bài viết trong chuyên mục "Chuyên mục"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyên mục. Hiển thị tất cả bài đăng

Cuộc sống đâu lúc nào cũng trôi chảy, đâu chỉ có tình yêu thương hay sự đoàn kết, bởi làm sao tránh được những va chạm hay những xích mích, hay có thể là lòng thù hận! Có phải vì thế mà Đức Phật từ bi đã dâng tặng riêng cho con người một lễ vật cao quý, là báu vật của mọi mối quan hệ, tài sản đáng giá nhất trên đời, đó chính là sự tha thứ, hay còn gọi lại lòng khoan dung.

Vậy lòng khoan dung là gì?

Khoan dung là lòng rộng lượng, bao dung, thương yêu con người, sẵn sàng tha thứ, không khắt khe, không trừng phạt, hoặc sẵn sàng xoá bỏ những lỗi lầm mà người khác thường là người dưới đã phạm phải.

Danh nhân Pierre Benoit đã khẳng định “Khoan dung là đức tính đem lợi về cho cả ta lẫn người khác”. Đúng vậy, chẳng ai để một mớ hỗn độn những suy nghĩ bực tức, những trách móc, hay dồn nén một mớ sự tự ti, cảm giác tội lỗi với người khác trong lòng mà tâm hồn thanh thản nổi. Sự việc xảy ra như vậy không ai mong muốn, ta tha thứ cho lỗi lầm của ai kia, bởi ta đã mở rộng lòng mình để thấu hiểu con tim chân thành của họ rằng họ cũng thật lòng không muốn như thế, như thế ta cũng đã vượt ra khỏi chính cái bóng dáng nhỏ bé của mình, đã đánh gục được gã hẹp hòi, nhỏ nhen, ích kỉ tồn tại trong con người ta, lúc đó tâm hồn ta thật sự thanh thản. còn con người kia, sau những lỗi lầm của mình, họ nhận được sự tha thứ, hai chữ thật sự cao cả, khiến bước đi của họ phải buộc phải dừng lại, hối hận cho những bước đi sai trái, và có thể họ được cảm hóa, biết ăn năn hối cải, sữa chữa lỗi lầm, tìm về con đường cho những bước đi đúng đắn.

Một triết gia nào đó đã nói: "sự nghèo nàn về của cải vật chất không đáng sợ bằng sự nghèo nàn về tâm hồn." cũng đã từng có gười nói: trong cơ thể tôi tồn tại 2 con thú khác biệt, con thú chiến thắng là con thú mà tôi đã cho ăn và nuôi dưỡng” vậy thì sẽ không khó để nuôi dưỡng cho con người bạn lòng khoan dung nếu bạn thật sự yêu quý con thú mang tên “khoan dung” ấy và ghét bỏ con thú “hẹp hòi, ích kỉ” kia. Lòng khoan dung giúp ta trở nên giàu có hơn những người khác, giàu có hơn về sự thanh thản, bình yên trong tâm hồn. Lòng khoan dung tắm táp cho ta khỏi những toan tính, đố kị, bổi dưỡng thêm sự cao thượng trong tâm hồn. đó là điều làm người khác phải nhìn lên. Còn những tâm hồn nghèo nàn chỉ biết nuôi dưỡng những con ác thú hẹp hòi, chẳng đáng để người khác một lần liếc mắt, thật đáng sợ làm sao.

Cuộc sống này lắm những rắc rối, tránh sao khỏi những cãi vã, bất đòng về quan điểm, hay sự va chạm trong lời nói cứ nghĩ là gió bay. Nhưng lòng khoan dung độ lượng chính là báu vật của mọi mối quan hệ, nhờ nó, sẽ giữ được sự bình yên hòa thuận, thân thiện cho xã hội và gia đình, những mâu thuẫn, xung đột sẽ nhanh chóng được giải quyết. Trong mối quan hệ xã hội, một điều nhịn bằng chín điều lành, hãy thử đặt mình vài địa vị đối phương, sẵn lòng bỏ qua những thiếu xót và cùng nhau bắt tay làm lại, mọi việc nhờ đó sẽ thuận buồm xuôi gió. Trong mối quan hệ thứ bậc, giả dụ như không có lòng khoan dung cao cả, tấm lòng vị tha to lớn vì thương yêu con cái, dù chúng có làm gì sai trái đi chăng nữa, cha mẹ vẫn luôn sẵn dang rộng cánh tay chào đón chúng trở về, con cái nhờ đó biết được tình thương yêu sâu rộng của đấng sinh thành luôn dành trọn cho mình, rồi biết chọn cho mình đường mình sẽ bước, rằng con cũng sẽ cho đi và chia sẻ với cả mọi người lòng khoan dung cha mẹ đã dành cho con; rồi trong mối quan hệ giữa anh em trong nhà, nhường nhịn nhau, luôn hòa thuận, luôn biết đùm bọc nhau mà sống thì ngoài trời dù tuyết rơi nhưng trong nhà vẫn ấm. Trong mối quan hệ vợ chồng “Chồng giận thì vợ bớt lời - Cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê”. Có thế thì con người mới được sống trong sự bình an, sung sướng được.

Còn nếu lúc nào cũng khắc khe, tính toán, cố chấp, mặc cảm, thù dai, chẳng thoát khỏi cái bóng nhỏ bé hẹp hòi của chính bản thân thì tìm đâu ra cái cảm giác tâm hồn thanh thản? Cha ông ta ngày xưa từng khuyên con cháu: “Đấng trượng phu không thù mới đáng. Người quân tử không oán mới nên” trái lại, ta trở thành kẻ tiểu nhân trong mắt người khác không thương tiếc hay ngày nay được gọi là kẻ lòng dạ hẹp hòi. Thù dai chỉ tổn làm ta luôn cảm thấy bực bội, khắc khe chỉ khiến tâm hồn ta trở nên khô cứng, cố chấp làm hỏng mọi việc mà vốn đã có thể tốt hơn nếu ta chịu dĩ hòa vi quý, tóm lại lòng dạ hẹp hòi thì đã tự mình đánh mất báu vật giữ gìn các mối quan hệ, đánh mất đi cái tài sản quý giá nhất của con người đó là được sống hạnh phúc và luôn tìm thấy sự bình an quanh mình.

Khẳng định răng nếu bạn biết cho đi mà không cần nhận lại thì những thứ ấy chẳng bao giờ mất, trái lại, nó trả lại cho bạn sự thanh thản trong tâm hồn. hôm nay bạn tha thứ cho lỗi lầm của người khác, rồi một ngày nào đó bạn vô tình mắc phải một sai lầm nào đó, người khác cũng sẽ sẵn lòng vị tha và bao dung tất cả. hãy chỉ thương yêu nhau thôi, đó là cội nguồn hạnh phúc, bắt đầu từ sự bồi dưỡng những tấm lòng bao dung.

Chẳng phải tấm lòng bao dung đức độ của Cha xứ như một tia sáng soi rõ, giúp Giăng-văng-giăng tìm lại được con người thật của mình trước khi bị chính cái tòa án với đống bản án khắc nghiệt điên rồ biến ông thành kẻ trộm cắp xấu xa, một thằng tù khổ sai khốn cùng. Và rồi ông đã bắt đầu lại cuộc đời dựa trên chính lòng bao dung mà ông đã được con người cao thượng kia trao tặng trở thành một ngài thị trưởng đáng kính được người người tán thưởng. rồi: “lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn; lấy chí nhân để thay cường bạo” những câu thơ hùng hồn đó chẳng phải đã in sâu vào lòng người Việt ta từ bao đời nay, đã trở thành phẩm chất quý giá, tài sản, dũng khí sắc bén thể hiện qua từng cuộc chiến thắng giặc ngoại xâm???

Rồi ta chợt nhìn lại ta, cái cách mà ta đang sống, cách mà ta đối xử với mọi người, ta tự hứa ta sẽ yêu thương con người, sẽ trở thành một người nhân hậu với tất cả lòng bao dung luôn sẵn sàng mở rộng lòng với tất cả mọi người và bản thân mỗi chúng ta, phải không ngừng tự rèn luyện, phấn đấu bồi đắp cho mình có lòng khoan dung rộng lớn kèm theo sự thấu hiểu luôn sẵn lòng giúp đỡ. Lòng khoan dung là tài sản vô giá của con người và cũng là phương châm đối nhân xử thế tốt nhất để nhằm hoàn thiện nhân cách bản thân và đem lại sự bình an cho cuộc sống.

Nguồn: zing.vn

Thời gian thấm thoát trôi nhanh, năm cũ sắp hết, năm mới sắp sang. Trước thềm năm mới, chúng ta hãy dành ít phút để suy tư, quán niệm: chúng ta đã làm gì cho cuộc đời mình được ích lợi, trên phương diện thế gian và xuất thế gian, trong năm vừa qua và những năm trước đó?

Ðồng thời chúng ta cũng thử bàn về vấn đề "Ý nghĩa của cuộc sống", để có một nhận định đúng đắn cho cuộc đời của chúng ta từ đây về sau, trên bước đường tu học theo đúng Chánh Pháp.

Từ ngàn xưa cho đến ngày nay, từ phương Đông sang đến phương Tây, từ Châu Á sang đến Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi và Châu Úc, khi bàn về vấn đề ý nghĩa của cuộc sống, bằng cách này hay cách khác, mọi người luôn luôn bày tỏ niềm mơ ước một cuộc sống có ý nghĩa, một cuộc sống lý tưởng. Nhưng thế nào là cuộc sống lý tưởng, thế nào là cuộc sống có ý nghĩa? Làm sao xây dựng cuộc sống lý tưởng, làm sao xây dựng cuộc sống có ý nghĩa? Trải qua nhiều thế kỷ, xuyên qua nhiều địa phương khác nhau, nhiều người có những quan niệm, những quan điểm, những ý kiến khác nhau về vấn đề này.

Chẳng hạn như có người quan niệm là phải có nhiều tiền của, mới có cuộc sống lý tưởng và cuộc sống mới có ý nghĩa. Tại sao vậy? Bởi vì có nhiều tiền của, con người mới có thể làm được nhiều việc ích lợi cho bản thân và cho mọi người theo như ý của mình mong muốn. Sách có câu: "Có tiền mua tiên cũng được", chính là nghĩa đó vậy.

Chẳng hạn như có người quan niệm rằng phải có nghề nghiệp chuyên môn, phải có công ăn việc làm vững chắc, mới có cuộc sống lý tưởng và cuộc sống mới có ý nghĩa. Tại sao vậy? Bởi vì có nghề nghiệp chuyên môn, con người mới có thể giúp ích cho bản thân và cho xã hội một cách hiệu quả hơn, một cách tích cực hơn.

Chẳng hạn như có người quan niệm là phải có gia đình hạnh phúc, mới có cuộc sống lý tưởng và cuộc sống mới có ý nghĩa. Tại sao vậy? Bởi vì dù có nhiều tiền, dù có nghề nghiệp chuyên môn, dù có việc làm vững chắc, nhưng gia đình không hạnh phúc thì cuộc sống không thể gọi là lý tưởng, không thể gọi là có ý nghĩa được. Thực là thiên hình vạn trạng, muôn hình muôn vẻ, mỗi người một ý, mười phân vẹn mười!

* * *
Trong phạm vi bài này, chúng ta thử bàn qua các quan niệm trên đây, nhất là nghiên cứu ý nghĩa của cuộc sống qua giáo lý của đạo Phật, đối với đời sống của người Phật tử tại gia bình thường.

Trước hết, chúng ta thử xét qua các quan niệm phổ thông về cuộc sống lý tưởng hay cuộc sống có ý nghĩa.

