những giá trị vật chất và các trào lưu của xã hội. Tôi hình dung ra mọi người là những tù nhân đang đeo xiềng xích vô hình, ngày ngày làm đúng những gì người khác yêu cầu, trả lời xong rồi mới đi tìm câu hỏi thực sự là gì. Tôi không tự hào về “mái nhà” của tôi. Tôi không tự xây nó. Quần áo tôi mặc không thực sự thuộc về tôi. Tôi không may nó, cũng không biết ai thiết kế ra nó. Những gì tôi có thể cảm nhận là sự miễn cưỡng của người thợ khi phải may một cái áo vì chủ ra lệnh như vậy, và sự khô cứng trong từng mũi may khi còn chẳng biết ai sẽ mặc nó. Lịch của tôi được lên hàng ngày, giờ đó là phải làm việc đó, đến lúc mấy giờ sẽ phải đang ngồi vui vẻ với ai.

Từ khi nào mà việc năm người ngồi cà phê, mỗi người cầm một cái điện thoại trên tay và nói chuyện với những người còn không ở trước mặt mình, lại trở nên rất bình thường? Mặc dù nó thật vô lý, nhưng như tôi đã viết ở trên, đó là trào lưu xã hội, và đã là trào lưu thì người ta theo. Cũng giống như việc người vợ về nhà, tay lỉnh kỉnh túi đồ mua ở siêu thị, túi laptop, điện thoại và đang luống cuống tìm chìa khóa mở cửa. Và người chồng thì chúi đầu vào laptop và còn chẳng thèm ngẩng đầu lên nhìn. Đơn giản, đó là trào lưu.

Chúng ta ngấu nghiến đĩa pasta, lăn ra giường khi đã mệt phờ sau một ngày mà còn không kịp tự đắp chăn lên người. Chất cồn đưa chúng ta vào giấc ngủ, để sáng hôm sau lại lặp lại đúng chuỗi ngày như thế. Tại sao chúng ta phải tự hành hạ mình như vậy? Tại sao lại tự kích thích bản thân bằng cocaine và thứ nhạc đấm vào tai, thay vì một ly rượu vang lâu năm tuyệt vời với những người bạn tri kỉ?

Nếu chúng ta phải sống nhanh chỉ để thỏa mãn những thứ như thế, thì thà sống chậm lại một chút, để kịp nghĩ trước khi làm, để bận rộn với đúng nghĩa bận rộn, làm những việc ta nên làm, chứ không phải những việc ta phải làm. Liệu rằng con người có mất cả cuộc đời để học được cách trở về nhà và nói “Em yêu, anh đã về… Cơ thể anh, tâm trí anh, suy nghĩ của anh, đã trở về nhà.”?

“Nhân quả báo ứng” chính là làm thiện được quả báo thiện, còn làm các điều ác bị quả báo ác. “Luật nhân quả” chính là phương thức, qui tắc cùng định luật cố định của nhân quả báo ứng.

