bài viết trong chuyên mục "Chư Bồ Tát"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chư Bồ Tát. Hiển thị tất cả bài đăng

Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát – Lịch sử ra đời và ý nghĩa


Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát
Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát
Phật Bà Quan Thế Âm Bồ Tát – Lịch sử ra đời và ý nghĩa
Đức Phật Thích ca Mâu ni lúc nói kinh Bi Hoa đã dạy là: Trong quá khứ đã từ rất lâu, đức Quan Thế Âm là thái tử con của vua Vô Tránh Niệm. Lúc đó có đức Phật danh là Bảo Tạng Như Lai nhận thức được đạo lý tối cao, Vua và Thái tử phát tâm Bồ đề to lớn, nguyện tu những hạnh Bồ tát, muốn thành Phật quả để giáo huấn và phổ độ chúng sinh.
Bắt đầu Vua và Thái Tử là những thí chủ thành kính thờ cúng quần áo, trái cây, thuốc, mền – mùng và những món cần sử dụng lên đức Bảo Tạng Như Lai và chúng tăng ba tháng liền. Nhờ vào sự chân thành, tinh tấn không ngừng, vua Vô Tránh Niệm được chứng nhận thành Phật và phát bốn mươi tám lời thề nguyện to lớn để tế độ tất cả chúng sinh, Hiệu của Ngài là A-di-Đa. Thái tử cũng công hạnh tròn đầy và viên mãn nên cũng về cõi Cực Lạc thành bậc đại Bồ Tát hiệu là Quan Thế Âm cùng với Phật A Di Đà đi dẫn dắt chúng sinh về cõi Cực lạc.
Tên gọi Quán Thế Âm Bồ Tát có ý nghĩa gì ?
– Quán là quan sát, tìm hiểu và biết rõ ràng về đối tượng.
– Thế là cuộc đời, cuộc sống dân gian.
– Âm là tiếng cầu cứu, tiếng thỉnh cầu phát ra từ những nơi khổ đau.
– Bồ Tát là độ thoát cho loài hữu tình, giải cứu, hướng đạo cho chúng sanh, giúp họ đủ nghị lực vượt qua những cơ cực trong cuộc đời.
Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đạt được diệu quả Nhĩ căn viên thông vì thế quan sát xét và cảm nhận và thấy được những tiếng kêu than tột cùng trong cõi nhân gian và xuât hiện lập tức ở chỗ đó để giải cứu họ vượt qua những kiếp nạn đó. Vì công hạnh cứu độ tự tại mầu nhiệm đó, vì thế trong kinh điển còn gọi là Quán tự tại Bồ tát.
Theo tiếng Phạn Avalokitesvara Quan Thế Âm Bồ Tát tức là Người luôn nghe tiếng kêu tha thiết từ tâm khảm chúng sinh trong trần gian mà tới cứu khổ. Mang lòng từ bi, nhân ái, vị tha và thánh thiện không phân biệt bất kỳ ai, nghĩa là người yêu thương tất cả chúng sanh trong thiên hạ cũng giống như hình ảnh của người mẹ luôn bao che và giúp đỡ cho các con của mình vì thế người được gọi là từ mẫu Quan Thế Âm Bồ Tát.
Một năm có 3 lễ vía Quan Thế Âm Bồ Tát
Mỗi năm phật tử khăp mọi nơi trên thế giới hay làm lễ vía Quan Thế Âm Bồ Tát thật trang trọng vào những ngày : 19 tháng 2, 19 tháng 6 và 19 tháng 9 theo âm lịch.
Ngày 19 tháng 2 là ngày Quán Thế Âm Đảng Sanh.
Ngày 19 tháng 6 là ngày Quán Thế Âm thành đạo.
Ngày 19 tháng 9 là ngày Quán Thế Âm xuất gia.

Sự linh ứng và nhiệm mầu của câu “Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát”