Thế nào là cuộc sống có ý nghĩa:

1) Sống lợi mình lợi người là cuộc sống có ý nghĩa.
2) Sống không ưu tư, không phiền não trong mọi hoàn cảnh là cuộc sống có ý nghĩa.
3) Sống trong tỉnh thức là cuộc sống có ý nghĩa.
4) Sống trong an lạc và hạnh phúc là cuộc sống có ý nghĩa.
5) Sống an trú trong hiện tại là cuộc sống có ý nghĩa.
6) Sống trong giác ngộ và giải thoát là cuộc sống có ý nghĩa.

Làm sao xây dựng cuộc sống có ý nghĩa:

Ðể có được một cuộc sống có ý nghĩa, chúng ta phải luôn luôn tỉnh thức, giữ tâm bình thường, thản nhiên, tự tại trong mọi hoàn cảnh, trong mọi tư thế, trong mọi hành động, trong mọi lời nói, trong mọi ý nghĩ.

Trong mọi hoàn cảnh, trong mọi tư thế, dù được hay mất, dù khen hay chê, dù thân hay thù, dù vui hay khổ, dù oan hay ưng, dù đúng hay sai, chúng ta phải luôn luôn tỉnh thức, vẫn giữ tâm bình thường, không xao động, không khởi niệm.

Khi đi, đứng, nằm, ngồi, chúng ta biết mình đang đi, đang đứng, đang nằm, đang ngồi.

Làm việc gì tập trung tinh thần vào việc đó, không xao lãng, không lo ra.

Ðược như vậy, chúng ta không gặp tai nạn nghề nghiệp, có thể làm xong công việc một cách tốt đẹp và chúng ta có một cuộc sống ý nghĩa.

Trong mọi hành động, chúng ta phải luôn luôn không nên làm tổn thương đến người và vật.

Trong mọi lời nói, chúng ta luôn luôn giữ gìn khẩu nghiệp, không nói những lời làm tổn thương đến mọi người, dùng lời nói chuyên chở tình thương, những khi cần thiết mang lại ánh sáng chân lý, giảng giải giáo lý cho mọi người được gội nhuần nước cam lồ tươi mát.

Trong mọi ý nghĩ, chúng ta phải luôn luôn giữ gìn chánh niệm, không theo các tạp niệm dong ruỗi bốn phương, không để tâm theo việc thương ghét thân thù, giữ tâm bình thường, bất tùy phân biệt, không kỳ thị, không thành kiến, luôn luôn chăn trâu kỹ lưỡng, không để trâu dẫm đạp lúa mạ của người.

Khi tâm tham khởi lên, khi tâm sân nổi lên, chúng ta phải tỉnh thức, biết ngay và buông bỏ, không theo.

Chúng ta không nên để các vọng tâm tham sân đó xúi giục làm điều xằng bậy.

Ðược như vậy chúng ta có cuộc sống ý nghĩa và lý tưởng, đồng thời mới có thể giúp mọi người chung quanh sống đời có ý nghĩa vậy.

Trong cuộc đời trên thế gian này, muốn cuộc sống có ý nghĩa, chúng ta nên thường xuyên quán chiếu rằng: mình đã để cho cuộc đời của mình trôi qua trong quên lãng đã bao nhiêu ngày tháng năm rồi?

Hãy thử lắng lòng nghiệm xét xem: mình đã làm gì cho đời mình, ngoài những việc làm kiếm tiền sinh sống và giải trí vui chơi?

CÂU CHUYỆN HAI NHÀ SƯ VÀ CÔ GÁI BÊN DÒNG SUỐI

Chúng ta cùng suy ngẫm câu chuyện sau đây:

Một hôm hai vị sư huynh đệ có việc cùng xuống núi.

Khi xong việc trở về đến bên một con suối, hai vị thấy một cô gái ăn mặc đàng hoàng, đang lúng túng chưa biết cách nào lội qua suối.

Sau khi hỏi qua cớ sự, vị sư đệ liền bồng cô gái đưa giùm qua suối.

Trên suốt quãng đường còn lại, vị sư huynh lầu bầu, cằn nhằn sư đệ đã đụng chạm cô gái, như vậy là phạm giới, đó là những việc không nên làm.

Vị sư đệ cứ bình thản bước đi, im lặng, không đối đáp.

Lúc về tới cổng chùa, vị sư huynh vẫn còn tiếp tục lãi nhãi, vì tưởng rằng sư đệ lặng yên, nghĩa là nhận tội đã làm.

Cho đến lúc đó, vị sư đệ mới thốt nên lời: Ðệ đã bỏ cô gái ấy lại bên bờ suối từ lâu rồi, tại sao huynh vẫn còn cõng cô ta về đến đây vậy?

Suy ngẫm qua câu chuyện này, chúng ta nghiệm xét hai điều:

1. Một là, người sống với chánh niệm thường im lặng, không tranh cãi, không thị phi, không đính chính, oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là nhân ngã chưa xả, lấy oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh.

2. Hai là, trong cuộc sống thường ngày, sau khi đi làm hay đi chơi, chúng ta cõng không biết bao nhiêu là nhân vật về nhà, có khi còn cõng luôn lên giường ngủ nữa là khác!

Bởi vậy cho nên, chúng ta chứa biết bao nhiêu là hình bóng người thương, kẻ thù trong kho tàng tâm thức của chúng ta.

Nhân dịp cuối năm, chúng ta thường dọn kho chứa đồ đạc cho sạch sẽ, luôn tiện hãy dọn dẹp kho tàng tâm thức cho trống trải.

Ðược vậy cuộc sống chúng ta sẽ bớt phiền não và khổ đau.

Từ đây, cuộc sống mới có ý nghĩa vậy.

Tỳ-khưu Thích Chân Tuệ     

Bạn hiền,

Hôm qua tôi ghé chơi nhà bạn. Vừa bước vào, tôi thấy ngay bạn đang ngồi một mình trầm tư bên chiếc ấm trà. "Chuyện gì mà bạn có vẻ lao tâm khổ tứ như triết gia gặp nạn thế?" Tôi oang oang hỏi, và chỉ nghe bạn lầu bầu: "Một năm lại qua..." Thế rồi bạn lại vui vẻ đứng lên đi pha ấm trà mới. Suốt hàng giờ sau đó, câu chuyện giữa chúng mình cứ nổ ran như pháo Tết. Toàn chuyện vui. Toàn chuyện văn chương thi phú. Hết bàn bạc câu lục bát của cụ Nguyễn Du: "Ngày Xuân con én đưa thoi / Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi", chúng mình lại tán nhảm quanh hai câu thơ của Hồ Xuân Hương: "Chơi Xuân ai biết Xuân chăng tá! Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không..." Rồi tuần trà qua nhanh, tiếp đến là tuần rượu, đêm đến hồi nào chẳng rõ. Lúc cả hai chúng mình đã ngà ngà và thấm mệt, thì đêm đã khuya, vậy là tôi phải chào từ giã.

Chuyện trò như thế thật vui, nhưng trên đường lái xe về, tôi lại bất giác nhớ vẻ mặt dàu dàu cùng câu nói vu vơ của bạn: "Một năm lại qua". Vâng, một năm nữa lại qua. Sao mà nhanh thế nhỉ? Một năm, rồi lại một năm. Mới hôm nào chúng mình cùng hồi hộp xuống thuyền tìm đường ra xứ người - ký ức tôi về ngày ấy còn tươi rói - mà hôm nay nghĩ lại, thấy giật mình. Gần ba mươi năm rồi! Ta đã làm được những gì trong gần ba mươi năm qua nhỉ? Một nháy mắt đã gần ba mươi năm. Một nháy mắt nữa... Nhưng liệu ta có sống hết một cái nháy mắt nữa chăng!

Nghĩ như thế, tôi mới hiểu tại sao bạn lại ngồi một mình trầm tư bên chiếc ấm trà trong một chiều cuối năm.

Bạn nói sao? Bạn cho rằng chỉ có người Á Đông như ta thì mới hay nghĩ về cái chóng vánh của đời người? Không phải thế, bạn hiền ơi. Đến một tuổi nào đó, hay ở một tâm trạng nào đó, con người khắp nơi trên trái đất đều nghĩ như nhau về cái chóng vánh ấy. Ngày xưa, các nghệ sĩ sáng tạo ở châu Âu đã thấy đời người quá ngắn, chẳng kịp có thì giờ cho nghệ thuật. Họ than: "Ars longa, vita brevis". Nghệ thuật thì dài lâu, mà đời người ngắn ngủi! Bạn không nhớ sao?

Gần đây, tình cờ đọc được một truyện ngắn của Franz Kafka, tôi giật mình thấy đời người ngắn đến mức tưởng nói ngoa chơi. Này nhé, truyện ấy rất ngắn, có nhan đề là "Das nachste Dorf" (Làng bên):

Ông nội tôi thường nói: "Đời người ngắn đến sửng sốt. Nhìn lại, tôi thấy đời người dường như bị rút ngắn đến mức khó hiểu nổi, thử lấy ví dụ, làm thế nào một chàng trai trẻ có thể quyết định cưỡi ngựa qua làng bên mà không sợ rằng - chưa kể đến những tai nạn - ngay cả một đời người may mắn bình thường có lẽ cũng quá thiếu thời gian cho cuộc đi đó."

Không biết ông nội của Kafka đã thật có nói như thế, hay đó chỉ là hư cấu của Kafka, nhưng ý tưởng rằng đời người ngắn đến mức không đủ thời gian để cưỡi ngựa qua làng bên là một ý tưởng hết sức độc đáo. Tất nhiên người nói lên ý tưởng đó đã cố tình nói quá trớn để ghi khắc vào người nghe một ý nghĩ tưởng như đã quá nhàm: "đời người rất ngắn". Sự độc đáo nằm ở chỗ chính lối nói quá trớn như thế làm cho cái ý nghĩ quá nhàm kia không còn nhàm nữa. Nghe xong, hình ảnh con ngựa phóng nhanh qua làng bên không kịp cho thời gian một đời người làm ta giật mình thảng thốt. Ta nghĩ đi, nghĩ lại, để thấy rõ hơn cái sự thật đàng sau một câu nói nhàm tai: "đời người ngắn ngủi".

Vâng, đời người ngắn ngủi, nhưng ngồi thừ ra như thế trong một chiều cuối năm có làm đời người bớt ngắn hơn chăng? Tôi không trêu chọc bạn đâu. Tôi nói thật đấy. Và tôi khen bạn đấy. Bạn ứng xử y như Lý Bạch. Thay vì cứ ngồi thừ ra như thế, khi thấy tôi bước vào nhà, bạn đã chỉ lẩm bẩm một câu vu vơ, rồi đứng dậy đi pha trà, rót rượu, vồn vã nói cười ngay. Chắc bạn còn nhớ bài "Xuân nhật túy khởi ngôn chí" của Lý Bạch chứ?

Xử thế nhược đại mộng
Hồ vi lao kỳ sinh?
Sở dĩ chung nhật túy,
Đồi nhiên ngoạ tiền doanh.

Giác lai miện đình tiền
Nhất điểu gian hoa minh
Tá vấn thử hà nhật
Xuân phong ngữ lưu oanh

Cảm chi dục thán tức
Đối tửu hoàn tự khuynh
Hạo ca đãi minh nguyệt
Khúc tận dĩ vong tình.