Còn nói rõ hơn, những hành vi thuộc ác chủ yếu là “thập ác và ngũ nghịch”. Mỗi hành vi xấu ác, đều phải chịu ác báo tương xứng với hành vi đó. Vả lại, căn cứ vào những hành vi xấu ác nặng hay nhẹ mà có quả báo khác nhau. Nhân quả báo ứng của việc thiếu nợ là gì, hãy cùng đọc câu chuyện dưới đây:
Chuyển sinh làm trâu ngựa để trả nợ
Trên trang mạng Chánh Kiến có một bài viết rất hay: “Kiếp trước kiếp này: Người chưa bao giờ cưỡi lừa”. Tác giả Đường Hiểu Vu quen biết một người đàn ông có khả năng nhìn thấy tiền kiếp, ông luôn kể rằng chuyện động vật luân hồi chuyển sinh là hoàn toàn có thật.
Cũng bởi vậy, ông chưa bao giờ cưỡi lừa, cho dù đi đường xa có mệt tới đâu ông cũng đều dắt lừa mà đi. Trâu cũng vậy, ông không bao giờ ngồi lên nó mà cưỡi. Nguyên nhân là bởi ông có thể nhìn thấy kiếp trước của một sinh mệnh, nhìn thấy những con lừa và trâu là bạn thân hoặc người nhà trong tiền kiếp nên ông không dám cưỡi.
Ông nói, thông thường các loại súc vật trong nhà như trâu, bò, ngựa, lợn… đều là con người chuyển thế để trả nợ. Kiếp trước thiếu nợ của gia đình nào đó không trả hoặc không trả được thì kiếp này phải hóa thành trâu ngựa để trả nợ, thiếu nợ thứ gì hay thiếu nợ của ai đều nhất định phải hoàn trả.
Trong dân gian người ta vẫn thường coi lời thề là lời nói gió bay, nên mới tuỳ tiện thề rằng:“Kiếp sau xin được làm trâu làm ngựa để báo đáp”. Đây thực sự không phải là lời nói đùa, nếu thực sự kiếp này không hoàn trả kiếp sau nhất định phải trả. Đó là quy luật bất biến trong vũ trụ này.
Ông còn kể lại một câu chuyện có thật của chính người hàng xóm. Gia đình người hàng xóm nọ có 3 anh em trai, cha của họ đã qua đời. Vài năm sau, trong một lần đi chợ người hàng xóm phát hiện con lừa ở làng bên cạnh chính là cha của anh ta chuyển thế.
Kiếp trước thiếu nợ nên kiếp này ông phải hóa thành lừa để báo đáp. Vì thương cha, ba anh em liền bàn nhau mua lại con lừa về nhà chăm sóc bởi họ tin rằng nợ nghiệp nhất định phải hoàn trả.
Vậy nhân quả là có thật hay không?
Vào thời Trung Hoa Dân Quốc, một cư sĩ tên là Uông Hiểu Viên ra chợ thì nhìn thấy vị hòa thượng đang đứng nhìn chằm chằm vào hàng thịt lợn mà rưng rưng nước mắt. Lấy làm lạ vị cư sĩ liền tiến lại gần và hỏi thăm duyên cớ, lão hòa thượng trầm ngâm hồi lâu và kể lại với giọng bùi ngùi:
“Tôi có thể nhớ rõ hai đời trước của mình. Kiếp trước khi được làm người, tôi từng làm nghề đồ tể. Tôi sống đến hơn 30 tuổi thì chết. Vong hồn của tôi bị mấy tên quỷ trói lại và đưa đi. Diêm La vương trách phạt tôi vì tội giết hại quá nhiều súc vật, nghiệp lực trầm trọng nên đã lệnh cho quỷ áp giải tôi đến nơi chuyển luân nhận báo ứng.
Lúc ấy tôi rất hoảng hốt, mơ mơ màng màng giống như bị uống rượu say không biết gì, chỉ có cảm giác toàn thân nóng đến mức không chịu được. Trong chốc lát lại cảm thấy toàn thân mát lạnh, rồi chỉ trong nháy mắt đã giáng sinh vào một chuồng lợn.
Sau khi cai sữa, mặc dù thấy thức ăn rất bẩn, nhìn đã thấy buồn nôn, nhưng chỉ vì quá đói bụng nên bất đắc dĩ hàng ngày tôi phải miễn cưỡng ăn hết.
Phật Đà cảnh báo thế nhân: Trong đại dương mênh mông rộng lớn, miếng gỗ đục lỗ tròn trôi dạt vô định. Trong biển sâu có một con rùa mù, một trăm năm nổi lên mặt nước một lần, va phải lỗ hổng miếng gỗ. Khi một người mất đi nhân thân, cơ hội có lại được thấp hơn rất nhiều việc con rùa chui vào cái lỗ trên miếng gỗ. Những sự gì chúng ta nhìn thấy ở đời này, đều là nhân quả của kiếp trước người đó hay bản thân chúng ta từng làm.

Từ thời cổ đại với Aristotle, Plato, Socrates, cho đến ngày nay qua các thời đại với René Descartes,Baruch Spinoza, Gottfried Leibniz,George Berkeley, John Locke,David Hume, Thomas Reid, Jean-Jacques Rousseau,Immanuel Kant,Georg Wilhelm Friedrich Hegel,Arthur Schopenhauer, Søren Kierkegaard, Friedrich Nietzsche,Karl Marx, Gottlob Frege, Henri Bergson, Edmund Husserl,Bertrand Russell, Ludwig Wittgenstein, Martin Heidegger,Jean-Paul Sartre và Willard van Orman Quine và Kapila,Yajnavalkya, Thích Ca Mâu Ni,Akshapada Gotama,Nagarjuna,Khổng Tử, Lão Tử,Trang Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Chu Hy, Hàn Phi Tử, Vương Dương Minh, Dharmakirti, Sankara,Ramanuja, Madhvacharya, Sri Ramakrishna, Narayana Guru,Vivekananda, Aurobindo, Ananda Coomaraswamy và Sarvepalli Radhakrishnan; con người và các triết gia luôn cố gắng tìm cách trả lời cho câu hỏi lớn về 4 sự kiện chính của đời người: sinh, lão, bệnh, tử.