Sự linh ứng và nhiệm mầu
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Đạo Phật đến đâu đem đến niềm vui, an lạc đến với tất cả chúng sinh nơi đó.Hàng đại trượng phu giác ngộ cao bỏ được sắc tài danh lợi đi xuất gia làm sa môn để giải thoát để độ chúng sinh, điều đáng trân, đáng quý, đáng để người đời lễ bái cúng dường.
Nhưng hàng chúng sinh không phải ai ai cũng có thể giác ngộ cao và xuất gia như quý Tăng Ni.
Chúng ta sống trong thế giới Ta Bà này hễ còn là chúng sinh, còn trong đau khổ con trong thiếu thốn, là còn có mong cầu.
Kẻ thiếu phước luôn bỏ ác gắng làm nhiều việc thiện để cầu có phước, người hoạn nạn niệm Phật , Bồ Tát mong cầu cho bình yên, người thiếu thốn cầu được đầy đủ…..Thế nên “Đức Phật Quá Khứ Chánh Pháp Minh” vì thương chúng sinh cõi Ta Bà này thiếu phước mới thị hiện ra hình dáng của người Phụ nữ, người mẹ hiền lấy danh hiệu là Quán Thế Âm để quán sát, nghe ngóng tiếng kêu đau thương của chúng sinh khi hoạn nạn, sự thiết tha mong cầu của từng chúng sinh khi niệm đến danh hiệu của ngài thì ngài quán xét ngài sẽ dùng thần lực cho mỗi chúng sinh ấy được toại nguyện (những Phật tử từng niệm danh hiệu Quán Thế Âm đã thấy được sự linh nghiệm chắc hẳn sẽ đồng ý những lời tôi nói ra)
Bỡi bản thân tôi cũng thoát qua bao nhiêu là tai nạn, những mong cầu, đã vượt bao khó khăn cũng nhờ niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát.
Lâu nay thường thì chúng ta chỉ nghe kể hoặc xem những chuyện linh ứng nhiệm mầu của Quán Thế Âm có trên sách vở chẳng hạn như: “ngày xửa ngày xưa vào thời ( nào đó )……v v và v v.
Nhưng hôm nay tôi xin kể quý vị nghe một câu chuyện người thật, việc thật, bên cạnh nhà tôi.
Là phụ nữ đã đến tuổi 37 rồi, cái tuổi mà không còn trẻ nữa, nhưng Bé Hiền (tên thường gọi của cô), ở cái xóm Sở Thùng (Bình Thạnh) này ai mà không biết . Có chồng đã trên 15 năm nhưng mang chứng vô sinh, đi khắp các nơi chạy chữa, tốn biết bao nhiêu tiền mong có đứa con nhưng rồi vẫn hoàn không.
Khi nghe và tin được sự linh ứng của Quán Thế Âm, tâm mong cầu có con mới siêng niệm danh hiệu ngài và ấn tống Kinh “Đại Bi tâm Đà La Ni Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm”, cô nhờ tôi biết chỗ đi thỉnh và phân ra cúng các chùa cho nhiều người thỉnh, tâm luôn xưng niệm: “Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát !”
Sau khi niệm Quán Thế Âm và ấn tống kinh không lâu. Hôm nọ tôi đang ngồi trước cữa, “Bé Hiền” đi ngang qua thấy tôi, cô đến ghé sát tai tôi miệng mỉm cười và nói nho nhỏ :
– “Chú chú…con…con có bầu…. 3 tháng rồi!”
Tôi cũng cũng vui và mỉm cười : “Vậy cháu phải siêng niệm Quán Âm nhiều hơn nữa nghen !”
Và hôm nay cũng trước cữa tôi đang ngồi, Bé Hiền đi ngang qua thấy tôi cô ghé lại, trên tay đang bế bé trai mặt tròn như ánh trăng rằm, mắt sáng như sao, trên đầu có 3 giá, bé đã hơn 4 tháng tuổi ai thấy cũng thích, bà con lối xóm quen thân cứ dành nhau bồng bế, nựng nịu.
Khiến tôi nhớ đến đoạn Kinh Pháp Hoa, Phẩm Phổ Môn Phật nói:
“Này Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát có những sức uy thần lớn, nhiều lợi ích lớn, cho nên chúng sinh thường phải một lòng tưởng nhớ.
Nếu có người nữ, giả sử muốn cầu con trai, lễ lạy cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, liền sinh con trai phúc đức trí tuệ; giả sử muốn cầu con gái, bèn sinh con gái có tướng xinh đẹp, trước đã trồng gốc phúc đức, mọi người đều kính mến.
Này Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát có sức thần như thế!”.
Được sự và đồng ý của cô “ Bé Hiền ” tôi chia sẻ cùng quý vị sự linh ứng như trên.
Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.



Một điều khó hiểu của Phật giáo đó là sự xuất hiện của các dạng hình tướng phẫn nộ, khủng khiếp...Có thể nói đó là những hình tướng xấu xí, ghê rợn đến sởn tóc gáy, và những hình tướng phẫn nộ này dường như đi ngược lại với tinh thần Phật Giáo.

Những hình tướng này không hề là biểu tượng cho cái ác hay là tượng trưng cho một ma lực nào đó...Mà thay vào đó chính là tượng trưng cho sự dũng mãnh của thực tại căn bản của vũ trụ nói chung, và tượng trưng cho tâm thức của con người nói riêng.


Ngoài ra đó còn là sự tiêu diệt những mê muội hư vọng của tâm thức con người, và mục đích của các vị còn là sự bảo hộ cho lòng tín, đức tin. Những hộ thần phẫn nộ là những tượng trưng cho sự chế ngự dục vọng, đánh bại những điều xấu xa.


Những hộ thần thường có thân hình chắc nịch, ngắn nhưng dày... nhiều vị còn có nhiều đầu nhiều tay. Màu sắc của khuôn mặt các ngài thường đựơc hay so sánh với màu mây, màu đá quý...Đó là lý do tại sao trong các sadhanas hay có những đoạn so sánh một vị hộ thần màu đen như đám mây xuất hiện cuối trời, hay là xanh như màu ngọc lục bảo, hoặc trắng như một ngọn núi pha lê, màu vàng như vàng ròng, hoặc màu đỏ như là những tia nắng nơi ngọn núi san hô đỏ...Trong các sadhanas cũng có nói rằng các ngài phủ đầy người một lớp tro của các buổi lễ trộn với dầu mè hoặc là phủ khắp người những vết mỡ, những đốm máu và mỡ người.


Khuôn mặt của các ngài thường có những biểu hiện như sau : miệng mở một cười giận dữ, từ đó ló ra những chiếc răng nanh - người ta hay nói những chiếc nanh đó được làm bằng đồng hoặc sắt. Những con mắt đỏ ngầu đầy máu biểu lộ cho sự phẫn nộ. Thường thì các ngài có 3 mắt.


Điều quan trọng nhất trong nhóm các hộ thần đó chính là nhóm 8 vị, được biết đến như là các hộ pháp chính của Phật giáo Tây Tạng ( Bát Đại Hộ Pháp ), các hộ pháp này được xem như những vị bồ tát, và các ngài có nhiệm vụ chiến đấu một cách không khoan nhượng với bất kì thế lực ma quỷ nào cũng như những kẻ thù của Phật giáo .


Họ bao gồm :


* Yama ( Dạ Ma )

* Mahakala ( Đại Hắc Thiên )
* Yamantaka ( Hàng Phục Dạ Ma )
* Kubera ( Tài Bảo Thiên Vương )
* Hayagriva ( Mã Đầu Minh Vương )
* Palden Lhamo ( Vị Nữ Thần )
* Tshangs pa ( Phạm Thiên Trắng)
* Begtse ( Thần Chiến Tranh )




Yama: ( Dạ Ma ) Thần chết






Dựa trên những truyền thuyết về nguồn gốc của Yama, một người đàn ông được một vị thánh cho biết rằng nếu ông ta nhập định 50 năm ở trong 1 hang động, ông ta có thể đạt được giác ngộ.