Xin tạm dịch nghĩa:

"Ngày Xuân say rượu, tỉnh dậy nói chí mình"

Đời người chẳng qua là giấc mộng lớn, vậy thì sao phải sống nhọc nhằn khổ sở? Suốt ngày cứ say sưa, ngã nghiêng ngã ngửa ngoài hiên. Khi tỉnh dậy thấy trước nhà có một con chim đang hót trong hoa. Hỏi thử ngày này là ngày gì mà chim oanh líu lo chào gió Xuân? Trong lòng có cảm xúc muốn thốt lời thở than, bèn cùng uống rượu say chếnh choáng, rồi hát nghêu ngao chờ trăng sáng. Hát hết khúc ca, khối u tình cũng đã nguôi ngoai.

Bạn hiền ơi, bạn thấy thế nào? Lý Bạch nói hay đấy chứ?

Một năm nữa lại trôi qua thật nhanh, hay ba mươi năm nữa trôi qua thật nhanh, thì cũng thế thôi. Đã biết đời người ngắn ngủi, thì đừng tần ngần ủ rũ làm gì cho phí thì giờ. Trong lúc bạn ngồi thừ ra bên chén trà trong buổi chiều Xuân, một trăm người đã phóng ngựa qua làng bên và đã trở về. Khoảng thì giờ ấy dài bằng biết bao nhiêu đời người đấy chứ! Thôi, ta hãy mở chai rượu này và cụng ly.

Thêm một năm nữa đã trôi qua. Mặc kệ...

Leo Tolstoy
Chỉ có 2 cách để sống: hoặc không bao giờ nghĩ đến cái chết… hoặc sống và luôn nghĩ rằng cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào.

Bạn càng bất mãn với mọi người, với hoàn cảnh và càng tự mãn bao nhiêu, thì bạn càng rời xa tri thức bấy nhiêu.

Đừng so sánh bản thân với những người chung quanh. Hãy so sánh bản thân với sự hoàn mỹ.

Việc ta đang ở đâu không quan trọng, quan trọng là ta sắp đi về đâu.

Khi bạn muốn hết phẫn nộ, đừng di chuyển, đừng cử động, đừng nói gì cả. Không có gì biện minh cho cảm giác phẫn nộ. Lý do nằm trong chính con người bạn.

Chỉ mở miệng khi lời nói ra tốt hơn sự im lặng. Sẽ có lúc bạn lấy làm tiếc vì điều không nói ra, nhưng bạn sẽ còn hối hận gấp trăm lần khi không im lặng đúng lúc.

Có 2 cách để không phải chịu cảnh nghèo khó. Thứ nhất là phải cố để giàu sang. Thứ hai là cắt giảm nhu cầu. Cái thứ nhất thì không phải lúc nào ta cũng làm được. Cái thứ hai thì có thể.

Bạn không có quyền chán ghét cuộc sống này. Nếu bạn không thỏa mãn, hãy xem đó là lý do để không bằng lòng với chính bản thân mình.

Bạn càng đánh giá bản thân hà khắc và tàn nhẫn bao nhiêu, bạn sẽ càng rộng lượng và tử tế khi đánh giá những người xung quanh.

Mưu cầu chân thiện mỹ nhưng đừng bao giờ mơ mình sẽ thành công nhanh chóng hoặc đáng kể. Bởi bạn càng dấn sâu vào quá trình đó, chuẩn mực của bạn càng cao. Nhưng chính quá trình mưu cầu cuộc sống tốt đẹp ấy cũng đã đáng để ta sống rồi.

Trích sách "Trên Cả Giàu Có"

Hỏi: Kính bạch Thầy, người tu giải thoát trong kiếp này thì về đâu thưa Thầy? Vì Thầy nói là không có cả cảnh giới Niết bàn, vậy nơi đó gọi là gì?
Câu hỏi của cháu Dũng

Đáp: Thầy đã xác định không có cảnh giới Niết Bàn mà có trạng thái Niết Bàn, trạng thái Niết Bàn như đức Phật đã dạy trong kinh Tứ Diệu Đế, nó được gọi là “Diệt Đế”. “Diệt Đế” là một trạng thái lìa xa và đoạn dứt tâm ái dục và các ác pháp. Khi người tu hành xong thì lúc nào họ cũng ở trong trạng thái đó, như đức Phật thường dạy ở trong trạng thái đó là nhập vào Bất Động Tâm Định. Nhập vào Bất Động Tâm Định là nhập vào Niết Bàn. Niết Bàn là một trạng thái thanh thản, an lạc và vô sự của thân tâm, dù cho bất cứ các cảm thọ hay các ác pháp nào đến cũng không làm cho họ dao động tâm được.

Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật xác định Niết Bàn: “Này Bà La Môn, khi vị ấy cảm thọ tham ái được đoạn tận, không có dư tàn, cảm thọ sân đoạn tận không có dư tàn, cảm thọ si được đoạn tận không có dư tàn. Như vậy này Bà La Môn Niết Bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí giác hiểu”. (Tăng Chi tập 1 trang 285).

Như vậy Niết Bàn không phải là một cảnh giới mà là một trạng thái của tâm không còn tham, sân, si nữa phải không quý vị?

Cho nên Niết Bàn là một trạng thái của tâm mình, khi người tu chứng có về đâu? Ngay chỗ trạng thái tâm hết tham, sân, si, mạn, nghi là chỗ về. Chỗ trạng thái tâm hết tham, sân, si, mạn, nghi là Niết Bàn, chứ đâu có cảnh giới Niết Bàn để về. Khi tu xong tâm không còn tham, sân, si nữa, thì chỗ tâm không còn tham, sân, si, mạn, nghi chính là Niết Bàn, chứ không còn chỗ nào khác gọi là Niết Bàn như trên đã nói. Còn có chỗ nào khác gọi là Niết Bàn thì chỗ ấy là cõi tưởng, cõi không có thật.

Niết Bàn cũng như một bàn tay có mặt và trái, trái là tham, sân, si, mạn nghi; mặt là không tham, sân, si, mạn, nghi. Vậy trái và mặt của một bàn tay có phải là một bàn tay hay là hai bàn tay? Chỉ có một bàn tay mà thôi, nhưng mặt trái của bàn tay thì không giống mặt phải của bàn tay. Mặt trái là sự khổ đau, mặt phải là sự hết khổ đau. Do đó chúng ta suy ra Niết Bàn không phải là một cảnh giới mà là một trạng thái của tâm mình không còn tham, sân, si, mạn nghi nữa.

Niết Bàn là một danh từ để chỉ cho một trạng thái của tâm, chứ không phải Niết Bàn là một cảnh giới theo kiểu của các nhà dựa theo kinh sách phát triển giàu tưởng tượng bịa đặt ra để lừa đảo con người.

Vì thế người tu chứng đạo khi bỏ thân tứ đại này thì không có về cõi Niết Bàn mà họ đang ở trong Niết Bàn, vì ngay khi còn sống họ tu chứng thì luôn luôn sống trong trạng thái Niết Bàn của tâm họ, mà ở trên Thầy đã dạy: “Bất Động Tâm Định”.

Nếu chúng ta không gọi nó là Niết bàn mà gọi nó là “TÂM KHÔNG THAM, SÂN, SI, MẠN, NGHI” hay gọi cách khác nữa là “TÂM THANH THẢN, AN LẠC VÀ VÔ SỰ” hay gọi khác nữa là “DIỆT ĐẾ” như trong kinh TỨ DIỆU ĐẾ hay gọi là “ĐẠO ĐỨC NHÂN BẢN – NHÂN QUẢ SỐNG KHÔNG LÀM KHỔ MÌNH KHỔ NGƯỜI VÀ KHỔ CẢ HAI” thì có gì là khác đâu.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc

Khi biết linh hồn không có thì những tục lệ thờ cúng từ xưa đến nay sẽ phải làm như thế nào để đúng với phong tục thờ cúng tổ tiên ông bà, cha mẹ v.v…mà không trở thành mê tín, dị đoan, lạc hậu?

Đạo thờ cúng tổ tiên ông bà là một đạo đức của dân tộc Việt Nam. Một đạo đức ân nghĩa sâu dày luôn tỏ lòng biết ơn “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn”. Thế mà từ lâu chỉ vì ông bà chúng ta từ xa xưa đã lầm lạc tưởng là có sự sống sau khi chết. Cho nên mới có sự cúng tế cầu an, cầu siêu, mới có làm tuần, làm tự, mới có mở cửa mã, đốt tiền vàng mã, kho đụng quần áo bằng giấy cho người chết. Và vì thế, ngày tư ngày tết mới có đưa ông táo rước ông bà v.v Cho nên đạo thờ cúng tổ tiên, ông bà để tỏ lòng biết ơn đã biến trở thành đạo thờ cúng mê tín, dị đoan.

Khi thờ cúng mê tín dị đoan như vậy trong tinh thần của mọi người đều dựng lên một thế giới có linh hồn người chết. Vì thế, đến ngày giỗ, ngày Tết, ngày lễ thì làm mâm cao cỗ đầy để cúng tế những linh hồn người chết mà họ tin tưởng rằng những linh hồn người chết này sẽ về thọ hưởng những thực phẩm của chúng ta dâng cúng. Đó là một việc làm mà người xưa thiếu cân nhắc suy tư. Chỉ biết tin theo “xưa bày nay làm” không cần phải đắn đo suy nghĩ thiệt hơn, đúng hay sai nên người ta mù quáng đã trở thành những người mê tín. Đâu phải những gì của người xưa làm là đều đúng hết cả. Không có linh hồn mà nghĩ có linh hồn nên mới bày ra cúng kiến. Nếu linh hồn thật sự ăn uống thì những linh hồn ông bà cha mẹ của chúng ta đã chết đói từ lâu, vì mỗi năm con cháu chỉ cúng bái tế lễ có một hoặc hai lần trong năm thì còn những ngày khác linh hồn lấy cái gì mà ăn? Quý phật tử cứ suy ngẫm có đúng không?

Bởi có những phong tục tập quán lạc hậu và mê tín mà mọi người không chịu bỏ nên đành phải tốn hao một số tiền rất lớn về việc ma chay, tuần tự, cầu siêu, cầu an, đốt giấy tiền vàng mã một cách nhảm nhí vô ích. Như quý vị đều biết con người cũng là một loài động vật như bao nhiêu loài động vật khác, nhưng con người là một loài động vật cao cấp nên sự hiểu biết phát triển của con người lần lần tách ra khỏi loài động vật. Nhờ tách ra khỏi loài động vật nên con người không còn sống đời sống hoang dã như các loài động vật khác. Sự tiến hóa từ cơ thể đến tinh thần của con người hôm nay chúng ta thấy rõ rệt. Con người có nhiều tiến bộ về mọi mặt. Chúng ta cứ thử đem so sánh người xưa với người nay từ cách thức ăn uống, cho đến cách thức ăn mặc và cuối cùng là ngôn ngữ. Loài người đã tiến bộ mà không có một loài thú vật nào trên hành tinh này sánh kịp. Vậy sao con người lại đi vào mê tín dị đoan?

Từ chỗ mê mờ chúng ta hiểu sai lầm con người có linh hồn, bây giờ chúng ta lại hiểu biết linh hồn không có. Cho nên cách thức lễ bái cúng kiến là để tượng trưng lòng biết ơn sâu xa của chúng ta đối với những người đã khuất chứ không phải cúng cho những linh hồn những thực phẩm về ăn uống. Sự cúng bái là để tỏ lòng biết ơn; là để kỷ niệm nhớ lại ngày mất mát to lớn trong kiếp làm người của chúng ta. Cho nên chúng ta chọn lấy ngày mất mát đó làm một ngày kỷ niệm để con cháu đoàn tụ và cũng để nhắc nhở cho con cháu nhớ đến công ơn tổ tiên ông bà cha mẹ đã dày công để lại cho con cháu một sự sống có ý nghĩa.