Dường như chúng ta ai cũng phải trải qua một chu kỳ lặp đi lặp lại của đời sống: sinh ra rồi lớn lên trưởng thành già yếu chịu tật bệnh rồi một người phải chết đi. Trong bài viết này chúng tôi sẽ trình bày với quý vị 4 vấn đề chính này với tất cả các góc cạnh khác nhau bằng các lăng kính khác nhau để hầu hy vọng đem lại một câu trả lời đầy đủ nhất hoàn chỉnh nhất. Có thể quý vị sẽ không đồng ý hoàn toàn với chúng tôi nhưng ít nhất, chúng tôi hy vọng có thể mở một cánh cửa mới cho tầm nhìn mới của quý vị về các vấn đề của đời sống của chúng ta đặc biệt là 4 vấn đề lớn nhất: SINH, LÃO, BỆNH, TỬ.

 1. SINH:

Không chỉ có loài người nhưng tất cả loài vật, vạn vật từ hòn đá, cây cỏ, dòng sông, biển cả, núi đồi, trái đất, hệ mặt trời, thế giới,vũ trụ đến các tư tưởng, hệ thống triết học, quốc gia, nền văn minh. . . đều có sinh ra, bắt đầu, hình thành, rồi phát triển, trưởng thành rồi già cỗi, lỗi thời, lạc hậu, bị đào thải rồi bệnh tật, và một ngày chết đi. Nhưng kỳ diệu nhất vẫn là lúc sinh ra, có chứng kiến sự hình thành của một bào thai, rồi nhìn người mẹ mang nặng thai nhi và đến ngày sinh nở, mẹ tròn con vuông, một con người mới góp mặt với thế giới, chúng ta mới thấy hết sự mầu nhiệm của đời sống. Vẻ đẹp bé thơ, ngây thơ thánh thiện, tiếng khóc chào đời làm niềm vui cho cha mẹ ông bà và người. Cũng như sự ra đời của một đứa con tinh thần của các nhà thơ nhà văn, nghệ sĩ: một bức tranh đẹp, một bài thơ, một quyển sách. . . là một sự huyền nhiệm của vũ trụ. Đã có lúc con người ngỡ rằng mình hiểu hết bí mật của sự sống, sự sinh sản, sự ra đời của một đứa trẻ nhưng gần đây các nhà nghiên cứu nhận ra rằng không phải đơn giản, quá trình thụ thai chỉ là cơ chế sinh học nhưng làm sao một đứa trẻ phải là con của cha mẹ này mà không phải là con của cha mẹ khác, liệu chỉ ngẫu nhiên hay là có định mệnh an bài, rồi làm sao chúng ta có sự hình thành tư duy, trí óc, trí tuệ. . . , và vấn đề di truyền cũng như xã hội, môi trường, giáo dục, hoàn cảnh ảnh hưởng thế nào đến đứa trẻ. . .

Sự sinh ra là vô cùng cần thiết để đời sống tiếp tục, hãy tưởng tượng nếu một ngày nào đó không ai sinh con nữa, thì có lẽ chỉ sau hơn 100 năm là thế giới sẽ kết thúc. Mặc dù con người đang tăng dân số nên nhiều người sợ nạn nhân mãn, bây giờ chúng ta có hơn 7 tỷ người, đó là một con số khổng lồ nếu chúng ta không có cách nuôi sống, chăm sóc đầy đủ 7 tỷ người này thì thật là thảm họa, nhưng với tình trạng đất đai của chúng ta trên trái đất, thế giới có thể có được ít nhất là 30 tỷ người. Vấn đề con người cần nên làm là tạo điều kiện để mọi đứa trẻ sinh ra đều khỏe mạnh, hạnh phúc trở thành người có ích hữu dụng cho xã hội. Sự hình thành của các công ty, các quốc gia, các hệ tư tưởng, và cả vũ trụ cũng vậy lúc nào cũng là bắt đầu mới tốt đẹp hứa hẹn những tương lai. Và đó là sự bắt đầu, buổi bình minh rực rỡ của chúng ta. . .