Thời gian cứ thế trôi đi, đúng vào đêm ngày thứ 29 của tháng thứ 11 của năm thứ 49. Hai tên trộm đã chạy trốn vào hang động của ông. Trong tay bọn chúng là cái đầu của con trâu mà bọn chúng giết trộm. Sau đó chúng mới phát hiện ra rằng người đàn ông đã biết được việc làm mờ ám của bọn chúng, bọn chúng quyết định giết ông để bịt đầu mối. Ông ta van xin bọn chúng tha mạng cho ông, bởi vì chỉ còn vài phút nữa là ông có thể đạt tới giác ngộ. Nếu bị giết chết trước thời hạn 50 năm thì mọi công sức của ông bị đổ sông đổ bể.Bọn cướp phớt lờ trước lời van xin của ông ta, và cắt đứt đầu của ông ta.

Ngay lúc đó, ông ta lập tức biến thành yama và đội cái đầu trâu vào cái xác không đầu của mình. Yama giết chết hai tên cướp và uống cạn máu của chúng bởi cái chén được làm bằng sọ của bọn chúng.Trong cơn điên cuồng báo thù, Yama đe doạ tiêu diệt hết tất cả dân Tây Tạng.
Người dân Tây Tạng nguyện cầu đức Văn Thù Sư Lợi , xin ngài bảo vệ dân chúng trước cuộc báo thù của Yama. Văn Thù Sư Lợi liền vận dụng thần thông hoá thân thành Yamantaka ( Hàng phục dạ ma ), ngài đánh bại Yama,để cứu giúp dân chúng, đồng thời ngài khiến Yama trở thành một trong những hộ pháp của Phật giáo.


Chúng ta thường thấy Yama hay xuất hiện trong thangka với một phối ngẫu của mình, Chamundi, là người dâng cho Yama một chén tiên dược máu quỷ ( cam lồ máu ). Và những xác người chết như là thứ trang sức của Yama. Yama có màu xanh đen của đầu con trâu .





Mahakala : Đại Hắc Thiên



Huyền thoại về lịch sử của Mahakala được viết bởi Khedrup Khyungpopa, là người sáng lập dòng truyền thừa Shangpa Kagyu, vào thế kỉ thứ 11. Ngài dạy rằng sức mạnh đặc biệt cũng như năng lực kì diệu của Mahakala là do nguyện lực của đức Avalokiteshvara ( Quan Thế Âm ). Ngài nguyện còn sinh tử và quyết không thành Phật nếu còn chúng sanh chưa được giác ngộ. Sau khi giúp hàng vô lượng người, trong vô số đời đạt tới giác ngộ . Ngài thấy rằng sự đau khổ không hề giảm sút mà hơn thế nữa sự ô nhiễm trong tâm thức chúng sanh ngày một tăng trưởng. Ngài thấy thất vọng, nhụt chí. Lúc đó lập tức đầu Ngài vỡ tan thành trăm ngàn mảnh vụn.



Phật A Di Đà ( Amitabha) một trong 5 vị Phật ( Tỳ Lô Giá Na Phật, Bảo Sanh Phật, Khai Phu Hoa Vương Phật , A Di Đà Phật, Thiên Cổ Lôi Âm Phật ) ghép những mảnh vỡ lại, và biến thành 11 đầu. Sau đó ngài dặn dò đức Avalokiteshvara hãy thực hiện lại lời nguyện đó một lần nữa, nhưng giữ lời nguyện đó tốt hơn, kiên cố hơn. Do đó Avalokiteshvara có mười một đầu, và trong đó có mười đầu là hiền hoà và một đầu là phẫn nộ. Đầu phẫn nộ đó chính là đại diện cho Mahakala.

Ngài Avalokiteshvara buồn bã, trong khoảng thời gian 7 ngày. Ngài nghĩ rằng trên thế giới đầy những chúng sanh đau khổ cần một kết quả thật nhanh chóng mà không phải có quá nhiều nỗ lực. Sau đó ngài muốn biến mình thành một bổn tôn phẫn nộ để đánh bại nhanh chóng và hiệu quả hơn những trở ngại cho hạnh phúc của người khác. Với tư tưởng này chữ Hum màu xanh đậm xuất hiện từ trái tim ngài. Chủng tự Hum đó đã trở thành Mahakala. Điều đó có nghĩa rằng trong câu thần chú “Om Mani Padme Hum”, chủng tự Hum tượng trưng cho sức mạnh, quyền năng.

Sự xuất hiện của Mahakala kéo theo sự rung động của mặt đất, đồng thời có giọng nói của chư Phật vang vọng trong không trung chứng minh rằng Mahakala có đủ quyền năng làm ban phát những gì chúng sinh mong muốn nếu những mong muốn đó là trung thực và tốt.

Mahakala là một hộ thần giám hộ cho người thống trị Mông Cổ- Thành Cát Tư Hãn- lúc bấy giờ. Sự phẫn nộ của Mahakala được xem giống như hoá thân phẫn nộ của thần Siva. Ở Tây Tạng, về hình ảnh của Mahakala thường có một đầu và ba mắt, lông mày như những ngọn lửa nhỏ và râu thì có dạng như hình móc câu. Mahakala có từ 2 đến 6 tay.

Điều tự nhiên cơ bản mà dân Tây Tạng thường thờ cúng Mahakala có lẽ là vì ngài là vị thần của lều trại. Bởi vì dân Tây Tạng sống du mục, do vậy thời gian ở lâu mau là phụ thuộc vào thiên nhiên và môi trường xung quanh, do vậy họ dùng lều trại, việc di chuyển và định cư tạm thời là một phần quan trọng của cuộc đời họ.

Ngoài ra ngài còn là một Hộ Pháp rất quan trọng, bởi thế cho nên ở mỗi tu viện đều có một nơi thờ Mahakala.



Yamantaka ( Hàng Phục Dạ Ma )


Yamantaka, là một hoá thân phẫn nộ của Văn Thù Sư Lợi ( Bồ Tát của trí tuệ ), Yamantaka là hoá thân phức tạp và phẫn nộ khủng khiếp nhất trong tất cả các hoá thân phẫn nộ của Phật giáo. Ở hoá thân này, Văn Thù Sư Lợi đã hàng phục được thần chết Yama, khi mà Yama đang trong cơn khát máu điên cuồng trả thù giết hại dân Tây Tạng .