Đứng trước những phong tục tập quán mê tín, dị đoan, lạc hậu chúng ta phải mạnh mẽ gạt bỏ đừng sợ những dư luận theo lối mòn của người xưa lên án như thế này, như thế khác. Đó là những người quá thủ cựu nhằm để bảo vệ những phong tục văn hóa hủ lậu, mê tín, lạc hậu. Mục đích của chúng ta là gạt bỏ những phong tục mù quán, mê tín, lạc hậu là vì những văn hóa mê tín, lạc hậu đó thường làm hao tiền, tốn công, tốn của mọi người mà chẳng có ích lợi gì thiết thực.

Chúng ta gạt bỏ những phong tục văn hóa mê tín, lạc hậu nhằm để xây lại một nền văn hóa có ý nghĩa đạo đức làm người. Vì làm người luôn luôn phải giữ gìn ân nghĩa trọn vẹn của nền đạo đức dân tộc Việt Nam “ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn”, mà không bị ảnh hưởng mê tín, lạc hậu v.v

Trưởng Lão Thích Thông Lạc

Thưa các đồng chí và các bạn! Hôm nay, trong không khí phấn khởi tự hào chào mừng ngày nói dối toàn thế giới, tôi xin gửi tới các đồng chí và các bạn lời chúc mừng nồng nhiệt nhất, thân thương nhất.

Thưa các đồng chí và các bạn. Trải qua một chặng đường đấu tranh gian khổ với BÈ LŨ NÓI THẬT, chúng ta đã thu được nhiều thắng lợi to lớn. Nhờ có NÓI DỐI mà vợ không làm gì được chồng, cấp dưới không làm gì được cấp trên, phụ huynh không làm gì được cô thầy, bố mẹ không làm gì được con cái. Và ngược lại.

Nhờ có NÓI DỐI chúng ta có được hàng ngàn dự án bánh vẽ, giải thưởng ma, tiến sĩ giấy, công trình dổm. Nhờ có nói dối mà nhân dân tin tưởng, bạn bè quốc tế nể trọng, cho vay càng nhiều đòi nợ ngày càng khó. Thử hỏi cú nói THẬT làm THẬT thì chúng ta làm gì có bao nhiêu thắng lợi rực rỡ, bao nhiêu thành công lớn lao, bao nhiêu công trình vĩ đại. Và lấy đâu ra sự đồng thuận hả các đồng chí, lấy đâu ra?

Có người nói muốn giàu có, vững mạnh cần phải nói THẬT, sai, nếu nói thật thì làm sao có ổn định, không ổn định làm sao nói đến giàu có vững mạnh? Nói dối là để chứng minh chính sự thật là dối trá, là ác ý, là vô cùng nham hiểm. Chúng ta cần phải kiên quyết bài trừ sự thật bởi vì chỉ có sự thật mới cản trở con đường tiến lên thế giới ĐỒ ĐỒNG. (Không phải thế giới đại đồng, các đồng chí phiên dịch sai, đại đồng là cái đinh gỉ gì, nó chính là thế giới đồ đồng ).

Gần đây có nhà thơ nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo hô hào cần có một ngày nói thật, sai. Đồng chí Tạo không nắm được thông tin, không hiểu được tình hình đất nước nên đã phát ngôn bừa bãi.

Nếu đồng chí Tạo không nói dối làm sao quần chúng say mê nhạc đồng chí được. Đồng chí Tạo viết: quá nửa đời phiêu bạt, ta lại về úp mặt vào sông quê, sai, đồng chí Tạo lười tắm, úp mặt vào sông quê bao giờ. Nhưng nói dối thế mới hay, mới sáng tạo. Nếu đồng chí Tạo nói đồng chí úp mặt vào cái ấy thì có hay nữa không, quần chúng còn say mê đồng chí nữa không.

Cho nên không nên nghe bè lũ Nói Thật lung lạc mà đề xuất linh tinh. Một phút nói thật cũng không, nói thật thì lợi hay hại... lợi hay hại hả các đồng chí. Vì thế, tôi đánh giá rất cao lực lượng đánh máy nhà nước. Các đồng chí đã chịu thương chịu khó, đồng cam cộng khổ, trên dưới một lòng, đứng mũi chịu sào đưa nói dối nước nhà đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Từ nay cậu đánh máy là biểu tượng hào hùng đầy sức sáng tạo của nói dối nước nhà, đưa nói dối nước nhà lên một tầm cao mới.

Thưa các đồng chí và các bạn. Chúng ta không thể tồn tại nếu chúng ta không được nói dối, không biết nói dối. Nhân ngày lễ trọng đại này, tôi kêu gọi các đồng chí hãy phát huy tinh thần tiến công, chủ động sáng tạo, đánh bại mọi âm mưu thâm độc của bè lũ Nói Thật, đánh bại từng bước, đánh đổ từng bộ phận, tiến lên dành thắng lợi hoàn toàn.

Láu hơn nữa, trơ hơn nữa, lì lợm hơn nữa đó là khẩu hiệu Nói Dối của chúng ta.

Chúc các đồng chí sức khỏe và an tâm sống chung với lũ.

Sự gần gũi, yêu thương đã gắn kết những con tim, gắn kết tình ruột thịt, máu mủ. Nhân tính – cái phân biệt giữa Người và Động vật đã hình thành từ những sinh linh bé bỏng đến người trưởng thành.

Nhân tính được hình thành nhờ chính Con Người và cũng sẽ mất đi khi Con Người bỏ rơi và lãng quên nó.

Có biết bao con người có tấm lòng cao cả được ca ngợi ghi vào sách (như cuốn Những Tấm lòng cao cả của nhà văn Edmondo De Amisis). Có những chế định nhân đạo được ghi vào luật pháp quốc tế như, cuộc chiến xảy ra giữa các quốc gia, khi đối phương đã đầu hàng thì chấm dứt chém giết, trả thù.

Rồi khi gặp khó khăn, hoạn nạn con người sẵn lòng chia sẻ, giúp đỡ nhau, từ những con người riêng lẻ đến các cộng đồng, quốc gia…

Ở Việt nam, vào năm 1945, nạn đói hoành hành khắp nơi, nhường cơm sẻ áo cho nhau là truyền thống của người Việt. Có người chia đôi bắt cơm cuối cùng cho bạn, để rồi cả hai cùng chết đói vì không còn gì để ăn nữa. Biết bao người dân ở thành phố đã nấu cháo chia cho người đói, lấy thóc gạo của mình phát chẩn cho người đói trong khi họ cũng đang thiếu, đói…

Trong cuộc sống, biết bao tình huống xảy ra đã khiến cho ta phải ngạc nhiên bởi tấm lòng bao dung của con người đối với con người, ngay khi họ đem lại đau khổ cho ta. Trong Đặc san Đang yêu của báo Phụ nữ Thủ đô số 41, ngày 26/11/2013 đã có một bài viết “Lòng bao dung kỳ diệu của bố mẹ vợ vun vén hạnh phúc cho người con rể đổ xăng đốt chết vợ ”(tác giả Thành Sen). Do hiểu lầm bố mẹ vợ không cho mình ở chung nhà, người con rể Bùi Quang Thanh đổ xăng định đốt số thóc mà bố mẹ vợ khuyên nên đem về nhà, khi vợ con ngăn cản, vợ chồng giằng co, anh ta tưới xăng để đốt thóc, xăng rưới lên cả vợ con anh ta. Anh ta châm lửa đốt, cả bố mẹ và đứa con bốc cháy may, hai bố con nhảy xuống ao thoát bỏng, còn chị vợ luống cuống bị bỏng nặng và đã tử vong. Thanh bị bắt và bị khởi tố về tội “vô ý làm chết người”. Bà Nguyễn Thị Lương mẹ đẻ của nạn nhân đã nói: “Hương là đứa con gái duy nhất của gia đình tôi, mất nó vợ chồng tôi đau đớn lắm. Nhưng ngày thường Thanh là người chồng rất mực yêu thương vợ con, có hiếu với bố mẹ vợ. Nghĩ đến cảnh hai đứa cháu đã mất mẹ nay sắp vắng cha, chúng tôi cầm lòng không đặng nên đã thứ tha cho Thanh, để nó có cơ hội làm lại cuộc đời”.

Hai ông bà đã xin giảm án cho con rể, tòa tuyên án Thanh 36 tháng tù giam và hưởng án treo. Sau này Thanh đã coi gia đình ông bà như nhà bố mẹ đẻ của mình . Khi có vợ mới, cả hai vợ chồng Thanh đều chăm sóc ông bà rất tình nghĩa. Chính nhờ lòng nhân, sự bao dung của cha mẹ vợ mà Thanh đã vượt qua được những khó khăn của cuộc sống. Chính lòng Nhân đã sinh ra lòng Nhân.

Lòng tốt vẫn ngự trị, nhiều người nghèo nhặt được số tiền rất lớn vẫn trao cho người mất mà không lấy tiền tạ ơn của họ…

Bên cạnh những hành vi cao cả, đầy tính Nhân văn thì tình trạng phi nhân tính lại cũng song hành, nảy sinh khiến cho người ta lo ngại. Những vụ cướp giật trên đường phố Sài Gòn, những vụ cha giết con, vợ giết chồng, chồng giết vợ, con rể giết mẹ vợ, cháu giết bà nội,  những vụ cưỡng hiếp loạn luân, hiện tượng ấu dâm, rồi việc bác sĩ thẩm mỹ làm chết người, vứt xác phi tang, vụ Án oan 10 năm tại tỉnh Bắc Giang, ông Nguyễn Thanh Chấn, người bị án oan phải ngồi tù 10 năm bởi sự vô cảm của những người điều tra vụ án… đang làm nhức nhối lương tâm con người.

Trước đây, khi dân lâm vào nạn đói năm 1945, hiện tượng phi nhân tính xuất hiện, người ta giành giật, cắn xé nhau vì miếng ăn để sinh tồn. Bài viết của Quang Thiện (báo Tuổi trẻ) ghi lại cảnh này qua lời kể của một nhân chứng như sau:

- Con trai bà Chén năm nay cũng đã ngoài 60 tuổi. Anh nói: “Những câu chuyện cướp bóc, thú tính trong nạn đói, 60 năm qua mẹ tôi không bao giờ muốn nhắc lại. Chỉ có một lần bà kể cho tôi nghe một câu chuyện kinh hoàng: khi bế con đi Hà Nội, qua sông Long Hầu bà thấy có hai bố con nhà nọ đói lả, phù thũng, chắc là sắp đến lúc chết. Người con chừng 7-10 tuổi.

Không hiểu lúc ấy họ kiếm được thứ gì, chắc là có thể ăn được nên hai người tranh nhau rất dữ. Đứa con co cả người nắm chặt tay bố. Hồi lâu đẩy con ra không được, người cha liền co chân đạp con xuống cầu. Đứa trẻ cố níu lấy thành cầu, hai mắt không rời miếng ăn trên tay bố. Người cha lúc ấy kiên quyết hơn và ông ta đã đạp được đứa con rơi xuống nước rồi ngấu nghiến nhét thứ đó vào mồm...”.

Đó là khi đói, bản năng sinh vật đã cướp đi nhân tính, những chuyện khủng khiếp về phi nhân tính, tàn ác sẽ ám ảnh ta suốt đời.