 2. LÃO:

Sau khi sinh ra con người cũng như vạn vật bắt đầu lớn lên, trưởng thành, học hỏi, khôn ngoan hơn, kinh nghiệm hơn và một ngày kia bỗng thấy mình già cỗi, hom hem, tóc bạc, lưng còng. . . Không ai tránh khỏi, không điều gì tránh khỏi ngay cả các quốc gia, ngay cả thế giới và vũ trụ, ngay cả bài thơ bạn viết, ngay cả chiếc xe mắc tiền bạn mua, ngôi nhà xinh đẹp trong ước mơ của bạn. . . Tất cả một ngày kia đều phải theo quy luật nhân gian già đi, cũ đi và bị đào thải. Tuổi thanh xuân đầy ước mơ, nghị lực, rồi tuổi trung niên chững chạc, điềm tĩnh, chín chắn và tuổi gài thì yếu đuối, cố chấp, hoài cổ,. . . Chỉ có điều kỳ lạ là ít ai chịu thông cảm, tha thứ và chấp nhận. . . Có một nhà tâm lý học tình cờ sưu tập được 4 cuốn nhật ký của 4 thế hệ người khác nhau, một cuốn từ cuối thế kỷ 19, một cuốn khoảng năm 1930, một cuốn của 1960 và một cuốn của 1999, điều lạ lùng là cả 4 cuốn đều phàn nàn về đời sống hiện tại của 4 người tuổi vừa khoảng 60 về đời sống hiện tại: giới trẻ nổi loạn, sống bê tha vô đạo đức, xã hội suy đồi, phi nhân bản, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh quá mà đạo đức không theo kịp. . . . Và nhà tâm lý nhận ra rằng hoá ra con người thời nào cũng luôn phải đối đầu, đối phó với hầu như cùng một vấn nạn, vấn đề. . . Và đó chỉ là một vòng lẩn quẩn của nhân sinh, nhưng còn có 2 vấn đề mà con người luôn lo lắng sợ hãi mà dường như chẳng bao giờ chạy thoát nổi đó là BỆNH VÀ TỬ, mà chúng tôi sẽ bàn tiếp sau đây.

 3. BỆNH:

Đây thực sự là vấn nạn mà loài người cũng như vạn vật kể cả vũ trụ cũng đều chịu đau khổ. Tại sao chúng ta ai cũng phải chịu ít nhất một tật bệnh, nặng hay nhẹ, thoáng qua hay kinh niên. TỪ ngàn xưa các thầy thuốc bác sĩ đã cố gắng chiến thắng bệnh tật cứu người nhưng càng ngày nhân loại càng bị những bệnh khó hơn.

Bệnh tật không tha bất cứ ai, từ người giàu sang đến kẻ bần hàn. Những căn bệnh cứ âm thầm gieo cho con người nỗi sợ hãi và từ từ cướp đi không biết bao nhiêu sinh mạng từng giây phút. Bệnh tim mạch là bệnh gây chết người hàng đầu, sau đó là các bệnh nhiễm trùng và bệnh ung thư và sau đó là tất cả các căn bệnh khác mà bạn đã biết. Làm thế nào để chiến thắng bệnh tật, đó là điều ám ảnh không chỉ các bác sĩ, các nhà nghiên cứu y khoa mà tất cả mọi người. Theo tôi nghĩ đã đến lúc con người nên thay đổi toàn diện cách sống, cách phòng bệnh và phương thức chữa bệnh. Các chính phủ cũng như các tổ chức từ thiện nên tập trung ngân sách cho nghiên cứu về bệnh tật và thật sự tạo một cuộc cách mạng mới trong lĩnh vực y khoa như chúng ta đang có với khoa học và kỹ thuật. Đây sẽ là một thử thách lớn, mới mẻ và thần kỳ đối với nhân loại thế kỷ 21, chế ngự các bệnh tật và phòng bệnh hơn chữa bệnh, giúp con người sống khỏe mạnh hơn, sống có ý nghĩa hơn, hiệu quả hơn. Ví dụ bệnh tim mạch và ung thư: tập thể dục, ăn uống điều độ, khỏe mạnh, đúng cách, sẽ tạo nên một cơ thể tráng kiện góp phần chống bệnh khi bệnh tới nhưng y khoa phải tạo một loại thuốc, một loại vaccine chủng ngừa giúp con người phòng bệnh và khi có bệnh thì chống bệnh hiệu quả. . .

 4. TỬ:

Đây là cái đích cuối cùng mà con người ai cũng phải tới mà ít ai chịu chấp nhận nó, khi nó tới gần thì sợ hãi. Mặc dù các tôn giáo vẫn luôn tìm cách thuyết phục con người tin rằng sẽ có một thế giới khác tốt đẹp hơn nếu chúng ta tu tâm sửa tánh, làm lành tránh dữ, tu tập, cầu nguyện. . . nhưng con người vẫn cứ sợ hãi. Liệu đời sống chúng ta: chuỗi tuần hoàn SINH, LÃO BỆNH TỬ là ngẫu nhiên hay là định mệnh đã an bài. Tôi nghĩ là cả hai thái cực đó chi phối chúng ta. Trước khi ta sinh ra, ta từ đâu tới, sau khi chết đi ta sẽ đi đâu, đó là câu hỏi mà muôn đời vẫn còn chờ câu trả lời dù các tôn giáo, triết học, tư tưởng. . . đã cố gắng trả lời rồi nhưng dường như vẫn chưa đủ sức thuyết phục con người.

