An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân

chuyện bạn và tôi học phật 1

Bốn trọng ân
của người học Phật

            Bốn trọng ân này được Phật dạy là: ân Cha Mẹ, ân Chúng Sanh, ân Quốc Vương, ân Tam Bảo.
            Đầu tiên là ân Cha Mẹ.
            Thế gian học hiểu về ân nghĩa cha mẹ cũng thật tràn đầy. Điều này bất luận dân tộc nào cũng hài lòng và xưng tán; tuy nhiên thành thật mà nói dân tộc Á Đông có cái nhìn hiếu nghĩa cha mẹ, sâu đậm hơn người Tây phương. Chứng minh điều đó là lối sống đại gia đình của người Á Đông; con cái vợ chồng dâu rể thường khi sinh hoạt chung nhau trong một ngôi nhà, và lối dạy bảo trên nói dưới nghe, cha mẹ đặt đâu con ngồi đó vẫn còn được xem trọng ở một số nước Á Đông.
            Riêng gia đình người Tây phương việc này ít thấy xảy ra, có lẽ tinh thần tự do phóng khoáng của người Tây phương mạnh hơn. Nhưng khách quan mà nói, cả hai nền văn hóa, nhân sinh Đông và Tây có thể bổ túc nhau vẫn là đẹp nhất, nghĩa là cần chia xẻ học hỏi, tìm hay thấy dở cho nhau.
            Đời sống con người mà phóng khoáng quá không thể chấp nhận, cũng như bảo thủ cố chấp độc quyền quá lại chẳng phải là điều hay.           
            Dù thế xét chung thái độ giữ được nhân cách khiêm hạ, tôn trọng người, hợp luân lý gia đình, là việc tất nhiên của nhân loại, mà không phân biệt bất cứ quốc gia truyền thống nào.
            Trong những người thân nhất thì cha mẹ, ông bà phải được đặt cao hơn. Cuối cùng phải biết ghi ân những người đi trước, những thế hệ dòng dõi tổ tiên lâu đời của ta; như thế không cần phải phân biệt ngôn ngữ văn hóa của dân tộc này chủng tộc kia, mà tất cả đều được tôn trọng kính nhường thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Đó là đại khái cái nhìn hiếu đạo của thế gian.
            Đối với người xuất gia hiếu đạo được nhìn thêm một khía cạnh khác, khía cạnh hướng về giải thoát. Vấn đề này cũng tế nhị, thường làm ngộ nhận cho người chưa tìm hiểu giáo lý Thế Tôn.
            Người đời ít nhiều thắc mắc, tại sao đi tu lại nói là có hiếu? Xin thưa! Vâng, đi tu là có hiếu đó bạn, phải nói là hiếu lớn chứ không hiểu nhỏ đâu!
            Để góp ý thế nào là hiếu, tất nhiên phải biết hiếu của thế gian là thế nào?
            Hiếu thế gian, là phải thương lo cho cha mẹ đầy đủ những gì cha mẹ cần, lại không được làm buồn cha mẹ. Thưa bạn đúng như vậy! Tuy nhiên cũng khó nói lắm, vì nếu cha mẹ bạn già rồi không còn thọ dụng những vật chất như xưa nữa, thì bây giờ phải cung dưỡng cái gì cho cha mẹ? Bạn cho là tình thương! Tôi cũng đồng ý, nhưng thôi không cần phải nói dông dài, vì như bạn và tôi đã bàn qua về Luân hồi, Nhân quả từ trước; như vậy ngoài đạo Phật, ngoài giáo lý giải thoát bạn không còn cái gì khác có thể làm cha mẹ khỏi khổ.
            Ngay tại điểm này thôi, bạn đã thấy cha mẹ phải tuyệt đối cần học Phật, nghĩa là kết duyên với Phật pháp. Và nếu trên thế gian này không còn một ai tu Phật, không còn bóng dáng của Tam Bảo thì làm gì bạn biết Phật pháp mà cứu cha mẹ ra khỏi luân hồi. Như vậy nếu một người xuất gia mang tiếng là bất hiếu, nhưng giữ được hình bóng Tam Bảo, cho hàng vạn người có cơ hội hiểu biết Phật pháp, thì như vậy cái bất hiếu một người để cứu vạn người, đã thành có hiếu lớn, đó là hiếu giúp cha mẹ hiểu biết Phật pháp trước khi chết, như thế người xuất gia kia có còn là bất hiếu không? Cho nên phải nói rằng người biết đạo giải thoát đã là người có hiếu rồi, huống chi người đó lại là người xuất gia! Và tất nhiên khỏi phải nói chúng ta cũng dư biết, không ai lại nỡ bỏ cha mẹ đi tu, trong khi cha mẹ đang đói khổ; đi tu như vậy đã không có công đức mà còn bất hiếu nữa.
            Phải biết tùy duyên, và khi biết tùy duyên phương tiện, thì dù gần cha mẹ vẫn hành được pháp học của Như Lai. Đức Phật cũng đã dạy rằng, cha mẹ là hai vị Phật sống gần gũi chúng ta, và hạnh hiếu là hạnh cao cả nhất. Như thế phải hiểu vì muốn độ chúng sanh, vì muốn chúng sanh hiếu dưỡng cha mẹ rốt ráo nên mới duy trì Tam Bảo, mà duy trì Tam Bảo không cách nào hữu hiệu hơn, là tự thân mình phải là một trong Tam Bảo, đó là Tăng Bảo vậy. Chính thế trong kinh Hiền Ngu dạy rằng, không có công đức nào hơn công đức xuất gia.    
            Bây giờ bạn và tôi hãy nghĩ về nghĩa ân của cha mẹ ra sao?
            Thưa bạn chắc chắn ta không thể nào nói hết được ý nghĩa nuôi dưỡng này; ta chỉ đi vào vấn đề chính, nếu không có cha mẹ làm sao ta được thân người, và nếu không được thân người làm sao ta biết Phật pháp. Ta không cần phải tìm hiểu là cha mẹ ta cũng vì nghiệp báo sanh ra ta, hay ta vì nghiệp báo phải trở lại vay trả cha mẹ! Thưa không! Nếu ta nghĩ ngược đãi như vậy, thì tại sao ta không nghĩ, ta lại không sanh vào loài vật? Chừng ấy làm sao ta có thể biện luận thế này thế kia! Ta phải biết thực tế là ta đã được nuôi nấng bằng tình thương thật sự của cha mẹ, nên ta mới còn đến bấy giờ. Và quan trọng hơn hết là chính điều biết này, điều biết ân biết hiếu này, nên ta đã từng sanh vào loài người để có duyên tiến xa hơn; và hôm nay mới được đại duyên biết về đạo giải thoát.
            Thế thì cho dù ta lỡ sanh vào gia đình có nghịch cảnh với sự buồn lòng cha mẹ đi nữa ta cũng phải mang ân, vì chính ngay giờ phút hiện tại này ta đã biết đạo Phật, từ đó mới hiểu biết giáo lý luân hồi, để càng mừng rằng ta đã mang được thân người do cha mẹ sinh ra. Như thế ta không còn buồn giận cha mẹ nữa, mà còn nên thương yêu hiếu dưỡng cha mẹ để đưa cha mẹ ra khỏi luân hồi đau khổ. Kết lại người tu Phật đều phải nhớ ân cha mẹ, đó là đạo hiếu căn bản, để tiến tới đạo hiếu cao sâu giải thoát.
Ân chúng sanh:
            Nghĩ về ân nghĩa cha mẹ rồi, lại nghĩ về ông bà, nghĩ về ông bà, lại nghĩ về những bậc tiền nhân đi trước, rồi tiếp tục nghĩ về trước nữa, như thế ta lại thấy cả một vòng luân hồi mà tất cả chúng sanh đều là thân thuộc với ta.
            Nhưng nếu ta khó thể chấp nhận như vậy, thì ân của chúng sanh cũng phải cao chất ngất mà muôn kiếp muôn đời ta chẳng thể trả ân được.
            Ta thử suy nghĩ xem sao?
Hiện thời ta đang sống nhờ ai vậy?
            Nếu ta là chú bé, cô bé, câu trả lời là nhờ cha mẹ! Như thế có đủ chưa! Tuyệt đối mãi mãi là chưa đủ, và đừng nói gì là chú bé, cô bé; dù ta là người trưởng thành, trưởng thành lịch lãm, cũng phải nhờ vô số chúng sanh sinh hoạt chung quanh. Hay nói đúng hơn ta đang mắc nợ họ là khác, nếu như ta không thực hành đạo giải thoát, là nhớ ân chúng sanh.
            Trước nhất hãy xem con người chúng ta, được trưởng thành hôm nay ngoài ân cha mẹ ra phải nhờ đến ai? Cha mẹ chỉ ban cho ta tình thương, ngoài ra tất cả là của hết thảy chúng sanh.
            Trước hết là ta được thực phẩm thức ăn, nước uống để sinh tồn; nguồn thực phẩm này là do biết bao người đang cật lực làm việc tại các nơi nông thôn, nơi kinh đập... Từ nơi thực phẩm được trồng trọt hay chế biến, ta lại nhờ các anh khuân vác, đưa lên xe chuyển đến siêu thị cho ta mua. À! lại quên tính, khi giai đoạn chế biến, lại phải nhờ biết bao chúng sanh khác; nào là từ anh vệ sinh quét dọn đến người điều hành sổ sách, và còn liên hệ đến biết bao việc duy trì chế tạo trong kỹ nghệ sản xuất. Cuối cùng bao nhiêu nhân duyên là bao nhiêu người, mới có thể thành được một hộp phó mát (cheese), một ổ bánh mì, một lon cô-ca (Coca-Cola) cho ta thoải mái mà dùng.       
            Ta ít khi buồn tưởng tượng sự kỳ diệu, mỗi buổi sáng thức dậy chỉ bước vài bước vào phòng tắm, nhẹ tay vặn một cái, tức thì một dòng nước sạch trong mát chảy ra cho ta rửa mặt một cách khoan khoái. Có lẽ ta quên mất rồi, đó là cả một công trình dẫn nước và lọc nước tinh vi, từ những nơi hoang vắng mang về cung cấp cho ta. Và càng thật buồn rằng, cái mà ta chẳng để tâm đó là nước, lại là nguồn sống của con người, quan trọng cấp bách hơn cả thức ăn.
            Đó bạn thấy, mọi việc chung quanh bạn đâu phải tự nhiên mà có, rồi biết bao phương tiện khác kể ra đâu hết được. Như vậy nếu không có chúng sanh, hay nói rõ hơn, nếu không nhờ mọi người, làm gì ta được tồn tại, dù ta có làm ông gì đi chăng nữa.
            Thực tế đời sống của ta bắt buộc phải hiểu và thầm mang ơn tất cả. Đối với người tu Phật lại càng tâm nguyện ghi ân công đức vô vàn này. Cũng ý nghĩa này mà Phật dạy “phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật”.
            Tiếp theo ân chúng sanh là Ân Quốc Vương, ta có thể hiểu là ân quốc gia, nơi điều hành trị vì an ninh đất nước. Nếu là ngày xưa chế độ quân chủ, thì vị quốc vương là biểu tượng cho đất nước; dân chúng có được yên ổn có được giàu sang là do tài đức của vị quốc chủ này. Ngày nay chế độ điều hành quốc gia, do một số người đại biểu cho dân chúng lập nên, để chịu trách nhiệm an ninh quốc gia. Cho nên gọi chung là ân quốc gia. Thật ra ân quốc gia cũng là ân chúng sanh, vì cũng do chúng sanh lập thành, nhưng vì phải nói ân quốc gia vì trọng tâm của ân này là tạo cho ta sự an ổn, để ta mới có dịp đền đáp tất cả ân còn lại. Cho nên ân quốc gia thật quan trọng.
            Cuối cùng là Ân Tam Bảo, đây là ân nghĩa cao quý và khó trả nhất, nếu một chúng sanh ý thức được sự khổ đau luân hồi và đang trên con đường giải thoát.
            Vì sao phải cao cả như vậy? Bởi vì dù bạn và tôi có đền đáp ân cha mẹ, ân chúng sanh, ân quốc gia thế nào đi nữa, vẫn không thể đủ đầy được; vì cứ mỗi lần tái sanh mỗi lần trở lại gây ân đáp nghĩa, chưa nói còn gây tạo những duyên nợ khác, cho nên nhân quả tạo nợ với chúng sanh chỉ có tăng chứ khó thể giảm. Trừ khi ra khỏi luân hồi bạn mới có thể dứt trừ gây nợ chúng sanh, nhưng ngoài Tam Bảo việc gì có thể giúp ta ra khỏi luân hồi được? Do đó ân Tam Bảo là ân cao cả nhất, đủ đầy nhất. Như thế ân Tam Bảo đã bao gồm hết tất cả ân mà chúng sanh vay mượn. Tam Bảo dạy rằng cha mẹ, chúng sinh, quốc gia, thầy bạn đều là những vị thiện trí giúp ta cả hai mặt thuận nghịch đi đến con đường giải thoát.
            Một điều cũng cần nhắc thêm trong phần Ân Tam Bảo, đó là ân nghĩa Thầy Tổ, tức Tăng Bảo một trong ba ngôi Phật Pháp Tăng. Tất nhiên ba ngôi đều quan trọng, và quan trọng nhất là Phật Bảo. Nhưng ngay trong hiện thời học đạo giải thoát, hiểu được Tứ Ân kết duyên học đạo, chúng ta đồng ý rằng cần phải có một người làm tác duyên cho ta nương tựa, đó là vị Thầy hướng dẫn trên đường tu học. Tri niệm ân nghĩa này là điều làm cho ta thực hành trọn vẹn nghĩa ân Tam Bảo hơn.
            Thế thì ân nghĩa Tam Bảo quá lớn, nói thế nào cũng không diễn tả được, chỉ có tu niệm hành trì giáo điển giải thoát mới có thể đền đáp được phần nào. Cuối cùng kết luận rằng thành đạo chứng đạo mới trọn vẹn đền đáp tứ ân.









