bài viết trong chuyên mục "Bài Viết"

. An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài Viết. Hiển thị tất cả bài đăng

Đi tìm một trái ớt ngọt

Một trong những câu truyện mà tôi thích nhất là câu truyện của ông Nasrudin, một tu sĩ Sufi. Một hôm, người ta thấy ông Nasrudin ra ngồi ở giữa chợ, nước mắt và nước mũi chảy ròng ròng, và trước mặt ông là một giỏ ớt thật to. Ông cứ đều đặn đưa tay vào giỏ lựa một trái ớt bỏ vào miệng nhai, rồi ông lại khóc than kêu lên thật to mà không kềm chế được.
    Những người đi ngang qua thấy vậy ghé lại hỏi, "Nasrudin, ông làm gì thế, ông có điên không vậy?"  Nước mắt mũi vẫn tuông chảy, ông nói giọng thều thào, "Tôi cứ muốn ăn những trái ớt này, vì hy vọng rồi sẽ tìm được một trái ớt ngọt."
Một khoảng cách không thể nối liền
Nasrudin là một người nhiều tuệ giác nhưng ông lại thường làm những hành động dại khờ để nhắc nhở người đời. Việc ông làm có mang hai ý nghĩa: một ý nghĩa rất rõ ràng ai cũng thấy, và một ẩn ý khác sâu sắc và tế nhị hơn.
    Ý nghĩa thứ nhất thì chúng ta ai cũng hiểu. Nó cũng chính là cái thông điệp căn bản của đạo Phật: lòng ham muốn của ta sẽ không bao giờ chịu học hỏi và thay đổi, nó sẽ không bao giờ khôn ra! Ngay cả những khi mà nó không mang lại được một ích lợi nào hết, ngoại trừ sự khổ đau, lòng ham muốn vẫn cứ lì lợm đeo đuổi cái mục đích riêng của nó. Thái độ đeo đuổi không biết mệt mỏi theo những mục đích ấy, khiến chúng ta có thể làm những việc rất là lạ lùng và điên rồ.
    Câu truyện của ông Nasrudin là một ví dụ rất cụ thể cho cuộc đời của chúng ta: như câm như điếc trước mọi tuyệt vọng, ta nhất định phải đi tìm cho được một trái ớt ngọt. Trong khi những người đi ngang qua nhìn ông với một con mắt kinh dị, tại sao ông không dừng lại có phải tốt hơn không? Chính lòng ham muốn là sợi dây trói buộc ta vào bánh xe của khổ đau. Mặc dù thấy rõ rằng chúng mang lại cho mình khổ đau, nhưng ta vẫn không tài nào thuyết phục mình buông bỏ để thoát ra được.  Cũng giống như nhà phân tâm học Freud thường hay nói, giữa sự ham muốn và sự thoả mãn có một khoảng cách không bao giờ có thể nối liền được - an unbridgeable gap.
Tại sao không dừng lại đi?
Nhưng thái độ lì lợm của ông Nasrudin là một ví dụ cho ta thấy rằng buông bỏ sự ham muốn trong cuộc đời là một việc dường như bất khả thi. Theo tôi thấy thì Nasrudin là một thiền sư nhiều tuệ giác, chứ không phải một người ngu khờ như ta nghĩ. Ông ta muốn dạy chúng ta rằng, lòng ham muốn sẽ không bao giờ để cho chúng ta yên.  Nó cứ mang lại cho ta hy vọng và sẽ không bao giờ bằng lòng với câu trả lời "không" của mình!
    Nếu nghiệm cho kỹ thì câu truyện ông Nasrudin còn có ẩn ý cho ta thấy được cả hai khía cạnh của vấn đề: sự tuyệt vọng của lòng ham muốn và lối thoát ra khỏi nó. Lòng ham muốn của ông không hề bị lay chuyển, mặc dầu nó đã mang lại cho ông nhiều khổ đau. Trong lời than van của ông, trong sự chấp nhận khổ đau với một hy vọng về một trái ớt ngọt, có ẩn chứa một tuệ giác về sự ham muốn.  Nasrudin không hề hối tiếc về sự ham muốn của mình, ông vẫn tiếp tục mà không chút do dự, mặc dù trước những khổ đau rõ rệt. Và ông cũng không hề chống cự hoặc trốn tránh nó.  Khổ đau và hy vọng, cả hai đều có mặt nơi đó. Mặc dù thấy rất rõ sự điên rồ của mình, Nasrudin vẫn cứ tiếp tục. Dường như ông muốn chỉ cho chúng ta thấy rằng, mặc dù than khóc và chảy tuông nước mắt, nhưng trong sự tìm kiếm ấy có mang lại cho mình một thú vui nào đó.
    Tôi thích câu truyện của ông Nasrudin vì nó nói lên một sự thật rất phủ phàng và cũng rất là quyến rủ của lòng ham muốn. Là một nhà tâm lý trị liệu và cũng là một bác sĩ phân tâm học, hằng ngày tôi phải đối diện với những bệnh nhân mà câu chuyện của họ cũng tương tự như ông Nasrudin vậy.  Họ cứ tiếp tục có những hành động và thái độ mà bất cứ ai có chút suy nghĩ đều biết là mình nên dừng lại ngay.  Những thất vọng và bức xúc của họ tuông trào ra trong phòng bệnh của tôi như nước mắt của ông Nasrudin. Lắm lúc tôi cũng muốn nói to lên như những người bạn của Nasrudin.  "Vậy tại sao không dừng lại đi?"  Tôi muốn nói với họ, "Tại sao không buông bỏ đi mà cứ đeo đuổi nó làm gì cho khổ?"
Buông xả là con đường hạnh phúc
Là một bác sĩ không phải chỉ chịu ảnh hưởng của môn phân tâm học Tây phương, mà còn hiểu được tuệ giác của đạo Phật, tôi có thể dễ dàng nhìn thấy được việc ấy.  Đức Phật dạy, con đường duy nhất để chấm dứt khổ đau là buông bỏ sự ham muốn của mình. Buông xả là con đường của hạnh phúc. "Tại sao ta lại đi tìm kiếm hạnh phúc nếu chính sự tìm kiếm ấy lại là cái nguyên nhân của khổ đau." Nhưng sau nhiều năm tiếp xúc với bệnh nhân của mình, tôi nhận thấy rằng, mặc dù sự ham muốn mang lại cho ta nhiều khổ đau, nhưng ta không nên và cũng không thể nào dễ dàng buông bỏ nó.
    Khi ta cố chối bỏ một phần nào của mình, nó sẽ vẫn còn dai dẳng có mặt như một cái bóng của ta. Cũng vậy, ta sẽ không thể nào tiêu diệt được lòng ham muốn bằng cách giả vờ rằng nó không hề có mặt. Vấn đề là ta phải đối diện, chấp nhận và chuyển hóa nó. Vì cũng như người Pháp có câu "Chassez le naturel, il revient au galop."  Xua đuổi sự tự nhiên đi, nó sẽ phi nước đại trở lại với ta.
Trích từ “Đức Phật bên trong
Nguyễn Duy Nhiên