Có người cho rằng chết là hết, cát bụi sẽ về cát bụi, đó là thuyết ngẫu nhiên, còn có người cho rằng số phận của chúng ta đã an bài trong định mệnh: chúng ta phải sinh ra bởi cha mẹ của chúng ta chứ không phải người khác, chúng ta phải gặp người đó làm chồng vợ, chúng ta phải chịu những đau khổ tai kiếp đó, bệnh tật đó và phải chết ngày đó. Đó là thuyết định mệnh: nhưng ngay cả thuyết này cũng có hai trường phái giải thích khác nhau về ai chịu trách nhiệm cho sự quyết định số phận đó, định mệnh đó: có thuyết cho rằng có một đấng tối cao, chúa, trời. . . quyết định như thế; có thuyết cho rằng tất cả những định mệnh đó là do chính nghiệp của chúng ta tạo ra, trong vô lượng kiếp, nếu trong những kiếp trước chúng ta làm ác, thì kiếp này phải nhận quả báo, ngay cả quả báo nhãn tiền ngay lập tức. . .

Thực sự ra có lẽ chúng ta bị chi phối bởi cả hai: định mệnh và ngẫu nhiên. Đúng là chúng ta đang chịu những hậu quả của những gì chúng ta đã làm và có một sự "thiêng liêng" (điều chúng ta chưa hiểu biết trọn vẹn được) ảnh hưởng nhưng sự ngẫu nhiên cũng có do sự sai lầm, tình cờ của tất cả những quy luật đó. Hãy tưởng tượng xem, khi một con muỗi hút máu bạn, thì bạn đập nó chết, nếu bạn đạp hụt nó thì nó còn sống, nếu nó gặp một người không muốn giết loài vật thì nó cũng sống. Chúng ta thường chỉ quan tâm nhiều đối với con người mà ít quan tâm hơn đối với loài vật và đặc biệt là không quan tâm đến cỏ cây, đất đá những vật vô tri vô giác như máy móc, đồ dùng, xe cộ, nhà cửa, áo quần, thế giới vũ trụ. . .

Nếu chúng ta chịu khó suy nghĩ một chút thôi, chúng ta sẽ nhận ra rằng nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta quý mạng sống của chúng ta và những người chúng ta yêu mến cũng như đồng loại, loài người thì tại sao chúng ta lại không quý trọng những loài vật và cả các đồ vật mà chúng ta cho là vô tri vô giác (chúng ta không hiểu chứ làm sao biết là đồ vật, cỏ cây vô tri vô giác. . . ) Nhiều khi tôi tự hỏi, tại sao chúng ta chỉ nói không sát sinh là tu mà cho là sát cây cỏ, phá đồ đạc, đồ vật lại không phải là lạm sát vô cớ. HY vọng một ngày kia chúng ta sẽ có một kiến thức đầy đủ hơn về vũ trụ này, biết được rõ ràng sau khi chết chúng ta sẽ đi đâu thì chúng ta sẽ sống tốt hơn nữa. Tu theo cách hiện tại của loài người là rất tốt, rất cần thiết nhưng nếu một ngày trong tương lai chúng ta biết rõ hơn về chính chúng ta và vũ trụ, quá khứ, hiện tại và tương lai thì chúng ta sẽ tu hay hơn, đúng đắn hơn và có hiệu quả hơn. Đó mới thực sự là lúc chúng ta hiểu được vòng tuần hoàn bất tận: SINH, LÃO, BỆNH, TỬ và không còn sợ hãi nữa.

Sau đây là một vài lý thú: Trung bình người thuận tay phải sống lâu hơn người thuận tay trái 9 năm. Người ta chết vì mất ngủ nhanh hơn là chết đói: nếu ta không ngủ liên tục tuyệt đối 10 ngày là ta chết còn nếu nhịn đói tuyệt đối thì ta có thể sống tới 14 ngày. Mắt của ta không thay đổi từ khi ta sinh ra đến chết nhưng mũi và tai thì phát triển không ngừng.