Sống chết theo thế gian
và xuất thế gian

            Thưa bạn, lại một chuyện tế nhị nữa rồi!
            Nhưng làm sao hơn, bởi đó là sự thật, sự thật con người sanh ra rồi chết đi, chết đi rồi sanh lại. Sự thật này bạn và tôi dư biết. Dư biết nhưng chưa chắc đã biết! Có khi biết đã muộn, hay chỉ biết có người chết, chứ mình thì chưa chết, nên chưa biết vậy!
            Trong đạo Phật, Phật giáo Tây Tạng rất thực tế vấn đề chết sống này; cho nên hầu như sách luận viết về Phật pháp các vị Đại sư nào cũng đều đề cập đến việc chết. Đề cập nhiều đến nổi Chết gần như là một pháp môn; pháp môn chuẩn bị cho con đường tái sanh, hay cho con đường vãng sanh vào đất Thánh.
            Phật giáo Trung Hoa, Việt Nam, Tích Lan, Thái Lan, Nhật Bổn cũng đề cập nhưng không nhiều, nếu có chỉ nhắc đến bằng cách hồi hướng nguyện đời sau, hay hãy thực tập đời này để có đời sau tốt hơn. Đó là cách tế nhị nói về cái chết, hay nói đúng hơn tế nhị này là phương tiện cho người sơ cơ vào đạo.
            Nhưng thưa bạn, thế nào đi nữa việc tế nhị này cũng phải bàn đến, và thay vì nói sanh tử, ta lại nói sống chết cũng vậy thôi.
            Bây giờ ta hãy bàn về quan niệm sống chết của thế gian trước, rồi sau sẽ đến xuất thế gian, tức là quan niệm theo giáo lý nhà Phật.
            Thế gian rất ngại và kiêng kỵ nhắc đến vấn đề sống chết, bởi nó đau thương quá; nó làm con người phải ngừng lại cuộc vui đang hưởng; nó tang tóc chia ly và tàn nhẫn nữa; nhất là khi người ra đi còn quá trẻ, còn đầy nhiệt huyết. Cho nên không ai thích nhắc đến nó, kể cả việc nó sắp đến trên thân thể một người bệnh đang chờ giờ ra đi. Sự thật này đâu phải bây giờ, mà từ xưa đến nay, từ khi con người biết ý thức xa nhau là đau khổ. Rồi vì quá sợ, người ta còn nghĩ ra đặt cho nó nhiều tên, để bớt gọi thẳng từ ngữ “chết” được chừng nào tốt chừng ấy; như là qua đời, khuất bóng, quá vãng, ra đi, nhắm mắt, lìa trần v.v... Lại theo niềm tin phong tục tập quán vài nơi, người ta còn sợ người chết trở về kéo lôi người sống đi theo nữa. Như thế bất kể thế nào, không ai lại không sợ chết, vì đó là một sự đau đớn một sự chia ly, không bao giờ gặp lại. Cho nên có người dù thật già, dư biết mình sắp chết cũng không muốn tin là mình sắp chết, chỉ muốn chết khi không còn cách nào cứu chữa, hay phải thấy hài lòng một cái gì để lại, và giải quyết được cái gì. Nhưng thưa bạn làm gì được hài lòng, làm gì giải quyết hết được những gì mình muốn; vì đó là tánh tham sống hưởng lạc chẳng bao giờ thấy đủ của con người.
            Tuy thế vẫn có trường hợp người ta thật sự muốn chết, muốn một cách tha thiết, đến nổi van xin; đó là lúc bệnh nặng hành hạ thân xác, đau đớn không còn chịu đựng được. Nhưng nếu cơn bệnh thuyên giảm có phần hồi phục, thì lập tức ý nghĩ muốn sống bắt đầu trở lại và không còn muốn chết nữa.
            Xét cho cùng trong mọi tình huống, chia ly chết chóc là một biến cố lớn nhất trong đời sống thế gian; bởi vì thế gian là đối tượng của ý thức sống từ khi một chúng sanh ra đời, và ý thức rằng mình đang hiện hữu. Nên khi chết đi là biệt ly thế gian, mất đi tất cả, như thế ai không sợ. Thường chúng ta tưởng người già hiếm khi sợ chết, điều này chưa chắc, nếu người già này con cái đầy đủ, của cải thật nhiều; như vậy sự chết đi có nghĩa là vĩnh viễn không còn sum vầy hưởng thụ được nữa. Do nghĩ như thế dù già thế nào họ vẫn ham sống. Việc này cũng chẳng lạ, vì già trẻ đều tham muốn, sân, si như nhau, có khác chăng chỉ là cường độ nặng nhẹ thôi.
            Vậy thì bạn và tôi thấy rằng, thế gian quan niệm về chết là một điều không nên bàn luận, vì không thể không đau buồn, vì tất cả đã mất đi trong thương tiếc, trong vô vọng đợi chờ. Nếu thế gian có bàn luận chăng, đó chỉ vì tình cảnh liên hệ đến cái chết hay đến người thân của kẻ ra đi, ngoài ra không nên nhắc đến tất cả chỉ làm buồn thêm.
            Đến đây thử nói về quan niệm chết của người học Phật theo giáo lý giải thoát; và hy vọng rằng khi tìm hiểu sống chết theo nhà Phật, bạn và tôi sẽ thấy rõ vấn đề của thế gian hơn.
            Giáo lý giải thoát từ buổi ban đầu trước khi Bồ Tát thành đạo, đã hiện rõ cảnh sanh, già, bệnh, chết là động cơ xuất thế cho Bồ Tát Tất Đạt Đa, điều này chẳng phải gì lạ; cho nên sau khi thành đạo chánh giác đề tài sinh tử luôn được Thế Tôn nhắc nhở cảnh tỉnh chúng sanh.
            Học đạo giải thoát mà quên sinh tử, xem như quên đi tất cả giáo lý của Như Lai, vì sinh tử có nghĩa là vô thường, cho nên hiểu vô thường là hiểu sinh tử, rồi hiểu luôn giáo lý Như Lai chỉ là phương tiện, chẳng khác vô thường sinh diệt. Bởi vì chấp vào bất cứ điều gì, điều đó sẽ không còn là chân lý nữa. Dù rằng chân lý là chân lý không sinh không diệt, nhưng hiểu sai sẽ thành chấp chân lý. Ngược lại sinh tử là điều không quên, để nhắc nhở rằng tất cả sự vật thế gian, và cả ý niệm sinh khởi trong tâm đều là sinh tử. Bao giờ đạt được tự tại vấn đề không tham, sân, si, đạt được Giới, Định, Huệ Ba La Mật, chừng ấy mới vượt lên sinh tử, vượt lên tất cả cái vô thường của thế gian; và chẳng còn dính mắc bất cứ điều chi kể cả Niết Bàn.
            Sống chết được nhìn theo giáo lý giải thoát, là một vòng luân hồi, một định lý vô thường theo hành nghiệp thay đổi chẳng ngừng của một chúng sanh chưa chứng đạo. Người chết nơi đây sẽ sanh về nơi kia, hay trở lại đây, điều đó chẳng khác gì nước bốc hơi rồi trở lại, lại tiếp tục bốc hơi, hoặc vượt xa hơn một tí. Nhưng dù trở lại có xa gần và biến dạng trong đục thế nào, nước vẫn mang tánh ướt.
            Chúng sanh chết sống đủ mọi hình thức, chết già, chết trẻ, chết vui, chết buồn, chết không tiên liệu trước..., cũng chỉ là tiếp tục thay đổi theo hành nghiệp nhân quả thọ dụng mà thôi. Có điều đã chết bao nhiêu lần, quả thật không ai biết được, kể cả chư Bồ Tát lớn cũng không biết. Phải nói là thật nhiều, nhiều đến nổi Phật dạy, giả sử trong cuộc luân hồi, xương của một chúng sanh còn giữ nguyên lại từ vô thỉ kiếp đến nay, thì nó sẽ chất đống thành ngọn núi lớn. Và chắc rằng ngọn núi đó cứ mãi lớn ra nếu chưa biết đạo giải thoát.
            Đạo giải thoát còn dạy cho ta biết, đâu phải chỉ cái chết của con người mới là quan trọng; đã là chết thì cái chết của bất cứ loài chúng sanh nào cũng đều quan trọng và đau thương. Có một loài chim hạc lớn, thường đi cặp với nhau, hễ một con bị nạn hay bệnh chết đi, thì chẳng bao lâu con kia cũng chết theo. Việc này cho thấy niềm đau sanh ly tử biệt của con vật đâu thua con người. Nhưng con người cứ lại nghĩ chỉ có mình là loài thông minh nhất mới cảm được niềm đau tử biệt. Trí thông minh của con người đành rằng quá siêu việt so với tất cả loài vật, nhưng nói về đau thương vui sướng, thiết nghĩ cảm thọ của tất cả phải là như nhau. Nếu ta cảm thấy khoái lạc với cảm thọ được an ủi vỗ về, được cảm giác ấm êm, thì con vật nó cũng y như ta vậy, và nếu ta sợ hãi mất mạng, con vật cũng sợ hãi không thua gì ta.