Theo truyền thuyết, trong đại định, Văn Thù Sư Lợi đi khắp tất các nơi trong địa ngục để tìm kiếm Yama. Cuối cùng ngài đã tìm ra được nơi trú ngụ của Yama và các thuộc hạ của mình đó là một thành phố sắt ở địa ngục. ( Yama lúc này mang hình dáng thân người đầu trâu nước).


Để điều phục Yama, Văn Thù Sư Lợi sử dụng hình dạng như vậy, nhưng thêm vào đó tám đầu và nhân lên nhiều tay, mỗi cánh tay đều cầm những thứ vũ khí đáng sợ. Và hơn thế nữa từ trong thân ngài mọc ra thêm một số lượng chân tương ứng, xung quanh ngài là một số lượng lớn những chúng sanh đang kinh hãi. Để đối đầu với cái chết, ngài hiện thân như chính bản thân của thần chết được nhân lên nhiều lần. Thần chết Yama thấy được bản thân nhưng sự khủng khiếp lại gấp nhiều nhiều lần. Lúc này thần chết Yama gặp phải tình cảnh đúng nghĩa là "sợ muốn chết".

Đó là lý do tại sao các nhà yogi khi thực hành pháp yamantaka , thông qua hình tượng yamantaka họ sẽ phát tiển được định lực đủ mạnh để đối diện với cái chết, cũng như các sự sợ hãi về cái chết. Mỗi đầu, mỗi cánh tay, mỗi bàn chân cho đến từng thái độ, từng món trang sức, tất cả biểu tượng đó của Yamantaka đều là những mảng giác ngộ tối cần thiết cho việc đối diện với cái chết.

Cả Yama và Yamantaka đều mang hình tướng là đầu trâu nhưng Yama thì luôn có một món trang sức hình bánh xe ở trên ngực, đây là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt hai vị hộ pháp này.










Kubera (Vaisravana) ( Tài Bảo Thiên Vương )



Theo thần thoại Hindu, Kubera là con trai của một nhà hiền triết gọi là "Visravas", vì vậy ngài được đặt theo tên cha mình là "Vairavana". Truyền thuyết nói rằng do sự tu tập nghiêm chỉnh, sự mộc mạc, chân thật của mình trong hàng ngàn năm. Brahma ( Phạm Thiên ), đấng sáo tạo trong thần thoại của Hindu, đã ban cho ngài sự bất tử và biến ngài thành vị thần của tài bảo. Ngài là vị thần bảo hộ cho tất cả các kho tàng của trái đất. Ngài sẽ ban phát kho tàng này cho những ai xứng đáng.



Nơi ở của Kubera là ngọn núi Kailash ( một đỉnh núi linh thiêng, mà người dân Tây Tạng rất hay hành hương tới, tương truyền ai tới được ngọn núi linh thiêng này thì dường như đã tịnh hoá được rất nhiều nghiệp lực, cũng như đã tiến một bước rất dài trong con đường tu tập - người dịch ). Nhưng khi được Brahma bổ nhiệm làm Thần Tài Bảo, thì Brahma cho ngài vùng Lanka ( Ceylon) làm thủ phủ của ngài.



Cũng dựa theo truyền thuyết, ngài cũng được Brahma tặng cho chiếc xe pushpaka, là chiếc xe khổng lồ và di chuyển theo ý nghĩ của chủ nhân với một tốc độ khủng khiếp.

Kubera cũng được thờ cúng bởi các Phật tử, ông được xem như là một vị bảo hộ của phương Bắc ( trong một số tài liệu còn nói Kubera chính là Tỳ Sa Môn Thiên Vương, người trấn giữ ở phương Bắc, chủ về tài bảo -nd ). Biểu tượng đặc trưng của ông chính là con chồn. Con chồn đặc biệt này luôn nhả ra châu báu.

Theo Phật giáo , ngài còn được gọi là Jambhala. Ngài luôn xuất hiện dưới hình tướng to béo và được bao phủ bởi châu báu. Chân phải của ngài lúc nào cũng đạp lên một cái vỏ ốc nằm trên một bông sen ( vỏ ốc này tượng trưng cho tốc độ khủng khiếp của ngài ).



Hayagriva : Mã Đầu Minh Vương




Hayagriva được thờ cúng ở Tây Tạng một cách chính yếu bởi những người buôn ngựa bởi vì người ta tin rằng Hayagriva doạ và đuổi ma quỷ đi bởi tiếng ngựa hí vang trời. Khi người ta thỉnh, ngài sẽ báo hiệu việc giáng lâm của ngài bằng tiếng hí, đó là lý do có cái đầu ngựa trên đảnh đầu, một dấu hiệu đặc trưng của Hayagriva.


Âm thanh vang ra từ đầu ngựa, theo như truyền thuyết là có khả năng xuyên thủng màn vô minh, đem lại ánh sáng chân thật của tự do. Thần chú của ngài có chứa những câu thơ như sau.





"Nguyện cầu ngài bảo vệ đàn ngựa


Tăng thêm số lượng ngựa cái
Từ những con ngựa này sẽ sinh thêm nhiều chú ngựa con siêu phàm
Xin ngài hãy dẹp hết những chướng ngại trên đường


và hướng cho chúng con đi đúng hướng"





( do lối sống du mục của người Tây Tạng, nên ngựa là một thứ quan trọng không thể thiếu trong sinh hoạt thường nhật của họ )





Hayagriva là một hoá thân phẫn nộ của đức Avalokiteshvara ( Quan Thế Âm ), theo những khảo cứu thì có tới 108 hình tướng của Hayagriva. Năng lực đặc biệt của ngài là chữa bệnh, nhất là các bệnh về da, thậm chí cả những bệnh về da khá trầm trọng như là bệnh phong. Bệnh này được tin rằng do Naga gây ra ( Naga là loài rồng nhưng có hình tướng giống như rắn, rất thích sống ở khu vực sông nước, ao hồ, biển cả...).