Biết ít nhưng vui nhiều
Đó là tặng vật
Cho cõi phù du…
Martin Heidegger - Bùi Giáng dịch
Vì đâu chúng ta luôn bận rộn, cuống cuồng, hối hả với những lo âu hằng ngày? Có phải phần lớn những phức tạp, rắc rối, những lo âu hằng ngày của chúng ta đều liên quan đến chuyện tiền bạc, nhằm giải quyết những nhu cầu vật chất hằng ngày? Mọi băn khoăn, suy nghĩ, thắc mắc, lo lắng… hàng ngày hàng giờ của chúng ta phải chăng chỉ xoay quanh những chuyện cơm ăn, áo mặc, nhà ở, phương tiện đi lại?

Câu hỏi trên khiến chúng ta phải nhìn nhận một thực tế: Tại sao con người ít khi biết đủ? Tại sao lúc nào cũng phải tìm cách thu gom, tích cóp? Phần lớn nguyên nhân lâu nay được quy cho lòng tham vô đáy của con người. Tuy nhiên, chúng tôi thiết nghĩ, nguyên nhân trước tiên là do nỗi lo sợ bị thiếu thốn.

Cuộc sống vốn dĩ là không thể biết trước! Chúng ta chỉ có thể biết những gì đã xảy ra trong quá khứ và những gì đang diễn ra ở hiện tại, còn cuộc sống tương lai sẽ như thế nào thì không ai dự đoán cụ thể hay chắc chắn được. Ngay cả khi chúng ta mong muốn một cuộc sống phẳng lặng bình yên, thì những bão giông của cuộc đời cũng có thể bất chợt đổ xuống đầu mình. Chính vì nỗi lo lắng rằng tương lai mình có thể gặp chuyện bất trắc, có thể lâm vào cảnh thiếu thốn mà con người mới luôn tìm cách thu gom, tích cóp.

Nhưng thu gom, tích cóp bao nhiêu cũng không cảm thấy đủ. Từ đây, khái niệm “lòng tham vô đáy” mới xuất hiện. Nhu cầu vật chất của chúng ta là không có giới hạn, thành thử lại càng phải thu gom, tích cóp để thỏa mãn nhu cầu của bản thân mình. Từ đó, cuộc sống trở thành những bon chen, giành giật không hơn không kém. Bạn thử nghĩ xem, cuộc sống của chúng ta trên cõi đời này chỉ vỏn vẹn có bao nhiêu năm – không dài lâu bằng cuộc sống của một loài cây cổ thụ nữa, nhưng tại sao lại phải vất vả, mệt mỏi đến thế? Làm sao để thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn này?

Vẫn biết rằng, cuộc sống quanh ta không thiếu gì những người còn nghèo khổ. Vẫn biết rằng, hằng ngày có biết bao nhiêu người lương thiện phải “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” mà vẫn chưa đủ ăn. Về vấn đề này, chúng tôi sẽ đề cập đến trong một dịp khác. Ở đây, chúng tôi chỉ muốn nói đến những con người không hề bị áp lực của những gánh nặng cuộc sống. Họ vẫn có của ăn của để, không thiếu thốn chi. Thế nhưng, họ lại coi việc chạy theo nhu cầu vật chất là điều đáng quan tâm bậc nhất trong cuộc sống, ngoài ra không có điều gì khác đáng để quan tâm cả!

Ý nghĩa cuộc sống của bạn chắc chắn không thể đo đếm bằng khối lượng hay giá trị tài sản mà bạn sở hữu. Trong cuộc sống, mọi thứ luôn biến đổi. Ngày hôm nay tài sản nằm trong tay bạn, nhưng ngày mai nó có thể nằm trong tay người khác. Nhận thức được tính chất mong manh đó, biết nỗ lực tự giải thoát mình khỏi những ràng buộc của nhu cầu vật chất bao nhiêu, chúng ta càng dễ dàng cảm nhận ý nghĩa của cuộc sống bấy nhiêu!
Lại Thế Luyện

Thế giới trong ta...

Bước ngoặt quan trọng nhất trong tiến trình nhận thức của con người có lẽ là khi chúng ta bắt đầu nhận thức về chính bản thân mình. Thay vì đặt những câu hỏi về thế giới quanh ta, mỗi chúng ta đều có một thời điểm bất chợt nào đó quay nhìn lại chính mình và đặt ra những câu hỏi đại loại như “Ta là ai?”, “Tại sao ta sinh ra và chết đi?”, “Đời sống của ta có ý nghĩa gì?”...