            Giáo lý giải thoát nhìn rõ vấn đề này với tất cả chúng sanh, nên nói ngay đến vấn đề tham ái; trong tham ái gồm cả yêu thương và hưởng thụ. Hưởng thụ tình thương và hưởng thụ qua cảm giác, giác quan tiếp xúc từ mọi thứ. Sự hưởng thụ cảm nhận quay trở lại chính con người, là gìn giữ thân thể giác quan của mình, cho nên mình thương mình hơn hết. Thế thì mất cái hưởng thụ, là mất con người mình, điều này quả là khủng khiếp chứ còn gì? Cho nên càng tham, càng xác lập sự hưởng thụ trên thân thể và vật cảnh một cách kiên cố; từ đó ý nghĩ chết, là sự cướp đi tàn bạo thân thể vật chất của mình. Như thế vòng sinh tử bắt đầu di chuyển theo ý thức, bám víu, lo sợ mất người mất của khởi lên.
            Nhưng chớ hiểu lầm, giáo pháp giải thoát là bi quan, cứ nghĩ về chết không màng việc sống. Chẳng phải vậy đâu! Bạn và tôi không thấy sao, đức Phật đâu có chết, đâu có vào Niết Bàn, Ngài vẫn còn mà; hiện Ngài đang có mặt gần hơn nửa quả địa cầu. Đó là ảnh tượng của Ngài được mọi người sáng tạo để chiêm ngưỡng. Có lẽ tượng ảnh kia còn kéo dài đến cả mấy chục ngàn năm nữa không chừng. Vì người ta kính mộ mong muốn cho nhiều thế hệ sau biết đến, để sống được như Ngài chứ không chết sớm như chúng ta, chỉ cao lắm là trăm tuổi, rồi không còn một ai nhắc đến. Cho nên người ta đã tạo tượng Ngài sừng sững lộ thiên hiện lên từ vách núi cao, chứ không phải chỉ là tác phẩm nhỏ nhoi tầm thường.    
            Quả thật người xưa đã diễn tả được điều sống chết thật cụ thể, qua cái nhìn theo giáo lý giải thoát của Như Lai, nghĩa là phải sống như Ngài và chết như Ngài. Sống tự tại vượt lên, chết tự tại vượt lên hơn nữa. Nhưng điều đó chẳng phải là của Ngài, mà nó là chân lý sống chết. Nhưng nói sống chết cũng là phương tiện theo thế gian, chứ đối với Như Lai, đối với bậc toàn giác đâu phải vậy!
            Như Lai có nghĩa đến đi tự tại không lưu dấu, không vướng bận, và đúng nhất là không thể nghĩ bàn. Phật xuất hiện vì nơi thế giới Ta Bà, nơi hành tinh xanh này, nơi thái dương hệ đây không có giáo lý giải thoát, không ai có thể biết được chân lý cuộc đời, chân lý vô thường và tuyệt đối thanh tịnh bất sinh bất diệt. Ngài xuất hiện để chỉ bày cho chúng sanh vậy thôi, ngoài ra chẳng còn gì khác; và đương nhiên chân lý mà Như Lai chỉ bày lại là chân lý mà chúng sanh đang sống cũng như đang chết.
            Thế nói sống chết là nói chân lý khổ, chân lý thế gian và cũng xuất thế gian, chứ nào đâu là bi quan, nào đâu là tiêu cực. Chỉ có không dám nhìn nhận sự thật mới là tiêu cực, điều đó được che đậy bằng cách tích cực hưởng thụ đời sống quên đi chân lý sống chết này. Nhưng thế gian cũng có nhiều người lạc quan vượt qua sống chết, đó là những chiến sĩ anh hùng hy sinh vì chánh nghĩa, vị quốc vong thân; những người như vậy đã xem sống chết là lẽ thường, nên chọn cho mình hành động chết sống đúng với lương tâm, với thiện chân nhân loại.
            Thế gian pháp còn vậy, chẳng lạ gì xuất thế gian; cho nên bạn và tôi hiểu vì sao chư vị Bồ Tát lớn vào đời hành đạo không bị trở ngại; tất cả là vì chư vị rõ ràng vấn đề sống chết đến đi, chỉ là xoay vòng đổi hình thay lớp. Chỉ buồn cho ta, chưa thể nhận rõ vấn đề, nên nghiệp tánh tham ái vẫn còn, khó thể dứt khoát, để ảnh hưởng việc tu chứa đầy phiền não.
            Dù vậy thời nay vẫn còn duyên lớn, được biết một số vị Lạt Ma Tây Tạng, mang lớp hình phàm nhưng bên trong là bậc Thánh tái sinh hoằng đạo. Các Ngài khi lâm bệnh chết đi, tuyệt đối phải tự tại, nếu không chẳng thể để lại điềm báo cho đệ tử biết sẽ tái sinh trở lại; và sự lâm bệnh này cũng là phương tiện pháp duyên độ người. Điều này không phải thuận lời, thuận ý mà đoán nói như vậy, bởi vì không phải cảnh tỉnh người, không phải lấy đó nhắc nhở, huấn thị bằng thân vô thường lão bệnh, các Ngài dư sức tọa thiền bỏ xác chứ nào phải để đệ tử chạy lo chữa bệnh. Việc nhắc nhỡ cảnh tỉnh của các Ngài, thứ nhất là thân thể vô thường, có thân tức có khổ; thứ hai ngay như người đang tu pháp giải thoát cũng không khỏi hệ quả này, cho nên phải dụng công tinh tấn tu đạo, trước khi rủ bỏ xác thân. Biết được thế gian còn có chư vị Bồ Tát âm thầm thị hiện như vậy, ta mới thấy rõ sinh tử là một điều tối yếu, và là một pháp tu đánh động tâm thức hơn bất cứ pháp tu nào.
            Thật thế thử xem có pháp tu nào thúc giục con người, khiến phải lập tức suy nghĩ bằng pháp tu niệm chết! Đã biết bao lần ta tinh tấn, suy nghĩ đến việc tu vì cảm nhận trong người nhuốm bịnh, sợ hãi đến chết. Giá như ngày nào ta cũng nghĩ về chết, sợ hãi chết đã kề bên, thì chắc chắn việc công phu tu niệm thật dễ dàng có kết quả. Cũng cần nói sợ hãi ở đây, là sợ chưa đủ công phu hành trang diệu lực để đổi lớp hình khác, chứ ta đã biết bao lần chết đi nào phải mới lần này.
            Vâng, chết thật đúng là pháp tu, cũng có thể nói như là bậc Thầy cảnh tỉnh ta tu; bậc Thầy này chỉ sau đức Phật, nói sau đức Phật, vì Phật là người dạy ta pháp tu này.
            Nhưng rồi thế nào cũng có người đặt câu hỏi, như ai cũng chuẩn bị việc chết, chuẩn bị việc tu hành, để gấp rút được sanh về nơi cảnh Thánh, như vậy đời sống văn minh nhân loại đành phải lùi lại lạc hậu như xưa sao?
            Xin thưa, tất cả không như ý ta đâu. Trước nhất không phải là việc dễ tin, sống chết là một nguyên lý luân hồi đau khổ từ vô thỉ kiếp, làm cho người sợ hãi khiến phải tu hành dứt vòng sinh tử. Thứ hai nếu quả thật tất cả đều tin, đều cùng nhau sợ hãi sinh tử, nên tinh tấn nỗ lực tu hành, thì thật là đại duyên cho quả địa cầu chúng ta, nó sẽ trở thành cõi Thánh. Bởi đã không còn ai tham, sân, si, không còn sống theo ý thức phân biệt, vọng tưởng vốn là nguyên nhân của mầm móng hủy diệt hành tinh xanh này. Đổi lại bây giờ ý thức trở thành trí vô phân biệt, trí siêu thoát, và như thế thuận theo tâm nào cảnh đó, tức y báo chánh báo sẽ thay đổi toàn cảnh quả đất này. Thế thì làm sao lạc hậu được. Lạc hậu là dốt, mù chữ, quê mùa, chẳng có văn minh. Nhưng văn minh là thế nào? Có phải văn minh là thực hiện được cái đẹp nhất cho nhân loại; và còn cái đẹp nào hơn khi tất cả anh em trên thế giới cùng nhau sống yêu thương hòa bình, để triệt để bảo vệ môi trường sinh thái cho trái đất.
            Nói một cách cụ thể khoa học, thì một hành tinh một tinh cầu nào nếu toàn những con người thánh thiện sống trên đó, hành tinh này chỉ có đẹp ra, và dù theo luật sinh diệt Thành, Trụ, Hoại, Không, hành tinh đó chắc chắn phải trải qua tuổi thọ thật lâu, chẳng hạn đến một vạn tỉ năm (mười ngàn tỉ). Nhưng nếu hành tinh nào toàn chứa những con người luôn tranh đấu, luôn bạo động, cạnh tranh nhau mọi phương diện triệt để khai thác tài nguyên hưởng thụ, như vậy chắc chắn rằng, hành tinh này sẽ có một tuổi thọ thật ngắn, có thể chỉ thọ vài triệu năm thôi.
            Vậy ta chẳng nghi ngờ gì việc sinh tử là việc cấp bách cho đời sống tương lai. Thật ra chuẩn bị trong việc ý thức sinh tử chết sống cho tương lai cũng chính là cho hiện tại. Vì người muốn tương lai tốt tất nhiên phải hành động ngay hiện tại. Tỉ như để tránh hay giảm được phần nào việc thiên tai đột ngột xảy ra, người ta đã nghiên cứu, sáng chế phát minh phương tiện ra-đa nhạy bén tiếp sóng, có thể báo trước khi biến động xảy đến. Cũng vậy ý thức việc chết sống, người học Phật phải chuẩn bị cho mình bằng nhiều phương tiện pháp tu, mà pháp tu cụ thể hiệu quả nhất là luôn nghĩ đến sự chết vậy.
            Tưởng có thể ngưng đề tài sống chết tại đây, bạn và tôi thử tìm hiểu xa hơn ý nghĩa cảnh giới bất từ nghì, mà người học Phật thường nghe qua với tên gọi là Niết Bàn.