Hình tướng đơn giản nhất của ngài thì có một mặt, hai tay và hai chân. Tất cả mọi thứ về ngài đó là khuôn mặt đáng sợ với ba con mắt, cái miệng đang gầm rống đầy những răng nanh, tư thế đứng của một chiến binh, chiếc bụng to lớn ẩn chứa một nội lực phi phàm trong đó. Tay phải ngài vung thanh kiếm để đe doạ đối phương, tay trái giơ lên phụ trợ trong một tư thế đáng sợ, đồ trang sức của ngài đó là những con rắn.





Nét đẹp của ngài lại là những điều đáng sợ nêu ở trên, bởi vì chính cái khía cạnh đáng sợ đó lại là biểu lộ của sự từ bi, chính cái đáng sợ đó giúp ta buông bỏ được bản ngã, và xuyên thủng được màn vô minh....



Palden Lhamo : Vị nữ thần






Palden Lhamo là vị nữ hộ pháp duy nhất trong nhóm 8 hộ pháp lớn của Phật giáo. Ngài là nữ hộ pháp bảo vệ cho chánh pháp ở khắp mọi nơi, bao gồm cả đức Đạt Lai Lạt Ma và nhà nước Tây Tạng, thủ phủ Lhasa. Đồng thời ngài cũng là nữ hộ pháp cho đất nước Trung Quốc từ triều đại nhà Nguyên thế kỉ 13 cho tới những ngày cuối cùng của triều đại nhà Thanh đầu thế kỉ 20.






Ở Ấn Độ, Palden Lhamo còn được gọi là Shri Devi. Ngài còn là là nữ thần Okkin Tungri ở miền Bắc Mông Cổ. Ngài cũng được xem như là một hoá thân phẫn nộ của Saraswati ( Biện Tài Thiên ) vị nữ thần của sự học tập, của sự biện tài ( ăn nói ), và của âm nhạc. Một hoá thân khác của ngài là Chamudi, phối ngẫu của Yama. Lại cũng có thuyết nói ngài là một phối ngẫu của Mahakala.



Là nữ hộ pháp duy nhất trong việc bảo vệ chánh pháp, thế nên tương truyền rằng những thứ vũ khí của ngài vốn là được các thần khác trao tặng. Hevajra tặng cho ngài hai hạt xúc xắc để định đoạt sinh mạng của con người, Brahma tặng ngài chiếc quạt làm bằng lông công, từ Vishnu ngài được tặng hai chiếc đèn sáng rực( giống như hai viên ngọc toả hào quang ). Một chiếc thì được ngài cài trên đỉnh đầu, chiếc còn lại được ngài đeo vào ngang eo. Kubera, Thần Tài Bảo, đã cho ngài một con sư tử ( trang sức hình sư tử ) và được ngài đeo ở tai phải. Nanda, Thần rắn, đã ban cho ngài một con rắn ( trang sức hình con rắn ) và được đeo ở tai trái của ngài. Từ Vajrapani ( Kim Cang Thủ ) ngài nhận một chiếc búa sấm sét. Những vị thần khác ban tặng ngài một con la, được bao bọc bởi bộ da của quỷ Dạ Xoa, và có những con rắn độc quấn quanh bụng. Người ta hay thấy ngài cưỡi con la này đi du hành khắp muôn phương.



Ngoài ra còn có một truyền thuyết nói rõ hơn về sự từ bi của ngài. Tương truyền là ngài đính hôn với một vị vua tên là Shenji, người vừa là một vị vua khát máu vừa là một chiến binh bạo tàn, ông ta từ chối hết những lời yêu cầu của Palden Lhamo khẩn cầu ông dừng giết hại dân chúng vô tội. Cuối cùng ngài đành đưa ra một tối hậu thư :



Nếu không dừng giết hại, bà sẽ giết những đứa con của mình có với nhà vua, để cho ông có thể trải nghiệm về nỗi đau người thân bị giết hại mà ông ta gây ra cho những người khác.


Shenji vẫn không dừng, thế là ngài thực hiện lời đe doạ của mình. Trước cái chết của con trai mình, ông ta đã buộc phải dừng lại.



Ngài hay được thấy mang theo xác của con trai mình trên lưng con la đi khắp nơi. Đây là biểu tượng cho quyết tâm không dừng lại trước bất cứ điều gì để đem lại sự an bình cho tất cả.




Tshangs Pa ( Phạm Thiên Trắng )




Brahma (Phạm Thiên) , là một vị thần quan trọng nhất đối với đạo Hindu, tuy nhiên đối với Phật giáo thì Phạm Thiên chỉ chiếm một ví trí thứ yếu. Tên tiếng Tây Tạng của Brahma là Tshangs Pa, chúng ta thường biết đến Brahma với hình tượng 4 đầu 2 tay. Nhưng trong Phật giáo Tây Tạng ngài luôn được biểu hiện với màu trắng, 1 đầu 2 tay và được gọi là Tshangs pa dkar po. Có nghĩa là Tshangs Pa Trắng.


Cũng theo như các sadhana, đây cũng là hình tượng của Brahma. Người ta thường thấy ngài ngồi trên lưng con ngựa trắng, giơ cao thanh gươm, đôi lúc có đeo lá cờ sau lưng. Ngài là một vị thần của chiến binh, nhưng không hiện thân quá khủng khiếp và man rợ. Đằng sau chiếc vương miện ngài là chiếc khăn mỏng có chứa cái vỏ ốc ( một trong những biểu tượng cát tường thường thấy của Tây Tạng-nd ). Ngài mặc những bộ quần áo dài tay và "bồng bềnh như mây".