free hit counter

đào lý vẫn đơm hoa

Basho là một vị thiền sư thi sĩ Nhật Bản sống vào thế kỷ thứ 17, ông cũng được công nhận như một nhà thơ Haiku nổi tiếng nhất của mọi thời đại.  Có lần, Basho chia sẻ về nghệ thuật làm thơ của mình như sau, “Trong khi viết, ta đừng để mình bị ngăn cách với thực tại, dầu chỉ là một khoảng cách mỏng như một sợi tóc.  Ta chỉ có thể hiểu được cây thông từ ngay chính cây thông, ta chỉ có thể học cây trúc từ chính ngay cây trúc… và cái thấy ấy tự nó sẽ sáng tạo nên bài thơ của mình.”
Và cũng vậy, tôi nghĩ, ta chỉ có thể tiếp xúc được với sự sống của mình từ ngay chính nơi thực tại này, mà không thể bằng một lý thuyết hay đường lối nào khác hơn.
Nhưng dường như ngày nay chúng ta lại thường đặt ra bao nhiêu những phương cách để nắm bắt thực tại.  Thật ra, ta chỉ cần mở rộng ra với những gì đang có mặt chung quanh mình, bằng một cái thấy tự nhiên và trong sáng.  Hiện thực này, ta đâu cần phải lao công tìm kiếm, mà chỉ cần dừng lại và nhận diện mà thôi.
Một nhà thơ La Mã, Horace, có dùng chữ "Carpe diem", seize the day, nắm bắt ngày hôm nay, như là một công thức để sống tích cực.  Tôi cũng thấy ngày nay chúng ta lại ưa thích dùng những chữ đó, nhưng có lẽ ta cũng cần nên nhìn lại thái độ ấy của mình.  Vì thật ra ta không cần phải nắm bắt cái gì hết, chúng ta chỉ cần để yên và có mặt tự nhiên với ngày hôm nay thôi.  Vì mục đính của ta là để tiếp xúc được với một tuệ giác sẵn có của thực tại, chứ không phải để tìm kiếm một cái gì khác hơn, hay đẹp hơn, theo sự mong cầu của mình.
Sen và bùn
Có lần, tôi có dịp tiếp chuyện với một Sư cô ở một tu viện.  Trong thiền quán, chúng ta thường quen nghĩ rằng, hạnh phúc có mặt là nhờ sự có mặt của khổ đau.  Cũng như sen có mặt là nhờ có bùn nhơ, hay là nhờ có cõi Ta bà mà Tịnh độ mới có thể hiện hữu.  Nhưng nếu như ta nhìn sâu sắc hơn, đừng vướng mắc vào ý niệm, thì có thể ta cũng sẽ thấy rằng, hoa sen có cái “thật” của hoa sen, và bùn nhơ cũng có cái “thật” của bùn.  Và nếu như chúng ta để cho chúng được như "đang là", as-is, một cách tự nhiên, thì mỗi cái đều có giá trị hoàn toàn như nhau, chứ không phải vì cái này mà có được cái kia.  Cô chia sẻ,
Người ta thường nói đến giá trị của khổ đau là để nâng cao giá trị của hạnh phúc.  Cũng như hay lấy bùn để tôn xưng sự tinh khiết của hoa sen: gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.  Vì vậy hoa sen thường được dùng làm biểu tượng cho những gì cao quý, thỏng tay vào trần mà không nhiễm bụi trần.  Giá trị của bùn ở đây là làm cho hương thơm của hoa sen càng có giá trị.
Trong kinh có viết “Thị pháp trụ pháp vị”, nghĩa là ta nên thấy pháp đúng với thực tánh ngay nơi sự có mặt trong không gian (vị) và thời gian (thời) của nó.  Như nó đang là.  Mỗi pháp đều có một vị trí, một “đang là” của chính nó, và không thể so sánh với bất cứ gì khác.  Hoa sen có "vị" của hoa sen, bùn có "vị" của bùn.  Mùi thơm của hoa sen hay mùi hôi của bùn là do cảm quan của chúng ta thôi, chứ sen hay bùn tự chúng đâu có nói một lời nào!  Mà chúng cũng chẳng muốn nâng giá trị gì cho nhau.  Sen mọc trên bùn là do ở nhân duyên, thì đó cũng chỉ là lẽ thường nhiên thôi!
Vậy khổ đau có "vị" của khổ đau, hạnh phúc có "vị" của hạnh phúc, giá trị hoàn toàn như nhau nếu chúng được như "đang là."  Thật ra thì đâu phải nhờ khổ đau mà ta mới có thể thấy giá trị của hạnh phúc, hay "hạnh phúc chỉ được nhận diện trên cái nền của khổ đau..."  Sao ta không thử nhìn thấy hương sen, mùi bùn, hạnh phúc, đau khổ... như nó đang là, và chỉ thế thôi?
Thật ra, nếu như ta biết ý thức và chấp nhận giá trị của khổ đau, thì đó cũng đã là điều rất tích cực rồi.  Nó giúp ta giảm bớt đi những bất an do sự tham cầu, chống đối, vừa lòng, nghịch ý… khi tương giao với mọi sự.  Nhưng nếu như ta không vượt thoát khỏi cái thói quen so sánh - sản phẩm của bản ngã - thì mình sẽ không để cho sự vật được như nó “đang là”, vì vẫn còn một ý niệm phân biệt, cho dù rất vi tế.
Trong kinh Hoa Nghiêm có viết "đương xứ tức chân", chỉ có cái đang là ấy mới chính là cái thật, và ngoài ra không có cái thật nào khác hơn, nên ta mới có thể nói "Ta bà là Tịnh độ" được đúng nghĩa.  Chứ không phải nó ám chỉ rằng Ta bà chỉ là nền, background, của Tịnh độ.  Vì thật ra, đâu phải nhờ có “hậu cảnh” Ta bà mà “chính cảnh” Tịnh độ mới được tỏa sáng!
Mọi bất an đều có khuynh hướng tự an
Có thể tôi cũng chưa hiểu hết ý sâu sắc của Cô, nhưng như Basho nói, nếu như chúng ta muốn hiểu thế nào là hoa sen thì ta hãy tiếp xúc ngay chính với hoa sen đi, hay bùn nhơ cũng vậy.  Vì chỉ có cái đang là ấy mới chính là cái thực.  Mỗi cái đều có một tuệ giác riêng của nó, và ta chỉ cần thấy trong sáng tự nhiên thôi, chứ đâu cần đến một sự phân tách hay suy tưởng xa xôi gì khác.
Nếu như ta để cho chúng được như chúng đang là, as-is, buông bớt đi những phân biện của mình, thì tuệ giác sẽ hiện rõ hơn.  Các thầy tổ vẫn thường nhắc nhở chúng ta hãy tập buông bỏ những ý niệm và lý thuyết của mình đi, dù cao siêu đến đâu, để cho tuệ giác có thể được có mặt.
Tôi nghĩ, chúng ta chưa tiếp xúc được với thực tại có lẽ vì mình chưa thể dừng yên được những tìm kiếm lăng xăng của mình.  Và trong cuộc sống, chúng ta lại có thói quen thay thế những lăng xăng này bằng những lăng xăng khác.  Mà bạn biết không, cho dù chúng có là vi tế hay tốt đẹp hơn thì đó cũng vẫn là những lăng xăng.
Nhưng nếu như ta không làm gì hết, và cứ để yên cho những lo nghĩ và bất an của mình, thì chúng sẽ ra sao bạn hả?  Bạn biết không, tôi được dạy rằng, nếu như ta biết buông bỏ cái thái độ mong cầu của mình, để cho cái nghe, cái thấy của mình được trong sáng tự nhiên trong giờ phút này, không can thiệp vào, thì mọi bất an đều có khuynh hướng tự nó sẽ trở thành an.  Chúng không cần gì đến sự can dự hay một sự tập luyện nào của mình.  We need to learn how to step out of our own way.
Đào hồng tự nở hoa
Sáng nay là một ngày đầu tiên của mùa xuân.  Vậy mà mới mấy hôm trước, trời đổ một cơn tuyết lớn ngập trắng khu vườn, lấp kín lối đi ngoài sân.  Tuyết phủ trắng xóa những cành cây khô trong khu rừng nhỏ.  Đất trời của một ngày tuyết đang rơi thật yên lắng, không gian tĩnh và đẹp.  Sáng nay nắng lại lên, tuyết tan, bước ra ngoài vườn tôi thấy trên cành khô có những nụ hoa tím nở tự lúc nào không hay, dưới ánh nắng trong sáng ban mai đẹp mới tinh.
Tôi nhớ bài thơ của thầy Nhất Hạnh lấy ý từ một công án Thiền của vua Trần Nhân Tông.
Bạn là khu vườn của tôi
Và tôi thường nghĩ tôi là người chăm sóc
Nhưng mới sáng hôm qua thôi
Mắt tôi vừa thấy
Một khu vườn xưa, rất xưa
Không hề có ai chăm sóc
Vậy mà
Khi Xuân về
Chẳng biết tại sao
Đào lý vẫn đơm hoa.
Chúng ta có cần phải lao tác tìm kiếm gì không bạn hả, hay chỉ cần để cho tất cả được trong sáng tự nhiên mà thôi, và lý trắng đào hồng sẽ tự chúng nở hoa…