Niết Bàn không có nơi chốn,
không thể luận bàn !

            Lại một chuyện vượt tầm tay, vượt ý thức, còn hơn cả gọi là tế nhị bàn về sống chết! Đúng như vậy! Thật là ngây ngô, khi nói những gì mình chưa biết chưa hiểu. Vì ít ra, cũng phải tin hiểu hơn năm mươi phần trăm mới dám luận bàn, đằng này còn chưa chắc đã có được mười phần trăm, lại dám bàn ư!
            Khi lạm bàn về sống chết, bạn và tôi còn thấy còn hiểu, bởi sự chết của người khác đã thường xảy ra, xảy ra ngay trong gia đình mình. Khi nói chết là pháp tu, ít ra đó là phần nào hiểu lời Phật dạy về sinh lão bệnh tử xưa nay không sai. Nhưng nói về Niết Bàn một cảnh giới của Phật, làm sao tưởng tượng nổi, mà có tưởng tượng nổi cũng chỉ là tưởng tượng thôi, làm sao diễn bày cụ thể được! Đừng nói gì phàm phu như tôi đầy vô minh, ngu si ngờ ngạc, ngay cả Bồ Tát lớn cũng chẳng thể đến được Niết Bàn của chư Phật, để kể rõ cho chúng ta nghe; vậy đây là chuyện vui để lạm bàn cho có chuyện ư?
            Vâng, thưa đúng vậy, nhưng không dám nói là chuyện vui, muốn nói sao thì nói; bởi bạn và tôi đã chọn đề tài: Niết Bàn không có nơi chốn, không thể luận bàn, đề tài như vậy đâu có khẳng định Niết Bàn là thế nọ thế kia? Hơn nữa chúng ta phải thật là nghiêm chỉnh, khi chuyện trò vấn đề tu học Phật pháp, nên không bao giờ móng tâm cho đây là chuyện vui, nói sao cũng được. Nhất là luật nhân quả chúng ta dư biết, nên nói những điều cần nói, không thôi lại làm người hiểu sai chánh pháp, đó thật là ngu dại, tự mình tạo nghiệp báo cho mình.
            Sở dĩ tôi muốn bạn cùng tôi dám nói về Niết Bàn chỉ vì muốn có một khái niệm một nhận thức tối thiểu, dù việc muốn này cũng chỉ là muốn thôi. Nhưng không! Nói vậy chứ hễ muốn là được, và chắc chắn thế nào rồi tất cả chúng ta cũng đi tới con đường này, vì kim ngôn Phật dạy, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều thành Phật trong tương lai; chỉ có việc sớm muộn chứ hoàn toàn không sai khác.
            Trước hết, theo đề tài, chúng ta hãy nghĩ về một cảnh giới, nơi mà không có biên tế, địa hình, nơi không thể thấy cũng không thể biết!
            Nơi đó có phải là nơi không? Hỏi vậy nghe thật vô lý, vì đã không phải là nơi, thì làm sao nói là nơi?
            Vậy thì làm sao nói đây? Nhưng thưa bạn đó chính là nơi, nơi vô chấp vô ngại, kể cả ngôn ngữ vô chấp vô ngại cũng chỉ mượn dùng gượng ép mà thôi. Nhưng thưa bạn nó vẫn là một nơi, một nơi thật sự của chư Phật, nhưng chỉ là của chư Phật chứ không phải của bạn và tôi đang bàn đây. Dù nó khó hiểu, cả đến không thể nghĩ bàn, nhưng các đệ tử của Ngài vẫn thường tán thán ca tụng luận bàn về nơi siêu việt ấy. Rồi chính Phật vì thương đệ tử nên cũng tạm mượn ngôn ngữ thế gian nói ra phần nào; và thưa bạn, nơi ấy chính là ở ngay trong tâm chúng ta.
            Ta đọa lạc, ta thành Phật có phải là do tâm? Chắc chắn vậy, như thế tâm là nơi sinh ra Niết Bàn. Hiểu lầm đi tìm Niết Bàn ngoài tâm, tất không bao giờ được! Vậy mà bấy lâu cứ đi tìm, trong khi nó lúc nào cũng ở ngay ta. Vấn đề là sao tin được nó ở trong tâm, và vấn đề ta chết rồi nó còn ở trong tâm hay không, vì có tâm là do thân sắc, thân sắc tàn rụi tâm phải ở đâu?
            Đến đây chúng ta không cần phải nói dài dòng chi nhiều, vì đã bàn qua chuyện luân hồi nhân quả, cũng như vừa rồi không lâu, nhắc về sự tái sanh của chư vị Thánh Tăng Lạt Ma Tây Tạng, đó chính là Niết Bàn và Địa Ngục tự dẫn chính ta.
            Cái gì làm các vị Thánh Tăng tái sanh, đó là tánh Niết Bàn, tánh giác; cái gì làm đọa lạc đó là tánh mê, tánh tham, sân, si vậy. Cho nên chẳng thể tìm bất cứ một cảnh giới nào ngoài tâm cả. Vậy ta có còn không tin cảnh Niết Bàn của chư Phật? Ngay cả cái tánh mê tánh tham, đã còn hiển hiện không mất để tái sanh làm con thú, thử hỏi tánh giác tánh chân thiện tuyệt đối lại biến mất giữa hư không sao? Nếu thật biến mất, thì làm sao có chư Phật ba đời, như Đấng Thế Tôn đã dạy! Nếu chẳng có cảnh giới Niết Bàn của chư Phật, làm sao Phật thường dạy, thế giới Phật là hằng hà sa số, và điều gì, cái chi khiến Phật xuất hiện khai thị đạo vàng tại nhân gian?
            Nhưng thế giới Phật vẫn là thế giới tâm, thế giới tâm siêu việt chứ không phải tâm phiền não của chúng ta. Như thế mà nghe chư Phật dùng thần thông tự tại vân du đến khắp cõi Phật nào cũng được, vì chỉ là vân du tự tâm mà ra. Cũng như thế, nếu bạn và tôi ngày nào còn tâm chúng sanh, tâm phiền não, ngày ấy chúng ta chỉ sống ở thế giới nhỏ hẹp, thế giới tâm phiền não của mình mà thôi. Cũng vì nhỏ hẹp nên ta không thể hiểu được các thế giới khác ngoài thế giới tham, sân, si của mình; kể cả thế giới súc sanh, ngạ quỹ cùng một quỹ đạo tham, sân, si mà ta cũng không thấy, nói gì thấy được thế giới chư Thiên, Bồ Tát.
            Chư Bồ Tát lớn theo tâm từ bi trí tuệ rộng lớn của các Ngài, bao trùm khắp cái tâm tham, sân, si của chúng sanh, nên dễ dàng nhận thấy tâm chúng sanh là chuyện đương nhiên. Bồ Tát thấy chúng sanh thật rõ nên dễ độ chúng sanh, riêng ta tự mình đã không thấy được mình, không thấy mình, nên còn phiền não, vậy làm sao độ chúng sanh!
            Lại có thể hiểu Niết Bàn là một trạng thái tỉnh, trạng thái chánh niệm thanh tịnh lúc nào cũng có thể tìm được; chẳng hạn ngay lúc này bạn và tôi thử đếm một hai ba, để bắt giữ Niết Bàn nơi tâm, tất nhiên Niết Bàn sẽ có; nhưng sẽ hiện không lâu, vì chúng ta đã tự gượng ép cố tìm cho được. Sự cố tìm vẫn là một sự dụng tâm, nhưng phải biết dụng tâm bằng từ bi bằng trí huệ phát Bồ Đề Tâm, đó mới thật rõ Niết Bàn. Và rồi phải luôn luôn giữ tâm như vậy, mới giữ được Niết Bàn trong ngoài không còn phân biệt.
            Bạn và tôi có thể tập gượng ép tạo ra Niết Bàn, tức tạo ra bình tâm chánh niệm, hỷ, xả, khinh an, tập như vậy dù hình bóng Niết Bàn ban đầu là mờ nhạt, nhưng lâu dần cho đến phát được Bồ Đề Tâm, Niết Bàn sẽ rõ hơn.
            Các vị A La Hán Thánh Tăng thời Phật, đã đạt được Hữu Dư Y Niết Bàn, cũng gần nghĩa như vậy; nhưng điều phi thường là, trạng thái khinh an, hỷ, xả, niệm, định, của các Ngài không còn bị lung lạc thay đổi, nên mới gọi đắc quả Niết Bàn khi thân xác còn tại thế. Đến khi bỏ thân xác bấy giờ đạt được Vô Dư Y Niết Bàn tức tự tại không còn lệ thuộc xác thân sinh lý nữa. Riêng đối với đấng Thế Tôn, Ngài đã trọn vẹn đạt được cả hai trạng thái Niết Bàn, có thể tự tại bất cứ hoàn cảnh không gian nào;  tuy nhiên phương tiện độ sanh là thù thắng, nên Phật phải tùy thuận hiện tướng phàm nhân xả bỏ nhục thân như thế gian pháp. Tuy nhiên nói như vậy chứ Niết Bàn của chư Phật, dù là còn tại thế gian, ta cũng không thể hiểu, chỉ lấy chư đệ tử Thánh Tăng đắc quả A La Hán thôi cũng khó nghĩ bàn. Vì làm sao biết được trạng thái của chư vị để mà nói, nhưng dù biết đi nữa cũng không nói được, bởi ngôn ngữ làm sao diễn nói hết được trạng thái, huống là trạng thái chứng đạo! Và ngay cả chư vị A La Hán có từ bi kể cho chúng ta nghe, chúng ta cũng không cảm nhận được hết, vì đơn giản rằng ta chưa bao giờ kinh nghiệm qua.
            Vậy Niết Bàn là một sự an lạc tuyệt đối, tuyệt đối chính đương sự biết mà thôi! Những gì ta cố gắng giải bày tưởng tượng để tìm hiểu cũng chỉ là khuây khỏa sự ước muốn của người học Phật. Đức Phật từ bi biết được điều này nên dùng nhiều phương tiện, và chính thân giáo của Ngài hiện ra để cho ta thấy Niết Bàn là như thế, như thế đó.
            Niết Bàn không có ngôn ngữ để diễn tả, dù ngôn ngữ đó được ghi lại từ Phạn văn, một cổ văn được tin tưởng rất gần với chánh pháp; hay nói đúng hơn Niết Bàn cũng chẳng có cả trong kinh. Kinh chỉ là nhắc nhở lời Phật dạy dù là kinh Niết Bàn.
            Đi tìm Niết Bàn, là đi tìm thân ngũ uẩn này, không hơn không kém, vì chính nơi thân sinh ra được chân tâm diệu hữu, và chân tâm diệu hữu là thế giới lìa ngôn ngữ thế giới của Niết Bàn vậy.
            Người học Phật chúng ta thường nghe nói, hãy tạo cho mình một hành trang đi vào Niết Bàn, đó chính nghĩa là tạo cho ta tự thành Niết Bàn, tự thành hành trang, chứ không một hành trang nào bên ngoài có thể đi vào một nơi không nơi, một chỗ không chỗ, và một ý niệm lìa tất cả ý niệm.
            Nhưng nếu bạn và tôi cho Tâm là Niết Bàn, vì tâm sinh ra Niết Bàn, như vậy tâm đó là tâm tham chấp, vì Niết Bàn không phải có đối tượng làm ra, mà nó là lìa chấp lìa ý niệm; còn cho tâm là còn chấp vào tâm thì làm sao gọi là Niết Bàn được!
            Thế thì nếu nói đời sống của người học Phật là đi tìm Niết Bàn, đi tìm giải thoát, đó cũng có nghĩa đi tìm tự tâm thanh tịnh; nhưng nếu lại sống ngoài tâm thanh tịnh, sống chấp trước vấn đề, dù vấn đề Phật pháp, tất nhiên sẽ càng xa Niết Bàn mà tưởng rằng đang đi tìm Niết Bàn giải thoát.
            Bấy nhiêu lời để tạm hiểu một vấn đề khó hiểu nhất, thiết nghĩ chúng ta tạm ngừng nơi đây, e bàn mãi sợ lạc mất vấn đề.
            Tôi cũng vừa phát ý, xin thưa với bạn có lẽ hãy lấy đời sống sinh hoạt của chư vị Thánh tăng tìm hiểu thêm về pháp giải thoát, và không chừng ta lại hiểu thêm Niết Bàn cũng nên!