Mặc dù các truyền thuyết đằng sau nguồn gốc của ngài, không có gì không khế hợp với Brahma, song chúng ta có một truyền thuyết khá thú vị:








Ekajati - Bà mẹ khủng khiếp






Thất vọng vì sự bại trận của mình, ngài Tshangs Pa lại tiếp tục cuộc hành trình của mình trong vũ trụ. Ngài bắt đầu giết tất cả những người thanh niên ở những nơi ngài đi qua, và cưỡng bức những cô gái mà ngài gặp. Một ngày nọ ngài gặp nữ thần Ekajati. Với ý định quấy rầy nữ thần, ngài bắt đầu buông lời ong bướm. Nữ thần Ekajati nổi giận và dùng chiếc khăn tơ lụa của mình đang choàng trên người để đánh ngài. Bị đánh vào đùi, chân ngài lập tức gãy lìa. Cái đánh của nữ thần ngay lập tức khiến cho ngài giác ngộ và trở thành một trong những hộ pháp của Phật giáo. Cái đánh này không có ý nghĩa là hành hung trên một khía cạnh vật chất. Nó chính là sự tấn công vào các phần tiêu cực, các khía cạnh đen tối của tâm thức và chuyển hoá nó. Bởi vì sức mạnh, năng lực vô biên của ngài được chuyển hướng vào việc bảo hộ và cúng dường cho chân lý, đã khiến ngài trở thành một trong những vị đại hộ pháp của Phật giáo. Trong lịch sử, đây cũng chính là hình ảnh đại diện cho sự hội nhập của tôn giáo cổ của Tây Tạng ( đạo Bon ) vào đạo Phật bởi đạo sư vĩ đại Padmasambhava ( Liên Hoa Sanh ).




Begtse: Thần Chiến Tranh




Người chiến binh man rợ này, vốn là một Dạ Xoa, là vị thần của chiến tranh ở vùng Trung Á, mặc áo giáp và trang phục của quân Mông Cổ, xuất hiện trong Phật Giáo Tây Tạng vào nửa cuối thế kỉ 16, là hộ pháp cuối cùng gia nhập vào nhóm 8 vị hộ pháp.

Theo truyền thuyết,Begtse xuất hiện trước khi Dalai Lama, người lãnh đạo của một đội quân động vật. Đức Dalai Lama được mời từ Tây Tạng tới Mông Cổ do vua của Mông Cổ lúc bấy giờ là Atlan Khan ( con cháu của Thành Cát Tư Hãn) để chuyển dổi Phật giáo thành quốc giáo của Mông Cổ.



Biết được việc này nên đức Dalai Lama liền hoá thành Quan Âm Tứ Thủ Avalokiteshvara, vị Bồ Tát của lòng từ bi, hai tay của ngài chắp trước ngực tạo thành ấn nguyện cầu. Bước chân của con ngựa ngài cỡi, in lên trên cát không phải là dấu chân mà lạ thay lại là câu thần chú Om Mani Padme Hum.Tận mắt chứng kiến phép màu này, Begtse liền tin tưởng ngay vào tính ưu việt, sự vượt trội của Phật giáo và tự động quy phục, và chuyển sang Phật giáo. Người ta nói sự quy phục của Begtse chính là hình tượng cho việc chuyển đổi quốc giáo của Mông Cổ thành Phật giáo.



Ngài xuất hiện với đầy đủ các thứ phục trang như các hộ pháp khác, giơ cao một thanh gươm ( cán gươm có hình con bò cạp ) trong tay phải. Tay trái thì nắm một chiếc đầu của kẻ thù màu cam, ta còn có thể thấy ngài giương cung tên cùng lúc đó. Ngài đạp lên xác chết của người đàn ông bằng chân trái, chân còn lại thì ngài dẫm lên cái xác chết của con ngựa. Ba con mắt của ngài đầy sự phẫn nộ,nhìn trừng trừng đủ để đe doạ những kẻ phá hoại chánh pháp.