Nghĩ suy về bạo lực và nhân tính thời nay mới thấy Con Người chỉ thực sự là Người khi hội đủ Ngũ luân (Nhân- lễ- nghĩa- trí - tín), trong đó chữ Nhân đứng đầu. Tình yêu thương, lòng nhân ái, bao dung là đức tính tốt đẹp nhất mà Con Người có để phân biệt Người và động vật. Nếu con người không có nhân tính thì trái đất chỉ còn chết chóc, hận thù, con người giày xéo lên nhau, chém giết lẫn nhau để giành giật, từ miếng ăn cho đến Danh và Lợi. Thật khủng khiếp khi nhân tính bị cầm tù và đọa đầy. Vẫn biết Ngũ luân là điều con Người muốn hướng tới, nhưng khó lắm, bởi vì Tham- Sân- Si muôn đời tồn tại trong mỗi con người. Nếu luật pháp nghiêm minh sẽ hạn chế được những bản năng này. Nhưng, khi cán cân công lý mất phương hướng thì xã hội ắt đảo điên và con người bị cuốn vào sự giành giật không giới hạn.

Hiện nay, tại Việt Nam có khá nhiều người tích lũy vốn bằng mọi cách như, kinh doanh theo cách lừa đảo, chụp giật, có vay mà không có trả, hối lộ, tham nhũng… Những hành vi gian dối, tàn bạo, phi nhân tính lan đến cả những người làm việc trong tổ chức công quyền. Cách tích lũy này khiến cho con Người đang vô cảm với đồng loại. Việc thực thi pháp luật cũng có nhiều điều chưa ổn khiến cho xã hội có những biến động đáng ngại, tác động xấu đến người dân.

Ở các nước phát triển đã trải qua giai đoạn tích lũy tư bản bằng mọi giá đưa tới, hậu quả là: đánh mất dần các giá trị nhân văn, con người bị tha hóa, xã hội bất ổn. Vì vậy họ đã điều chỉnh, định hướng, chọn văn hóa đích thực, “Vì con người” để cứu cánh cho sự tha hóa Nhân tính. Chăm lo đến con người, quí trọng con người, coi con người là động lực của sự phát triển, để từ đó phát huy năng lực của con người. Khi được trân trọng, con người sẽ thực sự là chủ nhân, giữ xã hội ổn định, vươn lên.

Con Người là mối tổng hòa các mối quan hệ xã hội, nếu chiến lược “Vì con người” thành công trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…thì Nhân tính sẽ được chăm sóc và nẩy nở, đầy lùi các hiện tượng phi nhân tính, Con Người thực sự là Người./.

Trong chúng ta, không ai thích nghèo, vì nghèo là khổ. Và trong chúng ta ai cũng thích giàu có, vì ta nghĩ giàu có là sung sướng, không khổ đau.

Ta nghĩ như vậy là lầm, người giàu có tài sản, họ cũng có nhiều lo lắng và khổ đau của họ. Họ sợ của cải bị tiêu mất; họ sợ người khác đến vay mượn, họ sợ bị nhà nước tịch thu bất cứ lúc nào; họ sợ chồng con hay vợ con phá tán; họ sợ thiên tai, hỏa hoạn làm tiêu tan tài sản của họ; họ sợ những kẻ trộm cắp đột nhập; họ sợ nguy hiểm đến tính mạng; họ sợ bệnh hoạn và chết sớm; họ sợ không có người thừa kế xứng đáng,...

Như vậy, trong thực tế người nghèo có sự lo lắng và khổ đau do từ cái nghèo của họ đem lại; và người giàu cũng có những lo lắng, sợ hãi và khổ đau do từ cái giàu có vật chất của họ đưa đến.

Và cũng vậy, các nước giàu có dầu hỏa trên thế giới, bị các nước giàu vũ trang dòm ngó, tạo ra những tranh chấp liên miên, khiến cho những quốc gia ấy, chẳng có gì an ổn và người dân của những quốc gia giàu có dầu hỏa ấy, chẳng có hạnh phúc và an ổn chút nào.

Như vậy, thì ta ưa cái gì? Ta không ưa nghèo vật chất mà cũng không ưa giàu có nó. Ta chỉ thích nghèo tai họa và giàu có phước đức.

Giàu có phước đức ta ở vào trạng huống nào cũng an ổn, hạnh phúc. Và nếu ta nghèo phước đức mà lắm tiền của và quyền lực là một thảm họa cho ta, cho gia đình ta và cho đất nước của ta.

Và phước đức thì không bao giờ phát sinh từ nơi tấm lòng ích kỷ của ta. Phước đức đến với ta từ nơi tấm lòng chung thủy, khiêm tốn, nhân ái và vô ngã của ta đối với mọi người và mọi loài.

Người có phước đức thì không cần sử dụng vũ lực và không cần vũ lực bảo vệ mà phước đức tự bảo vệ họ.

Vậy, ta ưa gì...?

Nguồn: phatviet.com

Thế nào là lý DUYÊN SINH PHÁP? Chúng ta hãy lắng nghe đức Phật dạy: “Già chết là pháp hữu vi, là vô thường, duyên sanh biến hoại tánh, biến diệt tánh, ly tham tánh, đoạn diệt tánh. Và tất cả 12 nhân duyên đều là như vậy.

Này các tỳ kheo, vị Thánh đệ tử thấy như chơn với chánh trí tuệ lý duyên khởi này và các pháp duyên sinh này nên chắc các vị ấy không có những câu hỏi về quá khứ, Ta có mặt trong quá khứ? Ta không có mặt trong quá khứ? Ta có mặt như thế nào trong quá khứ? Ta là gì trong quá khứ? Ta có mặt như thế nào trong quá khứ? Trước ta là gì? Và nay trong quá khứ ta là gì?

Về tương lai cũng vậy, không có những câu hỏi, ta có mặt trong tương lai? Ta không có mặt trong tương lai? Ta sẽ làm gì trong tương lai? Ta có mặt như thế nào trong tương lai? Hay trước trong tương lai ta là gì, và nay trong tương lai ta sẽ là gì?

Hay nay các vị ấy sẻ khởi lên những nghi ngờ về tự mình trong hiện tại như sau: Ta hiện có mặt? Ta hiện không có mặt? Ta hiện là gì? Ta hiện có mặt như thế nào? Sự kiện như vậy không xảy ra? Vì sao? Vì rằng vị thánh đệ tử, này các tỳ kheo đã khéo thấy như chơn với chánh trí tuệ, định lý duyên khởi này với các pháp DUYÊN SINH này thì không bao giờ có những câu hỏi ngớ ngẩn như trên, không bao giờ có những câu hỏi điên đảo như trên”. (53 Tương Ưng tập 2)

Khi đã hiểu lý DUYÊN KHỞI với các pháp DUYÊN SINH thì chúng ta không còn nghi ngờ đặt ra những câu hỏi ngớ ngẩn mà từ xưa đến nay người ta đã đặt ra những câu hỏi mà không có câu trả lời: “Con người từ đâu sinh ra? Chết đi về đâu?”

Câu hỏi được đặt ra với những người thông suốt 12 NHÂN DUYÊN đều biết ngay họ là những người đang sống trong VÔ MINH.

Bởi con người có mặt trong cuộc sống hôm nay là do 12 nhân duyên hợp khởi, chứ không có kiếp người trong quá khứ cho nên nếu chúng ta hỏi: “Ta có mặt trong quá khứ? Ta không có mặt trong quá khứ? Ta có mặt như thế nào trong quá khứ? Ta là gì trong quá khứ? Ta có mặt như thế nào trong quá khứ? Trước ta là gì? Và nay trong quá khứ ta là gì?” Vì hỏi như vậy tức là không hiểu 12 nhân duyên.

Khi hiểu 12 nhân duyên thì trong quá khứ chúng ta chẳng có gì cả tức là không có đời trước. Cho nên nói có đời trước là người không hiểu 12 nhân duyên. Đời trước tôi là Khổng Minh Gia Các Lượng, đời sau tôi là Trương Lương. Đó là những người sống trong TƯỞNG TRI chứ không phảisống trong LIỄU TRI.

Khi ngộ được 12 nhân duyên thì không có kiếp trước mà chỉ có kiếp hiện tại mà thôi.

Khi ngộ 12 nhân duyên thì chúng ta không có những câu hỏi: “Ta có mặt trong tương lai? Ta không có mặt trong tương lai? Ta sẽ làm gì trong tương lai? Ta có mặt như thế nào trong tương lai? Hay trước trong tương lai ta là gì, và nay trong tương lai ta sẽ là gì?”, có những câu hỏi như vậy là chúng ta trở thành những người ngớ ngẩn chưa hiểu 12 nhân duyên. Vì 12 nhân duyên xác định con người chỉ do 12 nhân duyên hợp lại mà thành trong kiếp hiện tại. Cho nên trong tương lai chúng ta chẳng có gì cả.

Trong hiện tại chúng ta có mặt, có cuộc sống như thế này mà 12 nhân duyên hỏi rằng: “Ta hiện có mặt? Ta hiện không có mặt? Ta hiện là gì? Ta hiện có mặt như thế nào?”, hỏi như vậy là những người chưa am tường 12 nhân duyên. Vì 12 nhân duyên đã xác định chúng ta mặt trong hiện tại là do các duyên hợp lại mà thành chớ có cái là chúng ta cả. Cho nên nếu không có 12 nhân duyên hợp lại thì không có con người trên hành tinh này. Như vậy con người có mặt trên hành tinh này chỉ là con người duyên hợp, chớ con người thật là con người thì không bao giờ có. Đó là đôi mắt nhìn của đức Phật qua 12 nhân duyên, còn chúng ta nhìn với đôi mắt VÔ MINH nên có con người thật trong hiện tại, quá khứ và vị lai.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc

Khẳng định những thành tựu của khoa học - công nghệ không chỉ đóng vai trò là nền tảng, là động lực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mà còn có tác động nhất định đến tiến bộ xã hội và đặc biệt là đến sự phát triển nhân cách đạo đức của con người, trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra và phân tích tác động của chúng, cả theo hướng tích cực lẫn tiêu cực, đến lĩnh vực đạo đức, cả trên bình diện xã hội lẫn bình diện cá nhân.

Ngày nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang là quá trình mang tính toàn cầu. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá chính là việc áp dụng những  thành tựu khoa học - công nghệ để đổi mới về căn bản và nâng cao toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của xã hội, từ kinh tế đến chính trị, văn hoá,… Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII của Đảng đã xác định: “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải bằng và dựa vào khoa học và công nghệ”, “khoa học - công nghệ phải trở thành nền tảng và động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá”[1]

Tuy nhiên, khi đóng vai trò là nền tảng và động lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, những thành tựu của khoa học - công nghệ vẫn có thể gây ra những tác động tiêu cực nhất định đến tiến bộ xã hội và đặc biệt là đến sự phát triển nhân cách đạo đức con người. Ngay từ thế kỷ XIX, C.Mác đã cảnh báo về tính hai mặt hay nghịch lý của việc áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ. Ông viết: “Chúng ta thấy rằng, máy móc có một sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm lao động của con người và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người. Những nguồn của cải mới, từ xưa đến nay chưa ai biết, dường như do một sức mạnh thần kỳ nào đó lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ. Những thắng lợi của kỹ thuật dường như đã được mua bằng cái giá của sự suy đồi về mặt tinh thần. Dường như loài người càng chinh phục được tự nhiên nhiều hơn thì con người lại càng trở thành nô lệ của những người khác hoặc nô lệ cho sự đê tiện của chính mình”[2]. Nghịch lý đó dường như càng thể hiện rõ rệt hơn trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Năm 1988, Fedérico Mayor cũng nhận xét: “Chưa bao giờ như ngày nay, sự căng thẳng giữa khoa học và lương tâm, giữa kỹ thuật và đạo đức lên tới cực điểm đã trở thành mối đe dọa toàn thế giới”[3]. Vì thế, việc nhận diện biểu hiện và xem xét cơ chế tác động của tiến bộ khoa học - công nghệ đối với đạo đức là cần thiết nhằm xác định giải pháp cho việc phát huy những tác động tích cực, khắc phục tác động tiêu cực của tiến bộ khoa học - công nghệ trong điều kiện hiện nay. Theo chúng tôi, những tác động của tiến bộ khoa học - công nghệ đối với đạo đức là đa dạng và phức tạp, nhưng nổi bật và tựu trung là những biểu hiện sau:

Thứ nhất, trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, tiến bộ khoa học -  công nghệ tạo điều kiện cho việc mở rộng sản xuất và tăng năng suất lao động.  Từ đó dẫn tới sự phát triển kinh tế, gia tăng thu nhập của xã hội và con người. Theo Ngân hàng thế giới, tiến trình toàn cầu hoá với các nước đang phát triển giữ vai trò trung tâm sẽ giúp thu nhập thế giới trong 25 năm tới tăng nhanh hơn so với giai đoạn 1980 – 2005, đưa tổng giá trị GDP toàn cầu tăng từ 35.000 tỉ USD năm 2005 lên 72.000 tỉ USD vào năm 2030[4]. Đồng thời, sự phát triển kinh tế và khoa học - công nghệ vừa làm cho các lĩnh vực sản xuất, các lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp gia tăng và mở rộng, vừa tạo điều kiện cho con người tham gia sâu rộng vào các hoạt động, các quan hệ xã hội. Tất cả những điều đó tác động thuận lợi đến sự phát triển đạo đức. Tác động này thể hiện cả trên bình diện xã hội, cả trên bình diện cá nhân.