Chuyện giải thoát
của chư vị Thánh Tăng.
           
            Nếu tính ngay thời đức Phật, tiêu biểu nhất là mười đại đệ tử của Ngài, như: Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Phú Lâu Na, Tu Bồ Đề, Ca Chiên Diên, Ma Ha Ca Diếp, A Na Luật, Ưu Bà Ly, A Nan Đà và La Hầu La; thật biết vị nào cũng đều là bậc thị hiện sát cánh Như Lai làm rạng ngời giáo lý giải thoát. Nghĩ cũng nên nhắc lại toát yếu hành hoạt của từng vị để bạn và tôi hiểu thêm; và đó cũng là niệm nghĩ ghi ân chư vị Thánh Tăng đệ tử, đã cùng Phật hoằng truyền giáo pháp giải thoát, tạo nhân duyên nối dòng chánh pháp đến bây giờ.
            Thật vậy nếu không nhờ chư vị đệ tử tiếp nối ra công hoằng truyền chánh pháp, ngày nay làm gì chúng ta hiểu biết được thế gian này có Đấng Toàn Giác đản sanh ở Aán Độ. Hay có biết cũng chỉ là lịch sử lờ mờ, và chắc chắn Đức Phật ngày nay chỉ được biết là một trong những vị thần theo quan niệm Aán Độ giáo; và điều quan trọng hơn hết, giáo lý của Ngài sẽ không phải như Ngài dạy, vì thời gian không có người tiếp nối.
            Chúng ta nhất định phải ghi ân đê đầu đảnh lễ chư vị Thánh Tăng đệ tử của Như Lai có công hoằng truyền chánh pháp đến ngày nay. Trong những vị như thế vừa là người Thiên Trúc (Aán Độ) vừa là người Trung Hoa, và dĩ nhiên gần nhất còn là chư vị tôn túc người Việt chúng ta, để có thể phổ cập rộng rãi qua ngôn ngữ tiếng Việt cho đất nước Việt Nam.
            Bây giờ bạn và tôi hãy tìm lại hình bóng chư Đại đệ tử trong thời đại Thế Tôn, để kính lễ tri ân quý Ngài đã làm hình ảnh nối truyền dòng pháp giải thoát; nhờ vậy từ đó, sinh ra hàng hàng lớp lớp đệ tử của Đấng Đại Giác nối tiếp nhau mãi đến bây giờ.
           
Xá Lợi Phất: trí huệ đệ nhất
            Xá Lợi Phất được danh hiệu trí huệ đệ nhất, đây là lời tán thán khen tặng của Thế Tôn. Có thể so sánh hiện nay, người giỏi nhất thế nào Ngài phải giỏi như thế đó. Nhưng cái giỏi nhất của Ngài là chẳng bao giờ thấy mình giỏi, đó mới thật là giỏi; hay nói đúng hơn tất cả mười đại đệ tử của Thế Tôn, chẳng bao giờ thấy mình có gì hơn chư đệ tử khác của Phật. Nhưng điều Phật tán thán ngợi khen Ngài Xá Lợi Phất vẫn là một sự thật, điều đó được Thế Tôn dạy Xá Lợi Phất thay Ngài làm giáo thọ sư hướng đạo cho những người mới nhập môn.
            Về nhân duyên vào đạo giải thoát của Xá Lợi Phất cũng thật kỳ đặc. Đó là việc nhận ra hình dáng thoát trần tự tại của Ngài A Thị Thuyết, vị đệ tử chứng quả Thánh của Phật; rồi thưa hỏi vài câu, trở thành nhân duyên cho Ngài khởi đầu niềm vui chân đạo, mà chưa đợi diện kiến Thế Tôn. Quả thật kiến thức thông minh của Ngài đã quá viên mãn, chỉ đợi thêm vài giọt nước giải thoát trở thành trí huệ. Câu kệ mà Ngài nghe nội dung như vầy: Các pháp đều do duyên sinh rồi cũng do duyên diệt. Đối với người bấy giờ câu nói ấy thật không phải dễ hiểu, nhưng nếu hiểu phải mất thời gian suy niệm, quán xét mới trân quý được, và chỉ quý mà thôi, lại cần được giảng giải, hoặc gặp Thế Tôn mới có thể vào đạo. Nhưng Ngài Xá Lợi Phất liền tức khắc liễu tri khi nghe kệ này. Nỗi mừng của Ngài còn được chia xẻ với người bạn thân là Mục Kiền Liên, thế là cả hai cùng vui như một. Mục Kiền Liên chẳng khác Xá Lợi Phất, cảm nhận tức thì khi nghe bạn kể.
            Tìm hiểu ta thấy, Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên chính là hai nhà thức giả lỗi lạc thời bấy giờ, nên trí căn lanh lợi, sớm muộn tất phải giác ngộ đạo vàng. Điều này nói lên chỉ có giáo pháp giải thoát mới vượt lên tất cả, giải tỏa hết thảy những trăn trở của thế gian. Nếu con người thời nay hay mượn kiến thức thế gian vào đạo giải thoát, hoặc đòi hỏi biện minh giáo nghĩa Như Lai phải phù hợp với văn minh nhân loại, thì hãy tìm hiểu về hình ảnh Thánh Tăng Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên.
            Chỉ một bài kệ nhỏ mà Ngài Xá Lợi Phất nghe, đủ chứng minh chân lý bất sinh bất diệt của đạo giải thoát, và chính người nghe là Xá Lợi Phất càng nói lên sự hợp lý của đối tượng khi quán sát giáo lý Như Lai. Bạn và tôi nghĩ sao về bài kệ đó? Vâng, đó là một chân lý, duy chỉ có bậc đại trí mới thấy thật rõ giá trị của nó; đó là sự thành lập giả tạm hư diệt của thế gian; để từ đó đưa người vượt qua sự giả tạm, tiến tới tuyệt đối hạnh phúc, mà thế gian chẳng thể nào tìm được nếu không hiểu biết điều này.
            Nếu bạn và tôi hãy còn thắc mắc, bài kệ đã nói gì với nền văn minh khoa học của đời sống hôm nay? Thưa, bài kệ nói rằng tất cả sản phẩm của con người, kể cả con người đều là do vô số nhân duyên tạo thành, chứ không phải thật có, và nếu cái gì do nhân duyên tạo, tất phải giả tạm, hoài công gìn giữ! Không cần nói thêm nữa, vì nhớ lại chuyện từ ban đầu chúng ta đã bàn qua rồi về nhân quả luân hồi, cũng từ nghĩa này ra.
            Cho nên phải nói, Xá Lợi Phất thật đúng biểu trưng cho kiến thức ngày nay; ngày nay người học Phật đã và đang được duyên nhập thế một cách phóng khoáng và tích cực, nên tạo được nhân duyên cho mọi người thấy, giáo lý Như Lai luôn luôn giữ được nền tảng chân lý Phật Đà trong mọi phạm trù kiến thức thế gian. Điều này há chẳng phải là việc mừng? Vâng phải như vậy; do đó người đến với đạo Phật càng có kiến thức càng có công đức thiện báo nhiều hơn, vì tự thân đã hoằng truyền được Phật pháp đến tầng lớp trí thức thế gian. Và nhất là phá đi sự mê tín dị đoan, mà thế gian thường lầm phải. Chúng ta nên tri ân sự thị hiện tuyệt đẹp của Ngài Xá Lợi Phất.
           