Theo “Lục Đạo Tập”, đời nhà Tùy (thế kỷ 6) vào đời vua Văn Đế trị vì có Ngài Thiên Thai Trí Giả (cuối thế kỷ 6) luôn ở trong rừng sâu, tọa thiền nhập định bên gốc cây để quán chiếu thấu nguồn chân, thời gian một tuần, nửa tháng hoặc một tháng mới xuất định. Ngài tinh tấn dũng mãnh như thế làm cho trong tâm Không mà ngoại cảnh cũng vắng lặng, chứng được môn Pháp Hoa tam muội.
Ngài nhập định tại núi Ngọc Tuyền thường trì tụng kinh Pháp Hoa. Một hôm chợt trông thấy hội Linh Sơn hiển nhiên hiện ra trước mặt. Do cảm ứng đạo giao nên mới có được sự chiêu cảm như vậy. Cả đến các tầng trời cõi thiên đều đồng thanh khen ngợi công đức tu trì của Ngài, cũng như đem thiên hoa rải xuống cúng dường, và những vị thiên thần cùng nhau hết lòng hộ vệ.
Nhân một hôm, trời trong mây lặng, gió mát trăng thanh Ngài chợt thấy một trang nam tử mặt phụng mày tầm, râu dài mặt đỏ, tướng mạo đoan trang, dáng như một bậc đại trượng phu từ đằng xa đi tới. Phía sau lưng người ấy lại có một tiểu đồng tay cầm đao thanh long theo hầu, chân đi khép nép trông có vẻ ra chiều cung kính.
Ngài hỏi: “Nhân giả là ai? Đến đây có việc gì?" Quan Thánh bèn cúi đầu vòng tay thưa rằng:
- Thưa, đệ tử tên là Quan Võ.
Ngài tiếp hỏi rằng:
- Có phải là em của Lưu Huyền Đức và anh Trương tướng quân, người đời Tam Quốc hay không?
Quan Thánh đáp:
- Thưa, phải ! Chính tôi đây.
- Ngài Thiên Thai Trí Giả khen rằng: “Ta hằng nghe tướng quân giữ một lòng trung nghĩa, sống làm tướng đánh Ngụy, chống Ngô; chết làm thần phục ma, trừ quỉ. Trước có ông Võ Mục xưng thần, danh oai vang tám cõi, sau đức Văn Xương hiển thánh, lưu tiếng ngàn thu là phải lắm. Nay nơi núi cao rừng thẳm, không hẹn mà gặp, không quen biết mà gần, thật là một đại nhân duyên vậy”.
Quan Thánh thưa rằng:
- Nay gặp đời mạt thế, cách Phật đã xa, cương thường luân lý đảo ngược, mọi người lơ là như bịt tai che mắt, không hề biết đến nữa. Vậy nên gian thần, tặc tử đầy dẫy ở khắp cùng nơi chật ních thế gian. Lắm kẻ tranh danh, nhiều người trục lợi, tranh đấu sát phạt nhau, thậm chí sát hại nhau, cái tâm con người như chai đá, không chút thương tâm ! Nay may nhờ Tổ sư (Ngài) ra đời, mở lượng từ bi, phụng hành pháp ấn Phật mà đem dạy dỗ chúng sanh, ngỏ hầu sống có được niềm an lạc, chết cũng được về cõi thánh thiện.
Vậy nên cha con tôi nguyện hướng theo Phật, mong Ngài tế độ và rất vui lòng phát nguyện kiến tạo một ngôi Già lam để hiến cúng cho đại sư làm đạo tràng tu niệm và có nơi hoằng pháp lợi sanh. Mong đại sư cảm chút lòng thành của đệ tử mà nạp thọ”.
Ngài Thiên Thai Trí Giả đáp rằng: “Lành thay! Lành thay!” Khi Quan Thánh từ tạ ra về, ngay trong đêm ấy liền sắc triệu chư thiên mười phương, cùng nhiều thiên lực sĩ, hàng vạn tinh binh… ra sức lấp đầm sâu, thành chỗ đất bằng phẳng; cây gỗ trên rừng được kéo về như thác đỗ, với những rìu thần, búa thiêng, chạm trỗ lạ lùng mau lẹ. Chẳng bao lâu Phật điện, thiền đường đã được xây nên tinh xảo, như thợ trời khéo đẽo gọt tinh vi; tạo nên tòa Phật sát thật là uy nghiêm tráng lệ, không phải do tay người phàm mà tô điểm nên cảnh danh lam thắng địa được vậy.
Ngôi chùa chỉ xây trong bảy ngày là xong. So ra sức người là trong vài ba năm cũng chưa được hùng vĩ kiên cố như thế. Thật quả là thần kỳ! Và vô cùng diệu thuật làm sao!
Ngôi chùa vừa hoàn tất, Quan Thánh liền đến rước Ngài Thiên Thai Trí Giả về đó an trụ và gìn giữ ngôi già lam này làm nơi thánh địa tuyên dương giáo pháp.
Từ đó đại sư ở chùa, ngày đêm giảng kinh thuyết pháp, tùy theo căn cơ người nghe mà giáo hóa, nên mọi người ai nấy đều được lợi ích. Khắp nơi, kẻ tăng người tục nghe danh Ngài đều tìm đến xin quy y, thính pháp thật là đông đảo cho nên tiếng đồn đến triều đình, bảy đời đế vương đều sắc phong Đại sư làm chức quốc sư cả.
Lúc bấy giờ, cha con Quan Thánh, hằng ngày đến chùa nghe pháp, vì biết đạo Phật cao siêu, và cũng muốn gieo hạt giống Bồ Đề cầu mở khai tuệ giác và giải thoát.
Một ngày kia, Ngài Quan Thánh đến bạch với Ngài Thiên Thai Trí Giả xin thọ Tam quy ngũ giới, Ngài rất vui lòng mời đông đủ bốn chúng mở đàn truyền trao giới pháp.
Từ đó trở đi, danh của đức Quan Thánh càng ngày càng lớn, thần oai càng hiển linh, khắp nơi chốn đều thờ Quan Thánh đã đành, ở tư gia nhà nhà đều thiết lập tượng Ngài lễ bái với hương đăng, hoa quả dâng lễ cúng dường như bậc Thánh sống.