“Vườn xưa vắng mặt người chăm sóc
Lý trắng đào hồng tự nở hoa.”
Nguyễn Duy Nhiên

free hit counter

Kéo rụng bao nhiêu sao?

Tôi thích được đứng thật yên ngoài hiên thiền đường để nhìn mây trắng phủ kín núi rừng. Tôi thích được nghe tiếng chuông báo chúng của Sư Chú mỗi sáng, mỗi chiều, thong thả vọng xa trong không gian. Tôi thích được nhìn một cánh chim nhỏ lơ lững đứng yên giữa khung trời chiều mênh mông.
    Tôi thích được nhìn bầu trời đêm của rừng núi lấp lánh ngàn vạn vì tinh tú vụn vỡ. Tôi thích được ngồi dưới cội cây già nhìn xuống phố thị xa xăm có trăm ngàn ánh đèn lấp loáng như những châu báu ngọc ngà trong truyện thần thoại.
    Tôi thích những buổi sáng đi thiền hành giữa rừng đan mộc, có hàng cây cao trăm tuổi ngước mặt nhìn không thấy ngọn. Tôi thích được lang thang trong những khu rừng già tối âm u thỉnh thoảng có vài vệt nắng như từ thiên đường rọi xuống.
    Tôi thích được ngắm những buổi chiều hoàng hôn nắng nhuộm vàng rừng núi. Tôi thích được nhìn ra vịnh biển xa xôi có bọt sóng viền trắng bờ. Tôi thích nắm giữ lại một vài giọt ánh trăng trong lòng bàn tay.
    Tôi thích đọc những bài chia sẻ rất thật lòng mình như tâm hồn của một vị tu sĩ mới xuất gia. Tôi thích những bước chân vững chãi, tự nhiên và nhẹ như cỏ lá của một người cư sĩ, bước vào rừng không động cỏ, vào nước không dậy sóng, bước tới thảnh thơi.
    Tôi thích được trèo lên những tảng đá nằm thật yên ngủ quên rồi thấy mình là mây trôi vào Phương Vân Am. Tôi thích con đường thiền hành sáng nay có mây kéo vào che kín lối đi. Tôi thích cõi tịnh độ của tôi, nào có khác gì hơn bây giờ và ở đây đâu?
    Tôi thích những ngày có mây mưa trôi ngang qua tàn lá của rừng già, chợt hóa thân thành ngàn giọt nước mát rơi rụng xuống ướt vai. Tôi thích ngồi yên bên vách đá buổi trưa nghe tiếng của thinh lặng rơi trong không trung.
    Tôi thích được ngồi trong cốc nhỏ bằng gỗ của một ẩn sĩ nghe kể chuyện ngày xưa, rồi một lần rời xa phố thị. Tôi thích những con đường thiền hành nhỏ quanh co có chênh vênh ghềnh đá. Tôi thích được nằm xuống ngủ thật yên dưới bầu trời khuya có hàng thông đứng im in bóng trên nền trời đầy sao vang tiếng rừng đêm.
    Tôi thích những hôm có vài áng mây trắng về ngủ yên trên mặt biển. Tôi thích được thấy lại mình trong một chú tiểu nhỏ, ngồi im lặng trong thiền đường ngước lên nhìn Phật. Tôi thích được nhìn bình minh mọc trên biển, hoàng hôn về trên núi.
    Tôi thích đặt chân trên con đường thiền hành thật êm lót bằng lá đan mộc nhỏ như lá me. Tôi thích những đóa hoa rừng màu vàng, tím mọc hai bên đường giữa mùa đông. Tôi thích được ngắm một con chim xanh thật lạ về đậu trên tảng đá dưới một cội cây già.
    Tôi thích hóa thành mây bay ra biển rồi trở về làm mưa tươi mát núi rừng. Tôi thích được ngồi uống trà với người bạn quen, cuộc đời cũng có lúc ấm như những ngày mưa mùa đông qua núi.
    Tôi thích được bước qua Tổ đường và biết rằng ngàn đời sau người xưa vẫn có mặt trong mỗi bước chân ta đi. Tôi thích được làm chú tiểu của Huyền Không, chùa xưa mái ngói cũ, trèo lên nắm cây sào, đêm khuya rồi không ngủ, kéo rụng bao nhiêu sao?
    Tôi thích được nghe những câu chuyện về tấm lòng của các vị thiền sư ngày xưa, bao dung và độ lượng, sẵn sàng nhận lãnh hết mọi chê bai và khổ đau của cuộc đời.
    Và nếu như bạn có trách tôi sao vẫn còn ưa thích nhiều quá, thì cũng đành chịu thôi. Tôi thì thích được ngồi thật yên để thấy, để nghe, để cảm nhận trọn vẹn cuộc đời này, và đôi khi là để làm những gì mình thích. Hạnh phúc chỉ là đơn sơ và giản dị thế thôi.
Nguyễn Duy Nhiên

free hit counter

Vâng, Ông già Noel là có thật!