Mục Kiền Liên: thần thông đệ nhất.
            Vâng đúng vậy, nhưng cũng như Ngài Xá Lợi Phất, cái đệ nhất của Mục Kiền Liên là chẳng thấy mình đệ nhất thần thông, đó chính mới là đệ nhất! Thật ra tất cả huynh đệ cùng là đệ tử Thế Tôn, khi đắc quả Thánh đều có thần thông, đều như Ngài Mục Kiền Liên không khác. Tuy nhiên Mục Kiền Liên được tôn xưng là thần thông vĩ đại, xuất chúng, vì Ngài ứng dụng được thần thông thành tựu hoằng pháp lợi sanh. Chính Đấng Điều Ngự cũng tán thán ngợi khen Ngài, và còn khuyến khích phương tiện độ sanh như vậy; ngược lại với chư vị đệ tử khác đức Phật rất hiếm đề cập việc thi triển thần thông, nếu không nói, còn quở trách những ai hiếu kỳ thi thố, dù là thi thố để xiển dương chánh pháp. Chính ngay bản thân Như Lai, Ngài cũng chẳng mấy nghĩ đến việc này, đó có phải mới là thần thông?
            Vâng, thần thông thật đúng với đạo giải thoát là biến hóa được tam độc tham, sân, si; là diệt trừ được vô minh đạt đến giải thoát. Nghĩa đó mới thấy, trong thời Thế Tôn các đạo sĩ không theo Thế Tôn bấy giờ rất nhiều, họ có đủ thần thông, nhưng tuyệt đối không có lậu tận thông, tức là không thể phá được tam độc tham, sân, si, nên còn phiền não, còn sinh tử chìm mãi trong luân hồi đau khổ.
            Riêng các đệ tử Như Lai, từ lúc vào đạo đến khi chứng quả, vẫn sống như người bình thường, chẳng hiện tướng gì thần bí, nhưng bình thường của các Ngài không phải là bình thường của thế gian, vì thân ở Ta Bà mà tâm nhập Niết Bàn tự tại.
            Thần thông của Ngài Mục Kiền Liên hoàn toàn có nghĩa như vậy; nhưng bạn và tôi vẫn phải tin rằng, Ngài đã từng ứng hiện thần thông lên trời, xuống địa ngục, hay hóa hiện đủ thân, cả đến tiếp xúc độ loài ma quỷ. Như đã nói, việc làm của Ngài chỉ là chánh pháp, và còn có thể thay cho Thế Tôn, xiển dương chánh pháp bằng phương tiện cảm hóa người, trong việc hiển hiện thần thông nhiệm mầu huyền diệu của đạo xuất thế.
            Ngày nay chúng ta so sánh nền khoa học kỹ thuật thế gian chẳng khác thần thông của Đại Thánh Mục Kiền Liên! Mục Kiền Liên có thể vân du không ngại khoảng cách, không ngại thời gian, bây giờ nghĩ ra cũng gần giống vậy. Ngày xưa cách đây vài trăm năm, không ai tưởng tượng người có thể bay, nhưng bây giờ khoa học đã làm tất cả mọi người biết bay, đến nổi em bé mới sinh cũng biết bay! Bạn không thấy mỗi ngày có hàng ngàn phi cơ cất cánh, hạ cánh sao. Trên phi cơ có đủ hạng người, thế là ai cũng biết bay. Bay mà còn được, thì còn biết bao nhiêu chuyện thần thông khác của ngày nay kể sao cho hết. Cho nên khoa học hôm nay chính là thần thông, nhưng nếu không biết dùng thần thông để sống như chánh pháp, thì thần thông có thế nào cũng chẳng mang lại giải thoát khổ đau. Việc rõ ràng như vậy, nên bạn thấy, người ta đã dùng thần thông gây tạo chiến tranh giết hại biết bao người. Lẽ này tại sao đức Phật đã ngăn cấm dùng thần thông, và chỉ dùng khi có lợi cho tha nhân chứ không phải cho mình. Nhưng tha nhân phải là số đông, hoặc thuận duyên chứ chẳng phải lúc nào cũng làm được, nếu không sẽ sai đi lý nhân quả nghiệp báo.
            Nhắc đến nhân quả bạn và tôi liền nhớ, ngày ra đi vào Niết Bàn của Đại Thánh Mục Kiền Liên thật sự chứng minh nghiệp nhân quả báo là điều mà thần thông cũng phải bó tay. Đó là lẽ đương nhiên của chân lý, lại là bài pháp giải thoát cho hàng học Phật, phải tinh tấn trong việc đạt được thần thông tự tại nơi tâm, chứ không phải ngoài thân hướng đến các pháp sinh diệt.
            Với chúng ta, những phàm nhân còn đầy cảm xúc luyến ái thế gian, nghe chuyện xả thân của Đại Thánh Mục Kiền Liên, ai lại không động lòng thương kính; nhưng dù thế nào nghiệp nhân quả báo vẫn là chân lý; chính cả Thế Tôn là Thầy Bổn Sư của Mục Kiền Liên không thương tưởng bằng chúng ta sao?     Nhưng Thế Tôn dạy rằng Mục Kiền Liên vẫn đi vào Niết Bàn, chỉ khác hơn bằng hình thức ra đi phải chịu quả báo đền trả từ ác nghiệp kiếp xưa.
            Như thế hiển ảnh của thần thông là biểu trưng cho nền văn minh khoa học thế gian của con người ngày nay, và những phương tiện của người học Phật hôm nay, đã đạt được một phần thần thông phước báo đó. Và tất nhiên phước báo đó cũng còn tùy vào nhân nghiệp hành động của ta hôm nay, để khi rời khỏi phước báo kia, vẫn hướng về con đường giải thoát.

Phú Lâu Na: thuyết pháp đệ nhất.
            Lại cũng không khác chư vị Đại đệ tử lớn của Phật, và tất cả danh xưng đều do Đức Phật tán thán ngợi khen tạo phương tiện sách tấn cho hàng đệ tử sơ cơ vào đạo. Phú Lâu Na được Phật ngợi khen không ai có thể thuyết pháp độ sanh hơn Ngài. Điều đó tuyệt đối như vậy, vì lời Phật dạy không thể nghĩ bàn được, tuy nhiên quả vị cao nhất con đường giải thoát vẫn là quả Phật; do đó tất cả đệ tử của Như Lai mỗi người mỗi hạnh, mỗi phương tiện độ sanh rồi cũng quy về nhất quán. Thế thì phương tiện độ sanh dù thế nào cũng chỉ là phương tiện, để cứu cánh là làm sao tạo được chánh pháp lan xa cho chúng sanh học hiểu. Bậc đại Thánh như Ngài Phú Lâu Na tất nhiên hiểu điều này nên không bao giờ tự cho mình là đệ nhất, nếu không sẽ ngược lại lời Phật dạy.
            Ý nghĩa thuyết pháp đệ nhất của Ngài, còn có nghĩa là giáo pháp Như Lai hiện đã và đang được thuyết giảng quảng bá khắp nơi. Người học Phật nào có công phát huy đạo giải thoát mà không chấp pháp, chấp tướng, không sanh tâm tự mãn, người đó đã làm sống dậy hình ảnh của Phú Lâu Na. Nhưng thế gian không phải đơn giản như chúng ta tưởng; ngay cả thời chánh pháp, thuyết pháp thành tựu như Ngài Phú Lâu Na, cũng đâu phải dễ dàng nhiếp phục người tin, nếu không nỗ lực dấn thân.
            Ngày nay phương tiện hoằng pháp bằng nhiều cách truyền hình, truyền thanh, điện toán, cũng phải gặp biết bao trở ngại. Không phải cứ gom góp lời Phật, lời Thánh rồi tung rải giới thiệu cho mọi người, thì gọi là xiển dương chánh pháp! Ngày xưa bằng hình ảnh, bằng giới tướng trang nghiêm của chư vị Thánh Tăng, nên pháp ngữ có nơi y cứ chứng minh. Hơn nữa lại còn nhân duyên thù thắng, là hình bóng Thế Tôn luôn từ bi che chở, nếu không lại chẳng thể còn đến ngày nay. Cho nên hình ảnh Ngài Phú Lâu Na khi tuyên dương chánh pháp cũng là hình ảnh của Thế Tôn không khác; Phú Lâu Na không thể thuyết pháp đệ nhất mà không hiện tướng giống như Thế Tôn, nghĩa là phải thực hành sinh hoạt của một vị Thánh, mới có thể độ được kẻ sơ cơ và người trí thức. Người học Phật chúng ta thời nay cũng phải học theo hình ảnh Đại Thánh Phú Lâu Na, dùng tất cả phương tiện của thời đại, nhưng tinh thần tâm niệm hướng đến thanh tịnh trang nghiêm phải nên đặt hàng đầu. Phương tiện khoa học vận chuyển được tam tạng giáo điển Như Lai vào đời, đó là ý nghĩa thuyết pháp đệ nhất của Ngài Phú Lâu Na; nhưng phải biết phương tiện chỉ là phương tiện chứ không thể trở thành cứu cánh, khi thiếu hành động thể hiện từ phương tiện đó.
            Có lẽ hình bóng Đại Thánh Phú Lâu Na sẽ đẹp mãi trong mười đại đệ tử Phật nói riêng, và tất cả những người con Phật nói chung. Và hiện nay cũng không phải ít, xuất hiện đâu đó chư vị Thánh Tăng cận đại, như là đệ tử của Ngài, đã và đang nỗ lực sống như chánh pháp, và ban những lời chánh pháp đến khắp thế gian.

Tu Bồ Đề: giải không đệ nhất.
            Giải không, ý nghĩa là tự tại với các pháp, không một ý niệm dính mắc, kể cả ý niệm không dính mắc.
            Hiểu về Đại Thánh Tu Bồ Đề không phải là chuyện dễ. Vì làm sao hiểu Ngài, khi danh xưng của Ngài là tuyệt đối Không! Tuy nhiên đó cũng chỉ là hình ảnh đẹp nhất trong các đệ tử của Phật; và như chúng ta biết, dù sao đi nữa cũng chỉ lấy hình ảnh Thế Tôn là chính yếu. Nhưng cũng lại nói, chính nơi Thế Tôn đã hiện ra những đệ tử tuyệt vời, để trực tiếp cho thế gian hiểu giáo pháp giải thoát của Như Lai nhiệm mầu và ứng hiện nơi chư đại đệ tử của Ngài.
             Tích xưa kể khi Ngài Tu Bồ Đề sanh ra, đồ đạc vật chất trong nhà tự nhiên biến mất, hiện tượng như vậy kéo dài trong ba ngày mới hoàn lại. Sự kiện lạ này, đó là biểu hiện tánh không của Ngài khi lớn lên; và tánh không như vậy, đã được đức Phật làm sáng tỏ hơn để Ngài có thể đắc quả Giải không rốt ráo. Điều này chẳng lạ gì với pháp Như Lai, nhưng nếu chỉ dùng ngôn từ diễn nói vẫn chưa đủ ý nghĩa Không, như thế mà hình ảnh ra đời của Ngài Tu Bồ Đề hiện ra cảnh lạ vậy. Tuy nhiên nếu đời nay người học Phật cho chuyện đồ vật trong nhà biến mất trong ba ngày khi Tu Bồ Đề sanh ra, là chuyện khó tin, như thần thoại. Vậy có thể hiểu đồ đạc biến mất trong nhà, là ý nói người thân của Ngài lúc này, tự nhiên thấy rổng rang an lạc, nhẹ nhàng, trong tâm sinh ra hoan hỷ không có chấp trước người vật chung quanh.
            Khi Tu Bồ Đề chính thức vào đạo giải thoát, Ngài được phát huy triệt để lý tánh về không, theo hạnh không của Ngài từ nhỏ. Từ đây là đại duyên cho chúng sanh để Phật thuyết giảng bộ kinh siêu tuyệt Kim Cang Bát Nhã, phá đi hết thảy mọi hý luận ngã pháp của thế gian, rốt ráo đưa người đi vào giải thoát tuyệt đối.
            Vậy hình ảnh Tu Bồ Đề nhắc nhở người học Phật, trở về bản thể nhất như vô ngại, không sanh không diệt; và thế giới ngày nay chỉ là hoa đốm hư không, bóng trăng dưới nước, chẳng có gì chân thật. Hiểu biết tánh không để không nô lệ bám víu, không vô lý đấu tranh giành giựt vì những hình ảnh giả tạm kia. Cuối cùng hiểu tánh không để đạt được quả vị cao nhất là quả vị vượt lên phạm vi ngôn ngữ thế gian lẫn xuất thế gian, đó tạm gọi là quả giác ngộ toàn vẹn vậy.