Đến đời nhà Minh (1368 – 1661) niên hiệu Khương Hy, năm thứ 9, ngày 13 tháng 5 tại Quảng Đông các nhà hội quán đồng lập một tòa miếu, rồi thiết tôn tượng Quan Thánh thờ phụng. Do vậy, nhân gian chọn ngày ấy làm ngày tế lễ vía Quan Thánh linh đình, trọng hậu bằng phẩm vật và sanh linh để cầu phước. Cúng tế xong, mọi người đem lộc chia nhau thọ hưởng vui chơi. Trong cuộc tiệc vui, có một y sanh tên là Trần Diệu, đang ngồi bỗng dưng ngã xuống đất bất tĩnh nhơn sự một hồi lâu. Trong lúc đó, ông thấy một người đến nắm tay kéo đi rất mau như gió, và hai chân bước không chấm đất như đi giữa hư không vậy. Phút chốc, ông thấy trước mặt có một tòa cung điện, thật nguy nga, hai bên bài trí rất nghiêm chỉnh; chính giữa một vị mặc áo lục bào, mặt đỏ râu dài, ngồi đường bệ oai phong.
Trần Diệu biết đó là đức Quan Thánh, liền nghe trên không phán rằng: “Ta sanh tháng 7, chớ đâu phải tháng 5 mà cúng tế Ta như thế? Vả lại, người đời phụng thờ ta, cũng như cúng tế ta chỉ mong cầu phước, sao lại sát hại những sanh mạng, rồi đem bày ra trước mặt ta? Như thế đã khinh lờn thần minh, mà lại còn vô lễ nữa: đó là tạo thêm tội, chớ nào đâu cầu phước? Nếu người nào biết quy y Tam Bảo, giữ lòng chân chánh, phát tâm từ bi thương kẻ bần hàn, người hoạn họa ốm đau, kẻ cô thế ngặt nghèo… dẫu không cúng dường ta cũng mật thùy gia hộ, chuyển tai họa thành kiết tường. Tất cả đều hưởng được lợi lạc an vui. Người nào bất trung, bất hiếu, vong ân bội nghĩa, ôm lòng sát hại, hung dữ, tà dâm… dẫu có đêm ngày lễ bái lòng sát hại, hung dữ tà dâm… dẫu có đêm ngày lễ bái ta, ta cũng không thể nào cứu được. Trong sách có câu rằng: “Bất dĩ tế nhi giáng phúc, bất dĩ bất tế nhi giáng họa” (không vì cúng tế mà ban phúc, không vì chẳng cúng tế mà giáng họa) là nghĩa này vậy. Hơn nữa, ta là một vị thánh thần giữa hư không thọ dụng những hương vị cam lồ để tư dưỡng cái tịnh thân mà đâu cần chi những vật tanh hôi, máu thịt bất tịnh ấy. Ngươi phải về bố cáo lại cho mọi người trong thế gian biết rằng: “Đừng nên sát sanh hại vật mà cúng tế ta nữa. Những loài dê, heo, nếu con nào tuyền sắc thì ta đã độ được siêu sanh thoát hóa rồi, còn nếu con nào tạp sắc, tội nghiệp nặng nề, ta không thể độ được, và hiện nay còn đầy ở trong núi kia”.
Đức Quan Thánh phân phán rồi, bèn cho người dẫn Trần Diệu đến đầu núi, ông ta xem thấy những loài dê, heo tạp sắc nhiều vô số, người dẫn còn lấy tay chỉ mà nói với Trần Diệu rằng: “Đó là loài tội nghiệp nặng nề, ngươi phải về nói lại rằng từ nay trở về sau không nên làm như vậy nữa”. Nói vừa dứt lời, hai người trở về nhanh như gió vậy.
Tưởng nên nhắc lại lúc Trần Diệu đang ngồi dự tiệc, bất thần xỉu ngã lăn xuống đất bất tỉnh nhơn sự, khiến mọi người trong buổi tiệc đều hoảng hốt, xúm nhau đỡ nạn nhân dìu ra nhà sau mà làm hô hấp nhân tạo, lo thuốc men kịp thì. Một lúc sau Trần Diệu tỉnh lại, mọi người hỏi chuyện vừa rồi, ông thuật rõ đầu đuôi tự sự, làm cho ai nấy càng thêm tin tưởng sự linh cảm hơn lên.
Do tích truyện trên, từ đó trở đi trong vùng Quảng Đông nói riêng và khắp nơi không có nhà nào dám sát hại sanh vật để cúng tế đức Quan Thánh như tục lệ xưa nữa.
Do sự hiển linh của Ngài mà mọi người thờ cúng đức Quan Thánh hay do tấm lòng trung trinh báo quốc của Ngài Quan Võ mà hình tượng được khắc họa cúng tế ở khắp nơi trong nhân gian?
Đức Quan Võ hiển thánh: “ba huynh đệ kết nghĩa vườn đào” thời Tam Quốc (220 – 280 TL): Lưu Huyền Đức, Trương Phi và Quan Võ, thế mà mãi tới đời vua Tùy Văn Đế, sau hơn 300 năm Quan Thánh tới giúp Ngài Thiên Thai Trí Giả Đại Sư xây chùa trên núi Ngọc Tuyền, và cũng chính nơi đây Ngài quy y thọ giới với Đại Sư. Và trở thành một Phật tử hộ trì Phật Pháp, biết trai giới khuyến thiện mà qua nhân vật Trần Diệu cho ta thấy rõ điều này.
* Hiển linh mượn xác nhân vật: vì dân chúng vùng Quảng Đông sát sanh hại vật cúng tế Quan Thánh, tức mượn oai thánh thần để gây tội ác. Thứ nhất là phạm tội giết sanh mạng loài dê, heo, trâu bò cúng tế; giết mạng phải đền mạng không thể nào khác được. Thứ nhì phạm điều mê tín: cầu phước lộc, quan vị, buôn bán sanh lợi, thi đỗ v.v… đều phó thác nhờ tha lực mà không chịu nỗ lực dốc chí đem hết khả năng làm việc, khiến con người thờ ơ, ỷ lại đi đến chỗ ủy mị hèn yếu trước thiên nhiên tạo vật. Thứ ba, dựa hơi hám thần linh thọ lộc để say sưa rồi gây ra tội lỗi xấu ác mà không tự kiểm soát được. Nhờ một người tên Trần Diệu ngộ nạn trong cuộc tiệc sau tế lễ Đức Quan Thánh, đã được đức Thánh hiện ra báo trước cho ông biết việc làm vô đạo, hiếu sát của con người ở trên thế gian để cảnh báo mọi người nên ăn hiền ở lành, tu nhơn tích đức.
* Quy y Tam Bảo: người đã thoát hóa mấy trăm năm sau mới gặp được bậc minh sư – Ngài Thiên Thai Trí Giả – xin đầu Phật và đức Quan Thánh trở thành là một Phật tử ủng hộ giáo pháp Phật đà. Oai danh Ngài nổi bật cũng nhờ công đức hộ pháp này nên được nhiều người hâm mộ, tôn thờ đức độ tài năng của nhân vật đặc biệt trong dáng hình tướng quân mà tâm niệm luôn muốn tồi tà phụ chánh này qua mọi quốc độ và thời gian.
* Đức Quan Thánh được tôn thờ như vị Bồ Tát: Ngày nay sau hơn 3000 năm, hiện thế, hình tượng đức Quan Thánh được lập miếu thờ hầu khắp các quốc gia theo Phật giáo Bắc truyền và Nam truyền tại Châu Á. Và hầu như một phần ba dân chúng tại những nơi này nhà nào cũng có thờ cúng đức Quan Thánh tâm thành như một tín ngưỡng nhân gian vậy.
Thật đúng như câu: “hương thơm dù là của loài hoa chiên đàn cũng không bay ngược được chiều gió; chỉ có hương của người đức hạnh mới phảng phất đến khắp muôn phương”, như công hạnh lợi tha của Đức Quan Thánh là nột ví dụ điển hình rõ nét nhất.

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.