Khi nhận thức về chính bản thân mình, chúng ta luôn vấp phải những trở ngại hầu như không thể vượt qua. Chẳng hạn, mọi phương thức hình thành các khái niệm mô tả mà ta đã từng áp dụng cho thế giới vật chất đều trở nên không phù hợp để mô tả về bản thân chúng ta. Khi nhận thức về một sự vật, ta luôn có thể thấy được sự vật ấy hình thành từ bao giờ, hình thành như thế nào, tồn tại trong bao lâu và sẽ hư hoại trong những điều kiện nào. Nhưng với tâm thức chúng ta thì hoàn toàn khác. Chúng ta không thể nói được là ta đã bắt đầu hiện hữu từ bao giờ. Tuy có mối tương quan với thể xác vật lý, nhưng ít người trong chúng ta tin rằng tâm thức ta chỉ bắt đầu hiện hữu từ lúc thể xác này sinh ra và sẽ biến mất hoàn toàn sau khi thể xác này tan rã. Có nhiều lý do để chúng ta không thể chấp nhận một quan niệm như vậy, nhưng ngay cả khi ta chấp nhận thì điều đó dường như lại sẽ làm nảy sinh hàng loạt nghi vấn khác...

Một trong những ưu thế lớn nhất của con người là chúng ta có ngôn ngữ và chữ viết. Nhờ đó mà kiến thức và kinh nghiệm của mỗi chúng ta đều có thể chia sẻ với tất cả những người cùng thế hệ cũng như lưu lại cho nhiều thế hệ về sau. Đồng thời, ta cũng thừa hưởng được vô số những kiến thức và kinh nghiệm của biết bao thế hệ trước đây.

Trong chuỗi trao truyền đó, đã có quá nhiều dữ kiện khiến ta không thể chấp nhận được giả thuyết về một tâm thức đoạn diệt, nghĩa là chỉ giới hạn hoàn toàn trong kiếp sống này. Gần đây nhất là hiện tượng tái sinh có chủ định của các vị Lạt-ma Tây Tạng. Không chỉ được nhiều người trực tiếp chứng kiến, các hiện tượng này còn được ghi chép cụ thể, kèm theo nhiều hình ảnh và có cả các đoạn phim cho phép người xem có thể kiểm chứng được tính xác thực của sự việc. Ngoài ra, người ta cũng ghi nhận được rất nhiều trường hợp đặc biệt của những trẻ em có khả năng nhớ lại chính xác một số chi tiết trong đời sống trước đây của chúng. Mặc dù khoa học hiện nay vẫn chưa giải thích được một cách cụ thể về nguyên nhân dẫn đến những trường hợp này, nhưng việc bác bỏ những sự kiện hiển nhiên như thế là điều không thể được.

Nhưng ngay cả trong trường hợp chúng ta không chấp nhận các sự kiện nêu trên và nhất định tin rằng đời sống con người chỉ giới hạn trong phạm vi của một kiếp sống, thì việc tìm ra một ý nghĩa cho sự hiện hữu của mỗi chúng ta trong cuộc đời lại càng trở nên khó khăn hơn. Lẽ nào chúng ta chỉ sinh ra và chết đi như một sự ngẫu nhiên? Và nếu như thế thì sự nỗ lực hoàn thiện bản thân hay xây dựng cộng đồng nào có ích lợi gì, vì tất cả rồi sẽ không còn ý nghĩa gì cả khi ta đã đi qua hết những năm tháng ngắn ngủi của cuộc đời này. Chỉ cần nghĩ đến điều đó thôi, có lẽ chúng ta đã có thể hoàn toàn mất đi tất cả những động cơ cần thiết cho đời sống. Và như vậy, trong một chừng mực nào đó thì đây là một cách suy nghĩ hết sức tai hại.

Trở lại với vấn đề ý nghĩa cuộc sống, hầu hết chúng ta hẳn không ai có thể hài lòng với cái vòng luẩn quẩn “ăn để sống và sống để ăn”. Khả năng nhận thức về cuộc sống và chính bản thân mình giúp ta thấy được nhiều ý nghĩa và mục tiêu cao cả hơn là việc chỉ đơn thuần kiếm sống qua ngày. Vì thế, việc đi tìm một lý tưởng cho đời sống hầu như có thể xem là bản năng tinh thần của hết thảy mọi người. Chúng ta khó lòng hình dung được một con người với khả năng tư duy nghiêm túc lại có thể chấp nhận một cuộc sống không mục tiêu, không lý tưởng.

Thế nhưng, mọi lý tưởng hay quan điểm sống dường như đều phải xuất phát từ nhận thức cơ bản nhất về chính bản thân ta, dựa trên mối quan hệ phân biệt giữa bản thân và thế giới chung quanh. Chính vì vậy mà nhân loại đã nảy sinh ít nhất là hai quan điểm khác biệt nhau như đã đề cập đến trong chương trước: duy tâm và duy vật.