Trong suốt nhiều thập niên qua, vào mỗi cuối năm dương lịch, các tờ báo ở Mỹ thường cho đăng lại một lá thư trả lời cho một cô bé 8 tuổi tên là Virginia, gởi cho tờ The New York Sun vào năm 1897. Trong thư cô bé hỏi: "Santa Claus có thật không?Và lá thư trả lời ấy đã được rất nhiều người biết đến, mỗi năm thường được các tờ báo in lại với tựa đề, "Yes, Virginia, there is a Santa Claus."  

    Lá thư trả lời của tờ The New York Sun viết cách nay đã hơn 100 năm, nhưng mỗi lần đọc lại tôi thấy vẫn còn mới tinh, sự thật ấy vẫn không hề thay đổi. Tôi nghĩ những lời chia sẻ ấy không phải chỉ nói về một ông Noel, mà có lẽ còn cho hết tất cả những điều kỳ diệu khác đang có mặt trong cuộc sống.

    Xin được chia sẻ với các bạn, tất cả những Virginia ở mọi lứa tuổi.
--- oOo ---
Kính chào bác chủ bút —
Cháu được 8 tuổi.  Một vài đứa bạn nhỏ của cháu nói rằng Ông già Noel không có thật.  Ba cháu nói, “Nếu con đọc trên báo The Sun, tức là có thật.” Xin ông nói sự thật cho cháu biết, ông già Noel có thật hay không?
Virginia O’Hanlon 
Cháu Virginia mến, những đứa bạn nhỏ của cháu đã lầm rồi. Chúng đã bị ảnh hưởng bởi cái tánh nghi ngờ của một thời đại có quá nhiều hoài nghi ngày nay. Chúng không tin trừ khi nào chúng phải thấy. Chúng nghĩ rằng, những gì mà đầu óc nhỏ bé của chúng không hiểu được là không thể nào có thật. Nhưng cháu biết không Virginia, tất cả những trí óc, dầu của người lớn hay trẻ con, đều là rất nhỏ bé. Trong cái vũ trụ bao la, rộng lớn này, sự hiểu biết của con người chỉ là một con kiến bé tí ti, so với cái thế giới vô tận chung quanh mình, thì làm sao ta có đủ trí thông minh để tiếp nhận hết tất cả những sự thật được.
    Vâng, Virginia, ông già Noel là có thật. Ông hiện hữu rõ rệt cũng như là tình thương và sự rộng lượng và sự chân thành đang có mặt. Và như cháu biết, những điều ấy rất đầy dẫy chung quanh và chúng mang lại cho cuộc sống của cháu những điều tốt đẹp và hạnh phúc nhất. Than ôi, nếu như thế giới này không có Ông già Noel thì cuộc sống này buồn thảm đến dường nào! Nó cũng sẽ rất là ảm đạm nếu như cuộc sống này không có những đứa trẻ như cháu vậy. Thế giới này sẽ không có những niềm tin của trẻ thơ, không thơ phú, không tình yêu với mộng mơ để làm cuộc sống này tươi đẹp hơn. Chúng ta không có gì để vui và thưởng thức nữa hết, ngoại trừ qua những gì mình thấy và nghe. Ngọn lửa trong sáng của tuổi thơ làm sáng đẹp cuộc đời này sẽ bị dập tắt ngấm.
    Nếu như không tin vào Ông già Noel, thì thôi cháu cũng đừng tin vào những ông bụt, bà tiên nữa làm gì. Cháu có thể nói Ba cháu thuê người canh chừng xem Ông già Noel có trèo xuống những ống khói vào đêm Noel không, và cho dù nếu như cháu không thấy ai hết, nhưng việc ấy có chứng minh được điều gì chăng? Chưa ai thấy Ông già Noel bao giờ hết, nhưng cũng đâu có dấu hiệu gì chứng minh là không có Ông già Noel đâu!
    Cháu biết không, những điều chân thật nhất trên cuộc đời này là những gì mà cả người lớn và trẻ con đều không thể thấy được. Cháu có bao giờ thấy những bà tiên chưa? Lẽ dĩ nhiên là không, nhưng đâu ai có thể chứng minh là các vị ấy không hiện hữu. Không ai có thể nhận thức hay tưởng tượng được những sự kỳ diệu có mặt trong thế giới này, chúng là những gì ta không thấy và cũng sẽ không thể nào thấy được. 
    Cháu có thể đập vở cái lục lạc đồ chơi trẻ con ra xem, và nhìn thấy được những gì bên trong đã tạo nên những âm thanh ấy. Nhưng có một tấm màn che phủ một thế giới vô hình mà cho dù một người khỏe nhất, hoặc là tất cả những người mạnh nhất trên thế giới này góp sức lại, cũng không thể nào vén mở lên được. Chỉ có niềm tin, thơ văn, tình thương, ước mơ... mới có thể vén mở được tấm màn ấy, và cho ta thấy được những điều kỳ diệu và nhiệm mầu đang nằm ở phía sau. Mà tất cả điều ấy là có thật hay không? Cháu biết không Virginia, trên tất cả thế giới này, không còn có gì là chân thật và chắc chắn hơn là điều ấy.
    Ông già Noel, cám ơn trời đất, ông hiện hữu và vẫn sẽ còn có mặt mãi mãi. Một ngàn năm sau này, mà cháu biết không Virginia, 10 lần hơn thế nữa, 10,000 năm sau kể từ bây giờ, Ông già Noel vẫn còn có mặt và tiếp tục mang niềm vui đến cho những con tim của các trẻ thơ như cháu.
Nguyễn Duy Nhiên phỏng dịch
free hit counter