Trên bình diện xã hội, dưới tác động của tiến bộ khoa học – công nghệ, cùng với sự mở rộng phạm vi của hoạt động sản xuất và hoạt động xã hội, phạm vi điều chỉnh lợi ích và do đó, phạm vi điều chỉnh của đạo đức được mở  rộng. Sự mở rộng phạm vi điều chỉnh của đạo đức chính là một trong những biểu hiện của tiến bộ đạo đức.[3]

Trên bình diện cá nhân, do có nhiều điều kiện hơn và được tham gia nhiều hơn vào các hoạt động, các quan hệ xã hội, nhân cách nói chung và nhân cách đạo đức của con người nói riêng có thêm điều kiện để phát triển. Hơn thế, đạo đức giờ đây được thể hiện ra trong tính tích cực xã hội của con người, thay vì thứ đạo đức trong xã hội truyền thống mang nặng tính thụ động bởi con người không có nhiều cơ hội gia nhập vào các quan hệ, các hoạt động xã hội.

Tuy nhiên, tiến bộ khoa học - công nghệ trong điều kiện kinh tế thị trường lại đẩy mạnh quá trình cạnh tranh kinh tế. Những người đi tiên phong trong việc đổi mới công nghệ sẽ thu được nhiều lợi nhuận, lợi nhuận siêu ngạch so với những người khác. Vì vậy mà mặc dù, tổng thu nhập xã hội tăng lên nhanh chóng, nhưng phân phối lại không đồng đều. Cùng với tiến bộ khoa học - công nghệ là sự phân cực giàu nghèo ngày một sâu sắc. Ngày nay, khi một nhóm nhỏ giới chủ các công ty tư bản độc quyền xuyên quốc gia giàu lên nhanh chóng, thì hơn 1 tỷ người lao động trên toàn thế giới, bao gồm cả hàng trăm triệu người ở các nước tư bản phát triển nhất, lại rơi vào cảnh đói nghèo, bệnh tật, thất học và bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển. Theo Báo cáo về phát triển con người năm 1999 của UNDP, mức chênh lệch về thu nhập giữa 20% dân số thế giới sống ở các nước giàu nhất và 20% dân số thế giới sống ở các nước nghèo nhất đã tăng từ 30/1 năm 1960 lên 74/1 năm 1997[5]. Theo Ngân hàng thế giới, năm 2006, tổng số người nghèo ở châu á là 1,9 tỷ, trong khi đó, tổng số người giàu [1triệu USD trở lên] chỉ là 9,5 triệu. Hơn thế, đổi mới công nghệ và chuyển giao công nghệ vào các nước đang phát triển đã gạt ra ngoài lề nền sản xuất xã hội hàng loạt người lao động trong các ngành nghề truyền thống. Điều đó vừa làm gia tăng thất nghiệp và bất bình đẳng tại các quốc gia đang phát triển, vừa làm gia tăng bất bình đẳng giữa các quốc gia phát triển với các quốc gia đang phát triển. Đối lập quá mức giữa giàu nghèo, bất bình đẳng, thất nghiệp,… đó chính là điều kiện kinh tế, xã hội dẫn tới sự thù hận, bạo lực, các tệ nạn xã hội, nghĩa là dẫn tới sự xuống cấp đạo đức trong xã hội hiện đại.

Thứ hai, trong điều kiện kinh tế thị trường, những thành tựu khoa học - công nghệ chính là tác nhân trực tiếp và quyết định nhất rút ngắn chu trình và mở rộng đầu tư sản xuất. Nhưng để rút ngắn chu trình và mở rộng sản xuất thì phải khuyến khích tiêu thụ. Trong điều kiện của xã hội hiện đại, khuyến khích tiêu thụ [kích cầu] chính là một trong những động lực trực tiếp để phát triển sản xuất, tạo ra nhiều việc làm, nâng cao thu nhập xã hội. Hơn thế, trên bình diện cá nhân, kích cầu nghĩa là khuyến khích tiêu dùng cho phát triển thể chất cũng như phát triển tinh thần tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu mở rộng và phát triển sản xuất trong điều kiện hiện đại, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát triển nhân cách đạo đức. Nhưng cùng với vai trò và ý nghĩa đó, việc khuyến khích tiêu thụ từ chỗ chỉ là một yêu cầu có tính tất yếu về mặt kinh tế lại dẫn tới sự hình thành  lối sống tiêu thụ đặc trưng cho xã hội hiện đại.[5].

Trong các xã hội tiền thị trường, kể cả phương Đông và phương Tây, do sự kém phát triển về kinh tế và công nghệ, thu nhập thấp, nên nhìn chung, con người không thể có mức sống cao được. Do vậy, tiết dục và tiết kiệm là yêu cầu phổ biến của lối sống; đó cũng là chuẩn mực đạo đức phổ biến, tiêu biểu và đặc trưng cho đạo đức xã hội. Trong các xã hội truyền thống, tiết kiệm được coi là đức tính, hoang phí bị coi là thói xấu về mặt đạo đức. Ngược lại, trong xã hội hiện đại, lối sống tiêu thụ đã thay thế cho lối sống tiết kiệm. Lối sống tiêu thụ dựa trên nguyên lý: cái gì mới, hợp mốt là cái có giá trị; cái gì cũ, không hợp mốt là không còn giá trị. Dưới tác động của nguyên lý này, người ta đua nhau tiêu dùng, mua sắm, xài sang để khẳng định sự sành điệu. Càng tiêu thụ, con người càng thấy thiếu, càng khát tiêu thụ. Việc khẳng định sự sành điệu qua tiêu thụ trước hết được thực hiện ở những người giàu có, những người có quyền lực, ở giới trẻ. Điều đó dẫn đến sự đối lập giữa họ với tầng lớp nghèo khó của xã hội, nghĩa là dẫn đến tâm lý bất bình ở tầng lớp nghèo khó. Nhưng với tư cách là một đặc trưng của xã hội hiện đại, lối sống tiêu thụ với những độ khác nhau cũng ảnh hưởng tới toàn xã hội, kể cả người nghèo. Khi nhu cầu tiêu dùng, dưới áp lực của lối sống tiêu thụ, vượt quá khả năng kinh tế thì trong không ít trường hợp, người ta sẽ vi phạm pháp luật và đạo đức, thực hiện những hành vi tiêu cực, như làm ăn phi pháp, biển thủ công quỹ, trộm cướp,… Lối sống tiêu thụ, do vậy, cũng là một trong những tác nhân dẫn đến những tiêu cực về mặt đạo đức.

Thứ ba, dưới tác động của khoa học - công nghệ, nhịp độ công nghiệp hóa, đô thị hóa ngày một gia tăng. Nhịp độ này được thể hiện rõ nét nhất ở mức độ gia tăng tỷ lệ dân số đô thị. Nếu như, vào những năm đầu thế kỷ XX, tỷ lệ dân số đô thị ở Nhật Bản khoảng 20%, ở châu Âu khoảng 30% thì đến nay, tỷ lệ này đã lên tới trên 90%, thậm chí ở Bắc Âu lên tới trên 95%. Hiện nay, diện tích các thành phố trên thế giới chỉ chiếm 0,3%, nhưng dân số từ năm 1960 đến năm 2000 đã tăng gấp 3 lần, đạt 3,2 tỷ người tức là 1/2 dân số thế giới.

Sự gia tăng dân số đô thị là kết quả của sự phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ. Sản xuất công nghiệp lôi cuốn lao động nông thôn vào các khu công nghiệp, đô thị; các khu công nghiệp, đô thị được mở rộng hoặc xây dựng mới nhằm đáp ứng nhu cầu của phát triển sản xuất, của công nghiệp hoá. Dân số đô thị tăng lên quá nhanh và thông thường là nhanh hơn khả năng cung ứng những dịch vụ hạ tầng, chẳng hạn giao thông, điện nước, cơ sở giáo dục, y tế,… Hơn thế, con người lại bị cách biệt với thiên nhiên và bị dồn nén vào những khu dân cư đông đúc và thường là chật hẹp. Điều đó dẫn đến tình trạng gia tăng áp lực cuộc sống, kích thích bạo lực và các tệ nạn xã hội. Đối với những quốc gia phát triển, quá trình đô thị hoá mang tính tự giác hơn, nghĩa là được quy hoạch một cách hợp lý nhằm đảm bảo sự cân bằng giữa việc đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất với việc đáp ứng các nhu cầu sống ngày càng cao của con người. Điều đó làm giảm bớt đi áp lực cuộc sống. Ngược lại, với những quốc gia chậm phát triển, quá trình gia tăng đô thị hoá thường là mang tính tự phát. Đô thị hoá tự phát là quá trình gia tăng và mở rộng đô thị  một cách tự phát, thiếu quy hoạch khoa học, là hệ quả của sự gia tăng dân số cơ học và những làn sóng nhập cư ồ ạt, cũng như sự quản lý yếu kém của các cấp chính quyền. Điều đó dẫn tới sự gia tăng tội phạm, bạo lực, tệ nạn xã hội với tư cách biểu hiện của tình trạng xuống cấp đạo đức.

Quá trình đô thị hoá còn dẫn đến tình trạng xáo trộn cư dân, sự ly hương cư dân nông thôn. Khi con người rời bỏ quê hương vào thành phố, vào các khu công nghiệp với nghề nghiệp mới, cuộc sống mới thì mối dây liên hệ với gia đình, quê hương bị suy yếu đi. ở các khu công nghiệp, các thành phố mới, con người từ tứ xứ không thể ứng xử với nhau theo những chuẩn mực văn hóa, đạo đức thuần tuý của quê hương mình nữa. Học giả phương Tây nổi tiếng - E.Fromm đã đưa ra cách nhìn nhận tiêu cực về hiện tượng này. Theo ông, trong điều kiện như vậy, định hướng lối sống, đạo đức của họ không có gì khác hơn là những định hướng từ truyền thông đại chúng [mass communication]. Công nghiệp hoá, đô thị hóa, truyền thông đại chúng với tư cách kết quả của tiến bộ công nghệ đã biến những con người vốn có một truyền thống văn hoá thành những kẻ nặc danh, trống rỗng, không bản sắc, chỉ biết trông cậy vào truyền thông đại chúng để định hướng cho các ứng xử của mình. Họ trở thành những khối đại chúng [masses], yếu tố cấu thành hệ thống truyền thông đại chúng và là đối tượng phục vụ của truyền thông đại chúng. Cách nhìn nhận có phần thái quá như vậy chắc là không hoàn toàn hợp lý. Nhưng đô thị hoá với việc làm suy yếu đi mối dây liên hệ của con người với gia đình và quê hương chính là một trong những tác nhân làm suy giảm các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống.