Những người theo quan điểm duy vật không thể bác bỏ hoàn toàn quan điểm duy tâm, vì có những sự thật hiển nhiên đã từng xảy ra nhưng họ không thể giải thích được. Nhưng ngược lại thì những người duy tâm cũng không thể thuyết phục được những người duy vật, vì những gì họ tin nhận đã không được chứng minh cụ thể bằng cái gọi là “những quy luật khách quan”. Và do đó, tình trạng “đường ai nấy đi” trong cuộc tranh cãi bất phân thắng bại này có lẽ sẽ vẫn còn kéo dài dai dẳng không có hồi kết thúc.

Nhưng từ một góc nhìn khách quan và toàn diện hơn thì các quan điểm duy tâm hay duy vật thật ra đều không giúp chúng ta giải quyết được vấn đề quan trọng nhất của đời người, không giúp chúng ta nhận chân được ý nghĩa thực sự của cuộc đời. Hơn thế nữa, có vẻ như việc chạy theo các ý tưởng về duy tâm hay duy vật còn khiến cho rất nhiều người trong chúng ta bị lệch hướng.

Đức Phật đã gián tiếp chỉ cho ta thấy sự lệch hướng này khi ngài hoàn toàn không đề cập đến duy tâm hay duy vật mà chỉ nhấn mạnh vào sự phân tích và nhận hiểu về chính tâm thức con người. Như đã nói, cả hai quan điểm duy tâm và duy vật đều dựa trên ý niệm căn bản đầu tiên là phân biệt giữa chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức. Xuất phát từ sự phân biệt này, mọi hành vi ứng xử của ta đều hình thành xoay quanh một “bản ngã” được xem là trung tâm điểm và quan trọng nhất. Nói cách khác, dù là duy tâm hay duy vật thì “cái ta” vẫn là quan trọng hơn “người khác”, vẫn cần phải được quan tâm trước tiên. Và như vậy, sự khác biệt về quan điểm chỉ có thể dẫn đến những cung cách hành xử có phần nào đó khác biệt nhau, nhưng về nền tảng cơ bản thì lại không có gì khác biệt.

Và cái nền tảng cơ bản được xây dựng trên quan điểm về một “bản ngã có thật” đó chính là đầu mối của mọi sự khổ đau và bất ổn mà chúng ta luôn tự chuốc lấy về mình. Mọi sự công kích hay gây hại nhắm đến cái “bản ngã” đó đương nhiên được xem là đang nhằm vào ta, đang tấn công ta, và vì thế ta cần có những phản ứng thích hợp để tự bảo vệ.

Nhưng liệu cái “bản ngã” mà ta mặc nhiên thừa nhận đó có thực sự chính là ta? Đức Phật đã quán chiếu rõ về điều này và bằng kinh nghiệm thực chứng của bản thân, ngài dạy rằng cái “bản ngã” đó là hoàn toàn không thật có. Hơn thế nữa, sự nhầm lẫn cho rằng “bản ngã” đó thật có lại chính là nguyên nhân dẫn đến tất cả những ưu phiền khổ não trong đời sống. Trong kinh Pháp cú, đức Phật dạy rõ ý nghĩa này:

Con tôi, tài sản tôi,
Người ngu sinh ưu não.
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu?
(Kinh Pháp cú, kệ số 62, bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu)

Khi ngay từ nền tảng cái “ta” đã là không có, thì làm gì có những hệ quả tiếp theo như “vợ con của ta”, “tài sản của ta”...? Và khi tất cả những thứ “của ta” đó vốn đã là không có, thì dựa vào đâu ta có thể khởi tâm tham đắm, vướng mắc? Như thế, mọi ưu sầu khổ não sẽ không còn lý do để sinh khởi, mở ra một cuộc sống ung dung tự tại mà không cần đến bất kỳ một phép mầu hay sự cứu rỗi nào.

Tiếc thay, một chân lý sáng tỏ như thế nhưng lại có rất ít người trong chúng ta có thể thực sự nghiêm túc nhận hiểu và làm theo. Vì sao vậy?

Đó là vì sự nhận hiểu về một “bản ngã thật có” đã ăn sâu trong tâm thức chúng ta từ nhiều đời, nhiều kiếp, đến nỗi ta hầu như đã mặc nhiên xem đó như một phần nhận thức không thể thay đổi! Hơn thế nữa, suy luận thông thường của chúng ta dường như rất ít khi chạm đến những điểm vốn là hoàn toàn không hợp lý trong sự hình thành khái niệm về bản ngã.
Nguyên Minh

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.