cái thấy và cái chấp

Có lẽ chúng ta ai cũng đều biết câu truyện người mù sờ voi.  Một hôm có một vị vua ra lệnh cho người hầu mang một số những người bị mù từ thuở bé tụ họp lại ở một nơi.  Sau đó vua cho sai đem một con voi đến để cho các người mù nhận diện. 
    Người mù thứ nhất được sờ đầu của con voi, người mù thứ hai được sờ lỗ tai con voi, và rồi những người mù khác tuần tự được sờ vòi của voi, thân, ngà, chân và đuôi của nó. 
    Sau đó vì vua hỏi, “Này các ông, các ông hãy nói cho ta nghe, con voi giống như thế nào?”  Và mỗi người mù trả lời theo kinh nghiệm của chính mình: con voi giống như là một bình tưới nước, một cái đòn xóc, như một cây quạt, một cái thúng sàng thóc to, một cây cột, một cây chổi.
    Chắc bạn cũng đã được nghe câu truyện ấy nhiều lần rồi, nhưng có lẽ ít ai biết rằng câu truyện ấy được ghi chép trong Trường Bộ Kinh và Tiểu Bộ Kinh.
Ý nghĩa của câu truyện
Và theo bạn nghĩ, câu truyện người mù sờ voi ấy muốn dạy ta điều gì?  Phải chăng ý muốn nói rằng bất cứ một vấn đề nào cũng có nhiều khía cạnh khác nhau, mà cái biết của chúng ta thì chỉ giới hạn trong một kinh nghiệm rất cá nhân của mình?  Hay là, cái thấy hoàn toàn tùy thuộc vào sự tiếp xúc và kinh nghiệm của mỗi người?
    Nhưng tôi nghĩ nó sâu xa hơn thế. Trong kinh kể tiếp là những người mù ấy bắt đầu tranh cãi với nhau về sự thật của con voi là như thế nào, “Con voi giống như cây quạt, chứ không thể giống như cây chổi được!”, “Nó là như thế này chứ không phải là như thế kia!”  Và sau một hồi tranh cãi, cuối cùng những người mù ấy nổi giận, lao vào và đấm đá lẫn nhau.
    Có lẽ câu truyện ấy không phải chỉ đơn giản nói rằng mỗi chúng ta ai cũng có một ý kiến, nhận thức khác nhau về một việc gì đó.  Thật ra đó cũng là chuyện bình thường thôi, vì mỗi chúng ta cũng chỉ có thể biết được qua kinh nghiệm của chính mình, và nó thì rất là giới hạn.  Và vì thế, nếu như chúng ta có sự tranh luận với nhau, thì cũng là chuyện dĩ nhiên.
    Nhưng có lẽ bài kinh ấy muốn nhắc nhở rằng, vấn đề bắt đầu phát khởi khi chúng ta cho rằng chỉ có cái thấy của mình mới là đúng và là duy nhất.  Và cái chấp ấy dẫn đến sự “đâm chém lẫn nhau bằng binh khí của miệng lưỡi” như theo lời diễn tả trong kinh.
Vấn đề không phải do cái thấy mà là cái chấp
Và vì vậy, tôi nghĩ gốc rễ của vấn đề không phải là do cái thấy của chúng ta có giới hạn, nhưng là vì chúng ta đã nắm bắt và cố chấp vào nó như thế nào.
    Chúng ta ít có thể nào có một cái thấy, cái nhìn giống y như nhau.  Mà thật ra trong cuộc sống đầy biến đổi này thì cũng đâu có một sự thật nào là sẽ đúng hết cho mọi hoàn cảnh, mọi trường hợp đâu, phải không bạn?  Chúng ta sẽ có những ý kiến khác nhau, và đó cũng là chuyện tự nhiên thôi. Nhưng ta cần nhớ đừng nên cho rằng sự thật chỉ có thể là như cái thấy của mình!
    Tôi nhớ trong kinh, có lần Phật cũng đề cập đến vấn đề này.  Phật bảo rằng những cái biết của những người khác không hẳn là sai lầm. Phật cũng thấy được những quan điểm khác nhau ấy, nhưng điều khác biệt là Ngài không bị mắc kẹt vào đó.  Trong kinh Phạm Võng, Phật có nói “Duy chỉ Như Lai biết rõ những cơ sở quan điểm này được nắm bắt như vậy, được giữ chặt như vậy, và cũng biết sẽ có báo ứng như vậy…  Tuy biết nhưng không bị chấp trước.   …Do không bị chấp trước nên được gọi là Như Lai.” 
    Phật thấy được hết tất cả những quan điểm và cái nhìn khác nhau, và chúng tuy không hoàn toàn sai trật, nhưng điều khác biệt với những người khác là Phật không bị kẹt và chấp trước vào một cái thấy nào hết.
Bao dung và rộng mở
Tôi nghĩ, câu truyện người mù sờ voi không phải chỉ đơn giản nói rằng, bất cứ một việc gì cũng đều có nhiều phương diện khác nhau, nhưng còn muốn nhắc nhở ta rằng chính vì sự nắm bắt và cố chấp của ta mà đã tạo nên đủ mọi thứ khổ đau cho nhau. 
    Vì vậy, chúng ta hãy cứ cùng chia sẻ với nhau những cái thấy và kinh nghiệm của mình về một vấn đề nào đó, nhưng nhớ đừng bao giờ cho đó là Tôi, hoặc của Tôi, và rồi ta thấy rằng mình cần phải bảo vệ nó bằng mọi cách.
    Có một câu truyện kể rằng, có lần Ma vương và Phật hóa thân ra hai người thường và cùng đi dạo với nhau trên đường.  Cả hai thấy có một người đang đi phía trước.  Anh ta đang đi bổng dừng lại và nhìn thấy một vật gì đó sáng lóng lánh dưới đất, anh cúi xuống nhặt vật ấy lên xem, lộ vẽ vui mừng và cất vào túi áo của mình.  Phật quay sang hỏi Ma Vương, “Ông biết người ấy nhặt được cái gì đó không?”  Ma Vương đáp, “Biết chứ, anh ta nhặt được một mảnh của chân lý.”  Phật hỏi tiếp, “Thế ông không sợ là anh ta sẽ biết được chân lý sao?”  “Tôi không sợ đâu Ngài, vì tôi biết rằng anh ta sẽ giữ gìn mảnh chân lý nhỏ bé ấy và cho đó là toàn thể chân lý!”
    Con đường của Phật là để chuyển hóa khổ đau, và chính sự chấp trước của ta là nguyên nhân chánh của khổ đau.  Tôi nghĩ, mục đích của sự tu học là để giúp ta bớt đi những cái chấp ấy, có được một thái độ rộng mở và bao dung hơn.  Nó giúp ta có được một cái thấy, cái nhìn rộng lớn hơn đối với cuộc sống này. 
    Và nếu như mình chưa có một cái thấy chân chánh và rộng mở, thì hạnh phúc nào đó mà ta đang có, cũng khó có thể là một hạnh phúc chân thật, phải không bạn?
Nguyễn Duy Nhiên