Ca Diếp: đầu đà đệ nhất
            Là vị đệ tử lớn của đức Phật, gọi đệ tử lớn ở đây không mang ý nghĩa tuổi tác ngang hàng Như Lai, mà lớn vì tánh hạnh lo cho Tăng đoàn, cho huynh đệ, bằng cách sống đúng như ý nghĩa đầu đà khất sĩ; giữ được tính thoát tục ly dục tuyệt đối. Trong giáo đoàn Như Lai thật sự cần có Ngài làm điển hình mô phạm đầu đà khổ hạnh, như thế mà Ngài được Thế Tôn tán thán là đầu đà đệ nhất. Hạnh đầu đà của Ngài chỉ có Thế Tôn hiểu rõ, vì ngoài hạnh tinh tấn dụng công cầu tu giải thoát, Ngài còn thể hiện thân giáo cho những vị mới gia nhập tăng đoàn, cũng như phương tiện nhắc nhở chư huynh đệ, chớ quên mục đích ly dục là mục tiêu chính của người xuất gia cầu giải thoát. Và hạnh đầu đà của Ngài còn để thay cho Thế Tôn thầm dạy bảo chư vị huynh đệ nào, có tâm giải đãi móng niệm hưởng thú an nhàn quên đi dụng công tu hành. Vì Thế Tôn bấy giờ khó thể thực hiện hạnh đầu đà, đó là do sự ngăn cản của hai hàng đệ tử không thể đành lòng để Thế Tôn khổ hạnh; hơn nữa tất cả một lòng mong muốn kim thân Ngài trụ thế càng lâu càng lợi cho chúng sanh. Như vậy trưởng lão Ca Diếp mặc nhiên buộc phải thay Ngài.
            Việc khổ hạnh như bạn và tôi đã bàn qua, chính là phương pháp giữ được giới hạnh, giữ được nguyện lực của người tu. Và tất nhiên Ngài Ca Diếp trước và sau đắc quả, vẫn khổ hạnh như một; cho đến khi Thế Tôn vào Niết Bàn bấy giờ Ngài mới phương tiện hướng ngoại tiếp cận với Tăng đoàn một cách tích cực, để triệu tập trùng tuyên pháp ngữ Như Lai.
            Như thế hình ảnh Đại Ca Diếp cho người học Phật thấy rằng, thời nào hạnh đầu đà (khổ hạnh) cũng cần phải được lưu tâm, để hạnh nguyện giới đức của người tu sĩ xuất thế còn mãi với thời gian. Ngược lại dù làu thông kinh điển, dù kiến thức Phật học cao đến thế nào, mà không cảm nhận được nỗi khổ của người, và thể hiện phần nào chia xẻ bằng sự thực hiện khổ tu chính mình, thì cả cuộc đời tu cũng chỉ như một học giả thế gian không hơn không kém. Vậy ta phải nên đảnh lễ ghi ân Đại Thánh Tăng Ca Diếp.

Ca Chiên Diên: luận nghị đệ nhất.
            Trước khi Đại Thánh Ca Chiên Diên quay về Chánh đạo, Ngài là vị thức giả Bà La Môn với biện tài tranh luận không ai có thể qua được. Kiến văn thông bác của Ngài đến nổi có thể tra cứu đọc được cả một bản văn, được tin rằng đây là ngôn từ của phạm thiên, chứ không phải người thế gian viết. Nhưng Ngài chỉ đọc được mà không thể hiểu, từ nhân duyên này đã đưa Ngài gặp một người thông minh, thông bác, trí huệ hơn gấp vạn lần Ngài, đó là đức Phật; để giảng giải bài văn khó hiểu đó, và thế là Ngài phải chịu quy y xin được làm đệ tử. Đó là nhân duyên trở thành đại thánh.
            Với sức học và sự hiểu biết uyên bác lại gặp đạo vàng, Ngài sớm đắc quả và được Phật tán thán là vị đệ tử luận nghị đệ nhất trong tăng đoàn. Con người của Ngài là hình ảnh dùng pháp xuất thế gian, chuyển hóa hết thảy pháp thế gian. Trước khi gặp Thế Tôn, Ngài giỏi về lý luận theo tôn giáo hướng ngoại cầu cạnh bên ngoài, bấy giờ sau khi giác ngộ giải thoát, Ngài lại giỏi hơn xưa gấp vạn lần, và điều giỏi đó tất cả đúng theo chánh pháp; nhưng giỏi nhất là có thể thuyết phục mọi người không phân biệt nếu được duyên gặp Ngài.
            Thế giới ngày nay thường sống trong biện luận đấu tranh, từ trong gia đình đến xã hội, quốc gia thế giới, đó là vì chưa hiểu được chánh pháp Như Lai; nếu lấy hình ảnh Ca Chiên Diên, là lấy sự công bằng khách quan nhìn nhận giáo lý duyên sinh, nhân quả để quay lại soi sáng chính mình, thì sự nghị luận chẳng cần tranh cãi, vẫn có thể giải quyết được hòa bình, nói gì phải đổ máu hy sinh.
            Hình ảnh của Ngài cũng nhắc nhở người học Phật phải tự khiêm hạ, luôn luôn nương tựa hình bóng Thế Tôn qua giáo lý giải thoát, để phá đi bản ngã chấp thủ định kiến của mình. Và tự rèn luyện cho chính mình sự nghị luận đúng với tinh thần từ bi và trí huệ.
           
A Na Luật: thiên nhãn đệ nhất.
            Nghe qua danh xưng của Ngài, người chưa rõ câu chuyện sẽ không ngờ Đại Thánh là người khiếm thị, là vị Tỳ Kheo được chư huynh đệ thương lo vì không thể đi lại khất thực được. Chính đức Phật có lần đích thân khâu vá y áo cho Ngài, tình thầy trò ở đây khó thể diễn tả được; vì cương vị và tình thương của Phật, lại là Thầy chung của ba cõi, bốn loài. Cho nên khi biết Thế Tôn tự tay vá áo cho mình, Ngài đã xúc động không cầm được nước mắt.  Việc này đối với đức Phật, tuyệt đối là tình thương không phân biệt, Ngài thương mến A Na Luật bao nhiêu, lại đối với tất cả chúng sanh khác cũng bấy nhiêu. Nghiệp quả mù lòa của Ngài đến từ nguyên do, khi Phật thuyết pháp Ngài đã lơ đãng rơi vào mê ngủ. Và khi bị Phật nhắc nhở ý thức, Ngài tự sám hối hứa rằng, sẽ không bao giờ ngủ nữa cho đến cuối cuộc đời.
            Thế Tôn và các huynh đệ an ủi dạy Ngài không nên cố chấp lời hứa đó, vì biết lỗi sám hối là quý rồi, nhưng Ngài bạch thưa Thế Tôn, không thể mất lời khi đã hứa trước bậc tôn sư.
            Bù lại, Thế Tôn thương xót Ngài, chỉ dạy pháp tu để có cái nhìn thấy xa hơn mà không qua nhục nhãn, thế là Ngài đạt được thiên nhãn thông. Từ đó được danh xưng là thiên nhãn đệ nhất, vì không cần phải dùng mắt thịt mà vẫn thấy xa vô ngại.
            Qua hình ảnh A Na Luật, là một sự vươn lên từ lỗi lầm đổi lại được quả vị an định trong chánh pháp. Đây là hình ảnh cho người học Phật chúng ta nhận định, dù đang sống với niềm tin chánh pháp, đang chọn đi trên con đường giải thoát, chúng ta vẫn phải lầm lỗi thật nhiều. Ngài A Na Luật có phải vì chúng sanh mà thị hiện phạm lỗi ngờ ngạc này chăng? Bởi làm sao pháp âm của đức Phật cùng với số Thánh chúng đông đảo đang nhiếp tâm nghe pháp, mà A Na Luật có thể buồn ngủ được! Đây là một hành động, cảnh tỉnh người học Phật ngày nay, hãy cẩn trọng thức tỉnh trước muôn vàn cám dỗ của đời sống dục lạc, để không thôi giấc ngủ vô minh của ta sẽ không còn ai đánh thức được.
           


Ưu Bà Ly: Vị đại đệ tử trì giới đệ nhất
            Tôn giả Ưu Bà Ly người nổi tiếng là trì giới đệ nhất, chứng minh điều này, chính Ngài đã được Tăng đoàn cử làm luật sư trùng tuyên lại tất cả giới luật Phật chế.
            Dù vậy cuộc đời Ngài lại phải trải qua những thử thách của dư luận với sự dèm pha dò xét, đôi khi còn bị miệt thị, cũng vì Ngài sinh trưởng trong giai cấp Thủ Đà La, được xem là thấp hèn của xã hội Ấn Độ bấy giờ. Tuy nhiên sự chứng Thánh quả của Ngài đã tạo được ấn tượng tốt cho một số người quá khích, và hơn hết nói lên giáo pháp giải thoát siêu việt của Thế Tôn là chân lý muôn thuở.
            Ngày nay khi nhắc đến Phật ngôn, ‘Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, và giọt nước mắt cùng mặn’, chúng ta phải nhớ về Tôn giả Ưu Ba Ly, người đã thật chứng lời dạy của Như Lai. Cuộc đời của Ngài nếu không gặp giáo pháp giải thoát, sẽ phải về đâu? Điều này hẳn ai cũng biết, và đừng nói là người của giai cấp nghèo hèn, mà bất cứ giai cấp nào, con người nào, nếu không gặp Phật pháp, sẽ trôi lăn mãi trong vòng sinh tử; chừng ấy sáu nẻo luân hồi được sanh thân người đâu phải việc dễ, nói chi chọn lựa giai cấp này giai cấp nọ.
            Như vậy sự xuất hiện hình ảnh của tôn giả Ưu Bà Ly trong Tăng đoàn Như Lai, nói lên giáo pháp giải thoát bình đẳng một cách tuyệt đối; hơn nữa địa vị chứng đạo và giới hạnh đệ nhất của Ngài, càng nâng cao tinh thần trong sáng của đạo giải thoát cho tất cả mọi người, mà không phải mặc cảm giai cấp dân tộc lãnh thổ nào.
            Thật như thế, trải qua hơn hai thiên niên kỷ, giáo lý giải thoát bình đẳng vẫn hằng hữu vững bền không bị chướng ngại bởi một sắc thái dân tộc nào; như nếu có sự bất như ý đó là sự từ chối phủ nhận chân lý mà thôi. Và người học Phật đời nay hay mãi đến đời sau, bao giờ còn người học tu giới luật, thì hình ảnh Ưu Bà Ly đại biểu cho giới luật Như Lai sẽ sống mãi; ngược lại nếu không còn hành trì giới luật, không còn trì tụng lời Đại Thánh Ưu Bà Ly đã từng kết tập, thì Phật pháp chỉ còn là bóng dáng chết mang đầy tính chất mê tín dị đoan. Nhất là trong thời mạt pháp ngày nay, hình ảnh tôn danh của Ngài lại càng được nhắc đến, có nghĩa nhắc đến giới luật của người học Phật, nếu không Phật học sẽ bị đồng hóa trở thành kiến thức thế gian.
            Chúng ta nên kính nguyện đảnh lễ tôn giả Ưu Bà Ly với công đức không thể nghĩ bàn này.