Thứ tư, khi cả thế giới đang từng bước trở thành một đại thị trường thì sự đồng nhất hoá các tiêu chuẩn của công nghệ sản xuất, của tiêu dùng trở thành một tất yếu. Ngày nay, một chiếc máy bay Boing được xuất xưởng ở Mỹ, nhưng các cấu kiện của nó lại được chế tạo tại nhiều nơi trên thế giới. Để thực hiện được điều đó, người ta phải quy cách hoá, chuẩn hoá các cấu kiện của máy bay. Cũng như vậy, một sản phẩm dệt may hoặc hải sản Việt Nam muốn gia nhập thị trường quốc tế phải đáp ứng các yêu cầu, các quy định chất lượng sản phẩm quốc tế. Sự đồng nhất hoá các tiêu chuẩn của công nghệ, của sản phẩm là nhằm đáp ứng các yêu cầu của sản xuất, kinh doanh trong điều kiện hiện đại. Nhưng sự đồng nhất hoá đó lại là tác nhân gián tiếp dẫn tới sự đồng nhất hoá các chuẩn mực của lối sống, hành vi ứng xử, của quan niệm, thói quen và thị hiếu, nghĩa là của các giá trị văn hoá, đạo đức.

Ngày nay, Mỹ là siêu cường quốc về kinh tế và công nghệ [bao gồm cả công nghệ trong lĩnh vực quân sự]. ảnh hưởng của Mỹ về kinh tế và công nghệ  đối với phần còn lại của thế giới là cực kỳ lớn. Đồng thời, chủ nghĩa bá quyền về văn hoá luôn thường trực trong đầu óc giới lãnh đạo Mỹ và luôn thể hiện ra qua hệ thống truyền thông đồ sộ và hiện đại nhất thế giới đã và đang dẫn đến tình trạng là, sự đồng nhất hoá văn hoá trên phạm vi toàn cầu là một thực tế, và thực tế này in đậm dấu ấn Mỹ hoá.

Ngày nay, khắp nơi trên thế giới, người ta đua nhau bắt chước mô thức văn hoá Mỹ, phong thái xã hội Mỹ, kiểu cách hưởng thụ Mỹ, sử dụng, tiêu dùng các văn hoá phẩm Mỹ. Có học giả người Pháp lo ngại rằng, đến một thời điểm không xa nào đó, người Pháp không biết đến phim Pháp nữa mà chỉ xem phim Mỹ qua các phương tiện kỹ thuật của Nhật Bản; còn người Anh lại lo ngại rằng, với tốc độ Mỹ hoá hiện nay, trong tương lai không xa, cả thế giới sẽ nói tiếng Mỹ [Anh - Mỹ] và đẩy tiếng Anh nguyên bản trở thành một thứ thổ ngữ riêng của người Anh.

Thứ năm, truyền thông, đặc biệt là viễn thông [telecommunication] là một thành tựu kỳ diệu của khoa học - công nghệ hiện đại. Vai trò và tiện ích của nó là điều hiển nhiên không còn phải nghi ngờ gì nữa. Tuy vậy, trên bình diện văn hoá, đạo đức, ít ra vẫn có hai điều đáng lo ngại dưới tác động của thành tựu kỳ diệu này.

Do có ưu thế vượt trội trong việc cung cấp thông tin, truyền thông đại chúng thường bị lạm dụng trong việc đáp ứng nhu cầu giao tiếp của con người với ngoại giới. Thay vì tham gia trực tiếp vào các hoạt động hay các quan hệ giao tiếp của cuộc sống sinh động, con người ngồi lỳ hàng giờ trước màn hình ti vi hoặc vi tính, giao tiếp với thế giới bên ngoài thông qua một thế giới ảo. Cái thế giới ảo ấy thực sự có ích, khi nó không tiêu tốn quá mức thời gian của con người. Còn trong trường hợp ngược lại thì, nó trở thành một thứ phản tác dụng, đặc biệt là với trẻ em. Những nghiên cứu thực nghiệm đối chứng ở Mỹ đã cho thấy, những trẻ em xem ti vi nhiều thường kém phát triển trí tưởng tượng hơn những trẻ em ít xem ti vi. Về mặt tâm lý, điều đó cản trở sự phát triển tình cảm ở trẻ em. Tình cảm chính là cơ sở tâm lý của quan hệ và hành vi đạo đức. Con người xa lánh con người, không biết đến bổn phận đối với người khác, đối với xã hội là con người kém phát triển về mặt tình cảm. Một trong những hiện tượng xuống cấp đạo đức trong xã hội hiện đại là sự suy giảm tình cảm đạo đức biểu hiện ở tính ích kỷ và chứng vô cảm về mặt xã hội của con người. Điều đó có nguyên nhân từ cơ chế thị trường, nhưng cũng có nguyên nhân từ sự lạm dụng và không làm chủ được các thành tựu của tiến bộ khoa học - công nghệ.

Trong điều kiện hiện nay, với sự xuất hiện và hoạt động của mạng Internet trên phạm vi toàn cầu, nhân loại lại phải đối mặt với một tình huống đạo đức khó giải quyết. Cũng như truyền thông nói chung, Internet xúc tiến sự giao tiếp giữa người và người, góp phần tạo ra tiếng nói chung và sự hiểu biết lẫn nhau, sự đồng cảm và tinh thần hữu nghị. Nhưng một khi không có cơ chế và một thái độ tích cực đối với việc quản lý thì mặt trái của Internet lập tức thể hiện tác dụng. Thực tế cho thấy, hiện nay, nhiều quốc gia không quản lý được hoạt động của  thông tin trên Internet. Những văn hoá phẩm độc hại được đưa vào mạng và tác động tiêu cực đến sự phát triển đạo đức ở hàng loạt quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phương Đông. Lo ngại về tình trạng này, ngay ở Autralia, một vài học giả đã lên tiếng đòi đình chỉ hoạt động của Internet. Làm sao có thể đình chỉ được sự hoạt động của một thành tựu khoa học - công nghệ kỳ kiệu như Internet; đòi hỏi trên chẳng qua chỉ là sự cảnh báo và nhắc nhở trách nhiệm của xã hội và con người đối với sự sáng tạo và sử dụng những thành tựu khoa học - công nghệ, mà khách quan, chúng luôn có xu hướng vượt ra khỏi tầm kiểm soát của con người.

Thứ sáu, nói đến tiến bộ khoa học - công nghệ trong điều kiện hiện nay không thể không kể đến những thành tựu trong lĩnh vực sinh học, sinh học người, y học,… Nhân bản vô tính, biến đổi gien, sinh sản nhân tạo, cấy ghép các cơ quan, các phủ tạng người,… mỗi thành tựu như vậy đều mở ra những triển vọng lớn đối với sản xuất và bảo vệ sức khoẻ con người; nhưng mỗi thành tựu như vậy lại đặt ra những nan giải, những tranh luận về đạo đức. Chính vì vậy mà khi cừu Dolly ra đời bằng nhân bản vô tính vào năm 1997 thì nhân loại đón nhận thành tựu này với những tâm trạng khác nhau: vừa mừng, vừa lo. Watson - một trong hai người nhận giải Noben với phát hiện cấu trúc ADN, cho rằng, khi được thực hiện ở loài người thì nhân bản vô tính sẽ có hậu quả ghê gớm, nếu như người ta theo đuổi mục tiêu tạo ra nòi giống của những nhân vật kiệt xuất. Khi đó lấy gì bảo đảm cho quyền sống, phẩm giá của con người và các dân tộc khác nhau trên thế giới.

Sau cùng, đặc trưng của xã hội hiện đại là sự thay đổi nhanh chóng các thế hệ công nghệ và sản phẩm công nghệ. Chẳng hạn, một kiểu ti vi hoặc máy vi tính nào đó, khi mới xuất hiện thì nó là kiểu hiện đại nhất; nhưng chỉ sau dăm năm nó đã có thể bị thay thế bởi kiểu hiện đại hơn, với những chức năng đa dạng hơn. Như vậy, một thế hệ công nghệ hay một sản phẩm công nghệ đang có giá trị thậm chí, đang là thời thượng, mốt, thì chỉ trong tương lai không xa đã trở thành lạc hậu hoặc hết mốt, nghĩa là không còn giá trị nữa. Sự thay đổi nhanh chóng ấy khuyên người ta không nên nhìn nhận giá trị của sự vật một cách bất biến, trường tồn. Đồng thời, trong quan hệ thị trường, cơ hội không nhiều mà dễ mất, rủi ro không muốn nhưng nhiều khi không tránh khỏi, mặc dù đã được tính toán kỹ lưỡng. Tất cả những điều đó dạy người ta không nên trở thành nô lệ cho các nguyên tắc, các quy phạm của quá khứ mà cần tìm ra giá trị có thể biện hộ được bằng lý tính trong đời sống hiện thực. Điều này có tính hợp lý của nó, nhưng nó lại là tác nhân làm nảy sinh xu hướng thực dụng mà trong điều kiện kinh tế thị trường, có người gọi đó là phương thức tìm kiếm giá trị tiền mặt [cash value]. Hơn thế, trong đời sống tinh thần, cái lối tìm kiếm giá trị tiền mặt đó khiến cho người ta khó tin vào những chân giá trị, những giá trị tinh thần, đạo đức trường tồn. Trong các xã hội nông nghiệp, công nghệ không phát triển, xã hội tĩnh lặng, đời sống tinh thần của con người được an bài bởi những giá trị, những định hướng được coi là vĩnh hằng. Các giá trị đạo đức của Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Nho giáo,… đã định hướng tinh thần cho con người hàng ngàn năm; và hàng ngàn năm, con người yên tâm nương gửi tâm hồn vào những giá trị đó. Nhưng, với sự biến động của kinh tế và công nghệ, con người không còn những giá trị trường tồn để mà tin tưởng, để mà noi theo. Vì thế, trong xã hội hiện đại, thường xuất hiện tâm trạng hoài nghi, bất an về mặt tinh thần, chủ nghĩa hư vô về mặt đạo đức.

Những tác động mang tính hai mặt trên chính là những thách thức đối với sự phát triển đạo đức nói riêng, sự phát triển con người và xã hội nói chung trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thông qua việc tăng cường áp dụng những tiến bộ khoa học - công nghệ. Những tác động này, dưới những hình thức, những mức độ nhất định cũng đang thể hiện trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay. Bởi vậy, vấn đề đặt ra là, đối diện với những nghịch lý đó, chúng ta cần chủ động và tích cực tìm kiếm các giải pháp nhằm phát huy những phương diện tích cực, khắc phục những phương diện tiêu cực từ những tác động mang tính hai mặt đó để sao cho tiến bộ khoa học - công nghệ thực sự biểu trưng cho sức mạnh bản chất của con người, thực sự là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.


[*] Trưởng phòng Đạo đức học và Mỹ học, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.59; 48.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.10.