free hit counter

hạnh phúc đơn sơ

Tôi đứng ngoài hiên cốc, nhìn xuống phía dưới kia là một thung lũng rộng, mênh mông đất trời.  Xa xa là những cánh đồng cỏ xanh vàng trải dài tít đến tận bìa rừng.  Sáng nay trời không có sương mù, tôi có thể nhìn được những làn mây trắng mỏng vướng ngang các ngọn đồi chập chùng ở cuối chân trời.  Đứng đây nhìn xuống, tôi thấy một không gian thênh thang xanh mát.  Xa xa, có một xóm nhà vách đá, mái ngói đỏ nằm xinh xắn giữa một cánh đồng cỏ ngút ngàn.
Ngoài hiên cốc mây
Ngôi cốc nhỏ nằm trên một dốc đồi, xây bằng gỗ, nhỏ nhắn, giản dị. Cuộc sống ở nơi này đơn sơ như những đóa hoa cỏ vàng, tím mà tôi thường gặp trên con đường đi mỗi sáng.  Tuy đơn sơ nhưng chúng chứa đựng đầy đủ sự tươi mát của thiên nhiên, như giọt nắng, hạt sương của buổi sớm mai.
Tiếp xúc với thiên nhiên thường mang lại cho tâm hồn ta một sự nhẹ nhàng, thư thái. Trong cuộc sống bận rộn ở thành phố, mỗi ngày đi từ nhà, ra xe, đến sở làm, chúng ta chỉ có dịp tiếp xúc với những con đường trải nhựa, những bãi đậu xe xi-măng, hay những tầng cao ốc che khuất bầu trời…  Chúng ta ít khi có dịp nào đi trên những con đường đất nhỏ giữa rừng cây và suối nước, hay leo lên những con đồi cỏ, nghe tiếng chim hót trong sương sớm, hay cùng đứng yên với nhau nhìn một mặt trời đỏ hoàng hôn. Không làm gì hết, nhưng tôi không hề cảm thấy lãng phí thời gian.
    Sống ở đây tôi thấy mình thật gần gũi với những cọng cỏ và cánh hoa rừng.  Cạnh chiếc giường nhỏ của tôi, được ghép lại bằng vài miếng ván dài, bên ngoài cửa sổ có một con ong bầu màu đen làm tổ, có những buổi sáng tôi thấy mình dậy sớm hơn nó.  Những sáng tinh mơ trên đường xuống thiền đường, tôi đi ngang qua một bụi cây biết hót, rộn rã tiếng chim.
Xa cuộc đời nhưng gần sự sống
Ở miền này có rừng cây xanh mát, có những đồng cỏ mênh mông, có con đường nhỏ uốn quanh co khuất sau những rừng cây xanh và những ao nước nhỏ in hình bóng chiếc cầu đá.  Sự bình dị ở nơi đây cũng đã làm thay đổi phần nào quan niệm của tôi đối với sự sống.  Tôi hiểu được rằng, cuộc sống của mình không cần có nhiều nhu cầu như tôi vẫn tưởng. 
    Những ngày ở đây, đồ dùng hằng ngày của tôi gồm có một quyển tập viết, hai cây bút chì và mực, một chai nước lọc và dăm ba bộ quần áo. Nếu mình không biết đủ thì có lẽ mình sẽ không bao giờ cảm thấy là đủ cả.  Một lối sống đơn sơ giúp cho tôi cảm thấy gần gũi hơn với hiện hữu chung quanh.  Những khi đi một mình trên con đường cạnh làng, tôi nhìn thấy được giọt nắng thủy tinh trong một hạt sương, một cánh đồng hoa dại bồng bềnh trong gió, nghe tiếng suối chảy róc rách pha lê trong một khu rừng bên cạnh. 
Mỗi sáng chúng tôi đi với nhau trên một con đường mòn cạnh một bờ nước, qua những khu rừng xanh lá, mà chẳng dẫn chúng tôi đến một nơi nào hết.  Trong cuộc sống thường ngày, tôi đã quen đi từ nơi này đến một nơi kia bằng những phương tiện nào hữu hiệu nhất, nhanh chóng nhất, nhằm mục đích tiết kiệm thì giờ.  Và chúng tôi tiết kiệm thì giờ để có thêm thời gian, nhưng rồi chỉ cảm thấy cuộc đời mình lại càng bận rộn hơn.
    Có một buổi chiều, trên con đường về làng, tôi dừng lại, ngồi theo dõi một con ốc sên chậm chạp bò từ phía bên đây đường sang bên kia, như là nó có cả một thời gian bất tận chứa đựng bên trong chiếc vỏ mỏng manh của nó, và sẵn sàng chia sẻ hết với tôi. Cuộc sống ở đây dạy cho tôi thấy được rằng giọt nắng, hạt sương, hoa cỏ dại, con ốc cũng cần thiết cho sự an lạc của tôi như bầu không khí chung quanh mình.  Và tôi cũng hiểu, sự sống này không cần phải vội vã như tôi vẫn tưởng.
Trăng sao thật sáng
Tôi đứng yên ngoài hiên, nhìn xuống phía chân trời xa, tôi thấy những ngọn đồi chập chùng lờ mờ trong mây.  Tôi nhớ một bài thơ của thi sĩ Nhật bản Nanao Sakaki, có tựa đề Kẻ khờ may mắn hạnh phúc, Happy Lucky Idiot.
  Nếu bạn có thì giờ để tán gẩu
  Hãy ngồi đọc sách
  Nếu bạn có thì giờ đọc sách
  Hãy tản bộ vào núi sâu, sa mạc và biển lớn
  Nếu bạn có thì giờ để tản bộ
  Hãy múa ca
  Mà nếu như bạn có thì giờ để múa ca
  Thì hãy ngồi yên đi,
  này bạn, một người khờ may mắn và hạnh phúc.
Nanao Sakaki
    Ngoài hiên có treo một chiếc võng nhìn xuống phía dưới đồi. Trưa nay trời có gió nhẹ, tôi muốn được lên đấy nằm ngủ một giấc. Chiều nay tôi sẽ pha một ấm trà nóng, ra đây ngồi yên. Ở miền quê trời có trăng sao thật sáng.
nguyễn duy nhiên
free hit counter

Tự tin vào phút hiện tại

Bước đầu trên con đường tỉnh thức là trở về có mặt trọn vẹn với giây phút hiện tại. Nhưng có một điều cản trở khiến chúng ta khó trở về được với những gì đang thật sự có mặt, đó là những mong cầu của mình.
Một sự trở về trọn vẹn
Chúng ta thường nghĩ rằng, khi mình thấy biết được những gì đang xảy ra, là ta đang trở về với bây giờ và ở đây.  Nhưng thật ra, nếu như ta thấy biết với một sự mong cầu nào đó, muốn sự việc được khác hơn như nó đang là, thì đó không thể là một sự trở về trọn vẹn.
    Thường thì, nếu như trong giờ phút này ta đang có những lo lắng muộn phiền, thay vì trong sáng nhìn thấy rõ điều ấy, ta lại chỉ muốn làm sao cho nó được khác đi. Và nếu như giây phút này đang là dễ chịu, an vui, ta sẽ muốn giữ cho nó được dài lâu. Nhưng có một điều chắc chắn là mỗi khi ta mong muốn thực tại này phải được như thế nào đó, thì nó sẽ mang lại cho ta những khổ đau không cần thiết.
    Chúng ta thường tiếp xúc với những gì đang có mặt, dựa trên ký ức (memory) và những kinh nghiệm sẵn có của mình. Nhưng muốn có được một sự tỉnh giác, và hạnh phúc thật sự, ta phải thấy rõ được thực tại như nó đang là, và không để những kinh nghiệm trong quá khứ làm lu mờ đi những gì đang có mặt.
Tự tin vào giây phút hiện tại
Theo thầy Shyalpa Tenzin Rinpoche, tác giả quyển Sống trọn vẹn (Living Fully), thì thật ra vấn đề sống với thực tại cũng không khó như ta tưởng, nếu như chúng ta biết tin vào khả năng và sự trong sáng sẵn có của mình, vì nó có khả năng ứng phó với mọi vấn đề mà không cần đến sự can dự của ta.
    Shyalpa Rinpoche có chia sẻ với bà Marsha Lucas, một bác sĩ tâm lý học, rằng những ký ức, kinh nghiệm trong quá khứ có thể là một trở ngại không cho phép ta tiếp xúc được với những gì đang xảy ra. Theo ông thì chúng ta chỉ cần biết tự tin vào sự trong sáng sẵn có của mình, và nó bao giờ cũng có mặt trong giờ phút hiện tại.
Shyalpa Tenzin Rinpoche: Trước và quan trọng hơn hết, chúng ta phải tiếp xúc được với tất cả những gì có mặt bên ngoài, chung quanh ta. Vì vậy, cho dù đó có là do ở những gì ta thấy, ta nghe hay cảm nhận, ta phải liên kết chúng được với lại những gì đang xảy ra ngay trước mặt mình. Nhưng đối với những gì xảy ra, chúng ta lại thường có khuynh hướng chồng thêm lên trên đó một cái gì khác nữa. Vì thế những gì ta nghĩ là đang biểu hiện, nhưng thật sự lại không hẳn là như thế.
   Và trong giây phút ta nghĩ rằng, “Có lẽ đây chỉ là một phóng tưởng (projection) mà thôi”, thì lập tức ta có cơ hội để tiếp xúc lại được với những gì đang thật sự có mặt. Và nó sẽ không còn có khả năng gây phiền não hay làm ngăn trở ta.
    Sự bất an phát sinh là do một nỗi sợ hãi. Và ký ức (memory) được đặt trên nền tảng của sự bất an. Nếu như ta không có sự bất an, ta sẽ không cần đến ký ức. Nếu như ta có tự tin 100% là mình có khả năng xử lý bất cứ một việc gì, trong bất cứ lúc nào, ta sẽ không cần đến ký ức.
Marsha Lucas: Tôi có thể hiểu được rằng chúng ta không cần ký ức, trí nhớ, thu thập những tin tức và dữ kiện, để tỏ vẽ như mình là một người biết nhiều và thông minh. Nhưng còn những ký ức giúp cho ta nhớ lại được những gì đã mang cuộc đời mình đến nơi đây, ngày hôm nay, trong giờ phút này thì sao?
    Như ông và tôi, mỗi người chúng ta đều có một quá khứ về nơi mình sinh ra, những kinh nghiệm về được nuôi dưỡng, lớn lên như thế nào, lập gia đình, và còn nhiều thứ nữa. Tất cả những kinh nghiệm ấy đều đang tàng chứa trong mỗi chúng ta.
Shyalpa Tenzin Rinpoche: Nhưng những ký ức đó không hề giúp cho chúng ta có hạnh phúc. Chúng lại còn khiến cho ta buồn phiền nữa.
Marsha Lucas: Tôi phải bất đồng ý kiến với ông về điểm này. Tôi nhớ lại những ký ức đẹp và đầy hạnh phúc tôi có khi tôi và chồng tôi làm lễ thành hôn với nhau. Làm sao những việc ấy lại có thể khiến cho tôi thêm buồn phiền được?
Shyalpa Tenzin Rinpoche: Vì khi cô nhớ đến kỷ niệm đó, cô muốn được trở lại kinh nghiệm giây phút ấy, muốn giữ được nó mãi mãi.
Marsha Lucas: À, thì ra vì có một sự mong cầu, một sự dính mắc vào với cảm giác ấy. Tôi liên tưởng đến những thiền sinh khi mới bắt đầu học thiền. Họ có một thời gian mà họ bắt đầu cảm thấy rất an lạc, hạnh phúc, và rồi họ trở nên bức xúc và nản chí khi họ không có lại được cảm giác ấy mỗi khi ngồi thiền.
Shyalpa Tenzin Rinpoche: Điều đó cũng rất thông thường. Người Tây tạng chúng tôi gọi đó là nyam, kinh nghiệm nhất thời. Nyam cũng giống như sương vậy. Nó không hiện hữu dài lâu.
    Nhưng tôi không hề nói là có gì sai lầm với ký ức hết. Điều mà tôi muốn nói là có một cái gì đó sâu sắc hơn. Thật ra, không có một điều gì mà ta không thể hiểu được, chỉ cần ta có sự tự tin vào tự tánh trong sáng của mình.
    Có mặt với thực tại đòi hỏi nơi ta một niềm tin và một dũng lực rất lớn. Và cũng nhiều khi vì ký ức của mình, mà chúng ta thiếu tự tin vào sự có mặt trong giờ phút hiện tại.
Nguyễn Duy Nhiên