[3] Xem: Người đưa tin UNESCO, số 5/1988.

[4] Xem: http://vietbao.vn/Kinh-te/GDP-the-gioi-se-tang-len-71.000-ty-USD-vao-nam-2030/40178258/87.

[5] UNDP. Human development report 1999, p.3.

Ta thích cái gì và cái gì làm cho ta vinh quang, thì chính những cái đó đã vắt cạn hết mọi sinh lực của ta và đã biến thân thể của ta trở thành đồ phế thải.

*****

Ta muốn chống tham nhũng, thì hãy uống nước trong và hãy sống thật giản dị.

Sống giản dị là vũ khí chống tham nhũng có hiệu quả nhất và uống nước trong là để nuôi dưỡng đời sống giản dị ấy.

*****

Ta phải học tập hạnh thua người để ta có nhiều cơ hội học hỏi và tiến bộ.

Niềm vinh hạnh lớn nhất của con người là không có ai hơn ta và bằng ta, nhưng chính nó cũng là nỗi bất hạnh lớn nhất và nỗi cô đơn khủng khiếp nhất của con người được sinh ra từ niềm vinh hạnh ấy.

Hạnh phúc của con người không phải là đứng trên con người mà được cùng với mọi người vui chơi trong sự sống.

*****

Ở trong thế gian, thiện và ác lúc nào và ở đâu cũng có.

Thiện tạo ra thiên đàng và hạnh phúc cho mỗi người, ác tạo ra địa ngục và khổ đau cho mỗi người.

Điều ấy, phản ảnh hết sức trung thực trong đời sống của con người.

Người nào biết phụng sự điều thiện là người biết phụng sự mình một cách đích thực. Và người nào không biết phụng sự điều thiện là người đó tự làm khổ và hủy diệt chính mình chứ không phải ai khác.

*****

Con người được vinh danh là anh cả của muôn loài trên trái đất.

Vậy, bạn là con người, bạn đã làm gì để bảo vệ trái đất và che chở muôn loài, hay ngày nào bạn cũng làm cho trái đất bị ô nhiễm và ngày nào cũng ức hiếp muôn loài, ngày nào bạn cũng gắp thịt muôn loài để ăn, như vậy bạn là gì của trái đất và muôn loài bạn có biết không?

*****

Trong gia tài tâm linh và gia tài văn hoá của ta, có rất nhiều châu báu, ta không biết dừng lại để tiếp nhận và sử dụng, ta lại mãi mê ruổi rong tìm cầu, để nhân cách của ta bị rách nát, khí lực của ta bị kiệt tàn, cuộc đời của ta chỉ còn lại những mảnh giấy vụn và lại bị cuộc đời vứt vào sọt rác!

“Ruổi rong cho mệt hình hài
Rồi hai tay trắng cũng hoàn trắng tay”.

*****

Có người nói xấu ta, nhưng ta không tìm cách nói xấu họ, ta nhìn sâu vào điểm tốt của họ để khuếch đại ra, ta phải thực tập sống như vậy với bất cứ ở đâu và lúc nào, thì phước đức của ta tăng lên, tai họa trong đời sống của ta càng ngày, càng giảm thiểu, oán thù càng lúc càng được giải tỏa và ta sẽ có đời sống tự do.

Nguồn: phatviet.com

Thế giới mạng ảo đang trở thành một xã hội thu nhỏ, nơi tồn tại đầy đủ mọi thứ như một thế giới thật. Bằng một nickname, mỗi người đã có một tài khoản mạng xã hội tương đương với một tấm thẻ chứng minh thư, chứng minh cho sự tồn tại ở thế giới đó.

Thế giới mạng ảo không giới hạn, cũng chẳng có luật pháp như thế giới thật. Mỗi thành viên thoải mái sống theo cách thể hiện của bản thân, tự do ngôn luận, hành động và đặc biệt không có sự ngăn cản của bất cứ ai. Chính vì bản chất tự do đó đang dần mài mòn đi con người thật, dần hình thành lên một hệ đạo đức thật giả lẫn lộn ở chính những con người tham gia mạng xã hội.

Có lẽ chưa bao giờ trong xã hội loài người, những “nhà đạo đức” lại nhiều như hiện nay. Những chiêu trò phổ biến nhất vẫn là khoe thân để tạo làn sóng trong dư luận. Họ sử dụng mạng xã hội như một bàn đạp để thoả mãn cơn khát "vọng tưởng hào quang".

Xuất phát từ những bức ảnh nhạy cảm đơn thuần, dần dần rộ lên trào lưu tung ảnh “hot”. Chẳng bao lâu, chiêu trò tung ảnh “nhạy cảm” biến thành hiện tượng khoe thân lố lăng vượt xa giới hạn cho phép. Hiện tượng Bà Tưng đã phản ánh rõ nét nhất khi cô tung những clip sexy, thả rông ngực để nổi danh. Cùng với đó, hàng loạt những hotgirl của thế giới ảo bắt đầu a dua tung ảnh để hòng hòng nổi tiếng.

Ẩn sau câu chuyện hám danh ảo này là vấn đề đạo đức đáng quan tâm hơn của một bộ phận các bạn trẻ hiện nay. Nhiều cá nhân đứng trên quan điểm một phía của mình chỉ trích, ném đá người khác, thậm chí dùng lời lẽ nặng nề lên án. Thực tế, hành động và cách thể hiện của họ lại phản ánh hoàn toàn ngược lại.

Mai Thỏ - cô hotgirl của một trường đại học tại Hà Nội từng bị cư dân mạng chỉ trích bởi cái thói huyếch hoác “nói không đi đôi với làm”. Cô nàng từng lên báo nói thẳng thừng suy nghĩ của mình về hiện tượng Bà Tưng. Cô cho rằng, Bà Tưng khoe thân lố bịch, cực kỳ phản cảm. Cô cảm thấy lạ lẫm khi mọi người lại hùa nhau để ủng hộ một hiện tượng thích gây sốc để nổi tiếng.

Nhìn lại, người ta lại thấy Mai Thỏ đang dùng đạo đức của mình để lên án người khác mà không nhìn lại những hình ảnh của chính mình khi xuất hiện trước công chúng. Chính Mai Thỏ đang “tự tay vả mặt” mình vì chính cô cũng có xuất phát điểm như Bà Tưng.

Lật lại những bức ảnh cũ của Mai Thỏ có thể thấy, cô nàng có cả kho ảnh “khoe thân” lộ liễu với vòng một, vòng ba nóng bỏng. Mới nhất là bức ảnh cô để lộ gần như trọn vẹn vòng 1 trong chiếc váy quây ngắn cũn, ôm đàn violon bên người nghệ sỹ già khiến cư dân mạng xôn xao và "tặng" cô không ít "gạch đá".

Hiện nay, không ít người mượn mạng ảo để sẻ chia những bức bối, những cảm xúc yêu ghét mà thực tế cuộc sống không thể thổ lộ. Xét cho cùng đó là cách để người ta xả stress, tự giải tỏa tâm lý trong cuộc sống bí bức của mình. Nhưng mặt trái của nó lại lộ ra khi quá nhiều người lạm dụng mạng xã hội để thể hiện “cái không thành có”.

Liên quan đến câu chuyện đạo đức, ý thức của không ít cô nàng hotgirl thời nay khi thể hiện đạo đức hai mặt trên mạng xã hội và đời thực. Cư dân mạng từng châm biếm hot girl bằng một "văn bản" dài ngoằng, với những lời lẽ hài hước nhưng không kém phần chua cay.

Đơn giản một ngày của họ chỉ dành để chụp ảnh, chỉnh sửa qua các phần mềm sửa ảnh và đăng tải chúng lên mạng với những câu bình luận nhẹ nhàng, lãng mạn. Nhiều cô ngủ nướng cả buổi sáng, đến giờ ăn trưa chạy vào bếp chụp lại những món ăn mẹ nấu sẵn, tải lên facebook và tự nhận đó là những món ăn tự tay họ làm. Hoặc cố nặn cho ra những câu nói không thực tế, khoe mẽ bản thân đã làm được việc này, giúp được những người có hoàn cảnh khó khăn...

Ở thế giới thực tại, người ta lại bắt gặp hình ảnh cô hotgirl chanh chua, đanh đá, tha hóa về lối sống, văng tục chửi bậy chốn công cộng. Nhiều cô lười biếng, chẳng biết làm gì chỉ lo lên mạng xem ai hở ra cái gì không hay ho “chém", "dìm hàng” tơi tả, hiện thân cho một thế hệ "anh hùng bàn phím". Khi ra ngoài đường, vì muốn khoe mái tóc đẹp không thèm đội mũ bảo hiểm nhưng khi chụp được bức ảnh ai đó tham gia giao thông không đúng luật liền tải lên trang cá nhân kèm lời lẽ lên án, phán xét.

Trong mạng xã hội đã thiết lập đầy đủ các mối quan hệ thực ngoài xã hội, như: bạn bè, đồng nghiệp, đối tác, người thân… Do đó, mỗi lời nói, hình ảnh đều tô vẽ lên chân dung để người khác đánh giá. Mọi trạng thái cảm xúc, hành động thể hiện trên facebook dù được che giấu bằng những lời hoa mỹ, hình ảnh photoshop ảo đến mấy đều bị mọi người nhìn ra chân tướng.

Thời gian gần đây, mạng xã hội đã vạch trần chân tướng “đạo đức giả”, hai mặt của hai bảo mẫu trường mầm non tư thục Đông Phương từng có những hành vi dã man: ép đầu, tát vào mặt, dốc ngược các em bé dọa bỏ vào thùng nước... khi các em bé lười ăn.

Ngược lại với những hành vi độc ác bị báo chí phanh phui, cư dân mạng tìm ra facebook cá nhân của hai bảo mẫu Nguyễn Lê Thiên Lý (19 tuổi) và Lê Thị Đông Phương (31 tuổi) đăng tải những hình ảnh tràn ngập tình cảm, âu yếm bên các em nhỏ, cùng với đó là những tâm sự nghề đầy tâm huyết.

Nếu chỉ nhìn vào facebook, nơi các cô vẫn hàng ngày đăng tải những câu cưng nựng bé yêu, những bức hình tình cảm, có lẽ người ta sẽ nghĩ họ là những nhà giáo mẫu mực, yêu trẻ. Chỉ khi, clip phát hiện tội đồ của họ được phát tán, người ta mới nhìn nhận cái vỏ bọc đạo đức của họ. Một sự che giấu giả tạo, khiến bao người lên tiếng, phẫn nộ.

Trong một trường hợp mới đây, khi Sapa tuyết rơi trắng xóa, nhiều khách du lịch tỏ ra thích thú, liên tục tung những tấm hình “tự sướng” lên facebook ghi dấu hiện tượng mà từ bé tới giờ họ mới được chứng kiến. Không lâu sau khi những tấm hình được công khai, những “nhà đạo đức” liên tục nhảy vào tấm hình để chửi bới, lăng mạ tác giả. Họ đưa ra những luận điểm hết sức duy ý chí cho rằng, giới trẻ bây giờ vô tâm, chỉ biết vui đùa trên khó khăn của người bản, không lo cho những cánh đồng hoa màu đang tàn lụi….

Từ những sự việc trên cho thấy, suy nghĩ nhận thức và cách sống của giới trẻ từ mạng ảo hiện nay đang dần méo mó. Chính những "nhà đạo đức" suốt ngày lên án về lối sống, nhân cách của cá nhân, bộ phận nào đó... lại là những người có khiếm khuyết trong chính lối sống và hành động không không - mấy - đạo - đức của mình.

Theo KHÁM PHÁ

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.