free hit counter

bình thường giữa vô thường

Cuộc sống bao giờ cũng có những đổi thay.  Có những đổi thay xoay chậm và từ tốn theo thời gian như bốn mùa, và cũng có những biến đổi nhanh đến bất ngờ.
Life changes fast.
Life changes in the instant.
The ordinary instant.
You sit down to dinner and life as you know it ends.
Cuộc sống đổi thật nhanh.
Cuộc sống thay đổi trong phút chốc
Trong một giây lát bình thường.
Ta ngồi xuống buổi ăn chiều
  cuộc sống mà ta vẫn thường biết, chấm dứt.
Bà Joan Didion viết những dòng ấy trong nhật ký của mình.  Vào một chiều mùa đông, sau khi hai vợ chồng bà vừa mới trở về từ nhà thương thăm đứa con gái đang bị hôn mê. Hai người đang sửa soạn cho buổi ăn chiều.  Lúc ấy, chồng bà bất ngờ bị một cơn động tim dữ dội, và ông qua đời trên đường chở vào bệnh viện.  Trong một giây lát bình thường, cuộc đời của bà đã hoàn toàn thay đổi.
    Bà viết, "Cuộc sống đổi thay trong phút chốc, trong một giây lát bình thường.  Nhưng tôi nghĩ có lẽ mình không cần thêm vào hai chữ 'bình thường' vì nó không cần thiết.  Cuộc sống tự nhiên là như vậy.  Khi đối diện trước một tai nạn lớn nào đó bất ngờ xảy ra, chúng ta bao giờ cũng chỉ nhớ đến những sự việc 'bình thường', không có gì là đặc biệt, trước khi biến cố ấy xảy ra: bầu trời trong xanh khi chiếc máy bay rơi, con đường quen thuộc khi chiếc xe bị tai nạn, chiếc xích đu vẫn thường ngày khi đứa bé bị ngã...  Ngay cả trong bài tường trình của Uỷ Ban Điều Tra 9/11 cũng diễn tả với những chi tiết bình thường này 'Thứ ba, ngày 11 tháng 9, 2001.  Một buổi sáng ôn hoà, gần như không chút mây trên bầu trời miền Đông Hoa kỳ.'  Tất cả đều là một ngày rất bình thường..."
Nhưng thật ra, cuộc sống có gì là bình thường chăng.
Bình thường nhưng không tầm thường
Ngày mưa trên mái hiên, nắng trưa qua con phố nhỏ, áng mây trôi trong tách cà phê buổi sáng, những chiếc lá bay rộn rả trên con đường lộng gió buổi chiều này...  chúng tuy bình thường, nhưng có bao giờ là tầm thường đâu bạn hả!
    Ông William Carlos Williams có viết một bài thơ,
          I have had my dream - like others -
          and it has come to nothing, so that
          I remain now carelessly
          with feet planted on the ground
          and look up at the sky -
          feeling my clothes about me,
          the weight of my body in my shoes,
          the rim of my hat, air passing in and out
          at my nose - and decide to dream no more.
Tôi cũng có những ước mơ - như mọi người -
 chúng không trở thành gì cả, vì thế
Tôi bây giờ chỉ thong dong thôi
với bàn chân vững vàng đặt trên đất
 ngước nhìn bầu trời -
cảm xúc quần áo trên người
sức nặng của thân trong đôi giày
vành nón, không khí ra vào
nơi mũi - và tôi quyết định không mơ tưởng nữa.
Bạn thử đoán xem tựa của bài thơ ấy là gì?  Có người đoán là "Một giấc mơ", có người nói là "Chánh niệm""Sống trong hiện tại", hoặc là "Sẽ không còn mơ mộng nữa"...  Bạn nghĩ sao?  Tựa của bài thơ ấy là Thursday.  Thật đơn giản và bình dị, Thứ Năm.  Ông Williams có được tuệ giác trong bài thơ ấy trong lúc đi dạo vào một ngày thứ năm bình thường.
    Trong một ngày bình thường, không có gì đặc biệt, tác giả trở về với thực tại, tiếp xúc với mỗi bước chân và những cảm giác đang có mặt, và ông quyết định sẽ buông bỏ hết những muộn phiền, suy tư của mình.  Ngày thứ năm hôm ấy của ông có lẽ cũng giống như một ngày bình thường hôm nay của bạn và tôi.
Thiền tập không phải để thay đổi trạng thái
Mà dường như chúng ta ai cũng ưa thích tìm kiếm những gì là “phi thường” bạn hả.  Như trên con đường tu học, chúng ta cũng thường mong tìm đạt những gì có thể giúp ta thay đổi được cái trạng thái “bình thường” của mình, như là mang lại cho mình một trạng thái an vui hay siêu việt nào đó chẳng hạn.
    Trong những ngày thiền tập tôi thường nghe người ta đặt câu hỏi rằng, trong lúc ngồi thiền chúng ta có thể chọn một hình ảnh đẹp, hay âm thanh êm dịu nào đó, để giúp mang lại cho mình một cảm giác thư giản và an tĩnh không?
    Ví dụ như là ta tưởng đến một bờ biển với tiếng sóng vỗ rì rào, hay nhìn một đóa hoa đẹp dưới nắng sớm chẳng hạn...  Tôi có một người bạn thường thích ngồi thiền trước một khung cửa sổ lớn để được nhìn ra bên ngoài, một không gian thênh thang.
    Những kinh nghiệm ấy chắc chắn sẽ mang lại cho chúng ta một cảm giác nhẹ nhàng, an tĩnh, tươi mát trong lúc ngồi, nhưng đó có phải là thiền tập không bạn?
Mà là để có mặt tự nhiên
Thật ra trong khi ngồi thiền ta chỉ cần thật sự ngồi nơi chỗ mình đang ngồi, và có mặt với bất cứ những cảm giác nào đang có trong ta.  Trong thiền tập ta không nghĩ tưởng về hơi thở hay bất cứ một đối tượng nào, mà chỉ cần biết cảm nhận và thấy ra được những gì đang có mặt.  Đó có thể là những cảm giác an vui, dễ chịu, và cũng có thể là những cái đau hay sự khó chịu trong thân tâm.
    Có vị thiền sư dạy chúng ta trong khi tiếp xúc với những gì đang xảy ra, đừng nên theo bài bản phương pháp quá, mà hãy để tất cả có mặt trong điều kiện tự nhiên.  Và khi cái thấy của mình đã được tự nhiên rồi, thì lúc đó chỉ có cái tâm trong sáng, định tĩnh mà thôi, còn đối tượng là gì, hay trạng thái nào, cũng không quan trọng.
    Mà bạn biết không, nếu như ta có khả năng yên được với chính mình ở nơi này, thì khi ngồi bên bờ biển, hoặc bên tách cà phê nóng, hay với ánh trăng bên cửa sổ, ta mới có thể thật sự tiếp xúc được với tất cả.  Còn nếu không thì ta cũng sẽ vẫn lại chỉ mơ tưởng về một tách cà phê hay một ánh trăng xa xôi, hoặc một nơi chốn xa vời nào khác mà thôi…
Một tâm máy móc
Tôi thấy ngày nay chúng ta cũng thường muốn sáng tạo thêm những phương tiện mới, để giúp cho con đường tu học của mình được dễ dàng và có nhiều hiệu quả hơn.  Nhưng đôi khi những sự tạo tác ấy lại có thể vô tình làm mình tách rời xa thực tại tự nhiên.
    Ông Trang Tử nói, người ta thường vì chỉ nghĩ tới cái ích lợi mà quên đi cái tâm bình thường trong sáng của mình.  Ông gọi cái tâm tính toán, tạo tác ấy là cơ tâm, một lòng máy móc.
    Thầy Tử Cống đi qua đất Hán Âm thấy một Ông lão làm vườn đang xuống giếng gánh từng thùng nước, đem lên tưới rau.
    Tử Cống nói:  Kia có cái máy một ngày tưới được hàng trăm khu đất, sức dùng ít mà công hiệu nhiều.  Cái máy ấy đàng sau nặng, đàng trước nhẹ, đem nước lên rất dễ, và tên gọi là "máy lấy nước”.
    Ông lão nói:  Lão nghe thầy lão nói rằng hễ dùng cơ giới thì tất có cơ tâm (lòng máy móc), có cơ tâm thì không còn sự trong trắng nữa nên tâm thần không yên ổn, tâm thần không yên ổn thì Đạo sẽ lánh xa, không che chở mình nữa.  Lão không phải không biết cái lợi, nhưng hể có cơ giới tức có cơ sự, kẻ có cơ sự tức có cơ tâm.  Lão đây có phải không biết ích lợi ấy đâu, chỉ nghĩ xấu hổ mà không muốn dùng vậy.
    Nhưng không phải ông Trang Tử khuyên chúng ta đừng nên sử dụng đến cơ giới đâu bạn.  Tôi nghĩ ông chỉ muốn nhắc nhở chúng ta nên thận trọng, vì những sự khôn khéo và tạo tác của mình dễ làm phát triển một cơ tâm, rồi đánh mất đi sự an ổn tự nhiên sẵn có trong ta.
Tâm bình thường thị đạo
Có lẽ vì vậy mà các thầy tổ thường khuyên chúng ta hãy nên lấy cái tâm bình thường mà học đạo bạn hả?  Chúng ta đâu cần đi tìm cầu những trạng thái phi thường, hoặc một pháp môn cao xa nào, mà đánh mất đi sự sống nhiệm mầu đang có mặt ngay trong mỗi khoảnh khắc bình thường và ngắn ngủi này.  Hãy tiếp xúc với tất cả bằng một cái thấy tự nhiên và trong sáng.
    Có lần thiền sư Basho đi một mình trên con đường quê nhỏ vào một buổi sáng mờ sương.  Có lẽ trời đang mưa phùn, những hạt mưa bụi nhẹ bay như sáng hôm nay.  Trên đường đi, ông nhìn thấy có một cái gì đó là lạ nơi hàng giậu cũ kỹ đổ nát bên đường, ông bước lại gần và thấy một cành hoa nazuna trắng đang nở.  Và trong giây phút ấy, ông bỗng chợt thấy mình trở thành là một với hiện hữu.
Ta nhìn sâu xa
Bên hàng giậu nở
cành Nazuna
(Nhật Chiêu dịch)
    Bạn biết không, lắm khi trong cuộc sống ta lại chứng nghiệm được sự mầu nhiệm, và thấy ra lẽ đạo, ở những gì mà mình cho là rất tầm thường...
Nguyễn Duy Nhiên

free hit counter

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.