A Nan: đa văn đệ nhất.
            Tôn giả A Nan Đà, chúng ta thường hay gọi tắc là A Nan, vị tôn giả có công vĩ đại nhất trong việc lưu truyền giáo lý Như Lai. Đúng như vậy nếu không có Ngài, thì ai lại có thể nhớ tất cả những lời Phật dạy. Chỉ có Đại Thánh A Nan mới làm được việc này. Đọc kinh Phật bạn hãy để ý, luôn luôn bắt đầu bằng câu ‘Tôi nghe như vầy...’. Và đại danh từ xưng hô Tôi, chính là của Ngài A Nan.
            Nếu Ngài Ưu Ba Ly có công trùng tuyên giới luật, thì A Nan có công trùng tuyên tất cả nhân duyên pháp ngữ của Phật, trước và sau khi có giới luật. Thiết nghĩ dù luật giới là quan trọng, nhưng Ngài A Nan có phần quan trọng hơn. Vì nếu chỉ kết tập luật giới, chúng sanh sẽ không hiểu, sẽ khó tin, cho nên phải có kết tập lời dạy của Thế Tôn, lời khởi dẫn tại sao có luật giới. Hay nói tóm lại hai Ngài, A Nan và Ưu Ba Ly là hai vị đại Thánh, mà người học Phật khó thể nào trả ơn được; duy chỉ có hành trì theo lời Phật dạy mới xứng đáng với ân nghĩa của hai Ngài.
            Thế kỷ hôm nay đã đi qua hơn hai mươi lăm lần thế kỷ, vậy mà pháp ngữ Thế Tôn vẫn còn đọc tụng, điều này không thể nghĩ bàn được, và điều này lại khiến người học Phật phải nghĩ đến Đại Thánh A Nan; Ngài không phải là một vị thị giả ngẫu nhiên, một vị thị giả chỉ có kiếp này!. Ngài phải là một vị Bồ Tát lớn, từng theo Phật đến vô số kiếp như Phật thường dạy, cho nên sự xuất hiện đời này của Ngài, chỉ là tiếp tục cùng Phật hoằng dương chánh pháp. Lẽ như vậy Ngài mới có một trí nhớ phi thường, trí nhớ của một vị Bồ Tát lớn, được che đậy bằng lớp hình của một thị giả khiêm cung cận kề đức Phật đến cuối cuộc đời.
            Điều nữa cũng chẳng ngạc nhiên, khi A Nan có một tuổi thọ đến trên trăm tuổi, đó chỉ là lý do nán lại thế gian, để củng cố lời trùng tuyên giáo pháp Như Lai. Ngày nay pháp ngữ, luận ngữ, và giới luật của Thế Tôn cũng như của chư vị Bồ Tát Thánh Tăng đã được hệ thống hóa thành Tam Tạng kinh điển, và được đưa vào hệ thống điện toán lưu giữ, phổ biến phát hành một cách quy mô. Phương tiện kỹ thuật được tận dụng bằng tất cả khoa học, mong sao giáo lý giải thoát được phổ cập trong quần chúng. Tuy nhiên người học Phật ngày nay phải công nhận rằng dù thế nào đi nữa, vẫn không thể kéo lui được những ngày của thời Chánh pháp, Tượng pháp. Ngày đó dù lời Phật dạy rất giới hạn trong việc lưu truyền qua kinh sách, nhưng pháp ngữ của chư vị Đại sư truyền bá đến đâu, người nghe thấm nhuần đến đó, bởi họ trân quý kính tưởng thiết tha. Họ không được nghe nhiều nên ít phân tâm, ít so đo phân biệt. Ngày nay nói là kinh sách phổ cập quần chúng Phật tử rất nhiều, nhưng nhiều lại hóa thành nghiên cứu tìm hiểu phân biệt, có khi lại bình phẩm người dịch, thậm chí đến pháp tu. Như thế học Phật đã không đem lại thanh tịnh còn gây tạo thêm vọng ngôn đến chánh pháp. Do đó mạt pháp là mạt pháp lòng người ngày nay, chứ nội dung kinh điển giải thoát xưa nay vẫn là nhất quán.
            Nhớ về Đại Thánh A Nan, chúng ta lại thấy Ngài vẫn còn xuất hiện qua phương tiện truyền tải pháp ngữ Như Lai đến ngày nay. Nhưng hình ảnh của Ngài lại dạy cho người học Phật ý thức rằng, kiến thức Phật học chỉ giúp chúng ta mới bước đầu gieo duyên, chứ chưa thể hưởng được pháp lạc. Thực tế việc này khi thời gian sưu tầm nghiên cứu kinh điển, ta cảm được hỷ lạc sinh ra nơi tâm, nhưng rồi biến mất vài giờ sau đó, nếu kéo dài lâu lắm chỉ đến hôm sau là cùng; bởi vì đây chưa phải là việc hành, nên chỉ cảm được bấy nhiêu.
            Ngài A Nan suốt thời gian thị giả Phật, nghe không biết bao nhiêu pháp, và cảm nhận cũng không biết bao nhiêu hỷ lạc, nhưng vẫn chưa đắc Thánh quả, đó cũng là lý do đây. Do đó khi nghe Đại Thánh Ca Diếp nhắc nhở, chưa thể cùng chư Thánh Tăng kết tập kinh điển, vì A Nan chưa chứng quả, bấy giờ Ngài mới hiểu và ý thức, Thánh quả phải đến từ việc làm, từ hành đạo mà ra. Thế là chỉ có hôm sau Ngài đã đầy đủ dung nghi của một bậc chứng pháp Vô Sanh. Vậy hình ảnh Tôn giả A Nan, nhắc nhở chúng ta phải hành nhiều hơn là học .
           
La Hầu La: mật hạnh đệ nhất.
            Theo truyện sử kể lại, Tôn giả La Hầu La là một trong mười đại đệ tử Phật, nhưng lại không thấy có gì kỳ đặc khác thường so với chín vị đệ tử lớn thường được xưng tán nêu danh. Tuy nhiên Ngài lại được đức Phật tán thán là vị tỳ kheo mật hạnh đệ nhất, điều này tuyệt đối La Hầu La đã thật chứng mật hạnh này, chúng ta phải tin lời của Thế Tôn muôn đời vẫn là chân ngữ. Không phải vì Thế Tôn trước khi thành đạo là cha của La Hầu La, nên La Hầu La được ân huệ này! Xin thưa, không bao giờ như thế; người thế gian chưa hiểu biết pháp giải thoát chỉ tu nhân đạo, còn biết xem trọng tính vô tư chân xác, như là quân pháp bất vị thân, mới có thể được nhân quần thiên hạ nể phục danh tiếng ngàn thu, huống gì là đấng Đại Giác vượt lên ba cõi.
            Vậy thì Đại Thánh La Hầu La nhất định có mật hạnh, và mật hạnh này Thế Tôn biết rõ hơn ai hết! Vì chính Ngài đã tán thán. Ta lại suy nghĩ thêm, đối với chư vị Tỳ Kheo bấy giờ, quả vị A La Hán là điểm đích cuối cùng cam go thử thách của người tu đã được giải quyết. Và sự tiếp tục con đường thành Phật là những bước hành Bồ Tát đạo thành tựu cho kiếp tương lai. Do đó ngay lúc này quả A La Hán là một điều tuyệt đối hoan hỷ an lạc và an trụ. Thế có còn gì vui hơn nữa, và cũng chẳng có gì màng vui hay không vui, vì các Ngài bắt đầu vượt lên những dụng công vi tế, buông bỏ tất cả, chuẩn bị đi vào con đường khác mong đạt đến quả vị Như Lai. Thế thì như vậy, dù Phật có tán thán hay không tán thán, quả vị A La Hán đã nói lên sự thành tựu việc hành đạo của chư vị rồi; hơn nữa điều này còn làm Thế Tôn hài lòng hơn nữa. Bằng như không đắc quả, sự tán thán của Phật cũng chẳng đem lại một quả chứng nào cho chư vị, nếu chư vị không dụng công hành đạo.
            Ta lại hiểu đã đắc quả A La Hán, thì vị nào cũng có niềm an lạc như nhau. Và mười đại đệ tử của đức Phật được quả A La Hán, cũng chẳng có gì hơn sự an lạc của các vị A La Hán khác. Như vậy sự đề cập đến công hạnh hành đạo, và hình ảnh dụng công kỳ đặc của chư vị nào đó, chỉ là nhắc nhở và phương tiện để sách tấn cho những hàng sơ cơ ghi nhớ, mà cuối cùng là làm sao rút ngắn đoạn đường tu, chứng quả mau hơn.
            Như trường hợp Ngài A Nan được tán thán là Đa văn đệ nhất, được liệt vào mười đại đệ tử của Phật, tuy vậy Ngài chỉ đắc quả A La Hán sau khi Phật nhập Niết Bàn. Và việc này Phật có tán thán Ngài cũng chỉ là mong Ngài tu chứng quả cho mau, chứ chẳng ngoài gì cả!
            Trở lại Tôn giả La Hầu La, thời gian khi vào đạo, tuổi còn quá trẻ lại bị ảnh hưởng sự nuông chìu kính thương của bậc vương giả, nên chẳng những khó tu cho mình, còn gây phiền não đến người không ít. Nhưng khi Ngài được Phật dạy, ý thức được việc tu hành lợi ích quan trọng cho mình và người thế nào, thì Ngài đã đổi tính hoàn toàn, cho đến dụng công thành tựu chứng quả A La Hán. Khi đã thành bậc Thánh giả, Ngài lại tiếp tục công phu, và có lẽ để đổi lại những hình ảnh không hay của ban đầu vào đạo, nên thường lặng thinh mặc niệm dụng công, khiêm hạ tuyệt đối; như ít giao tế với người, ít để duyên trần vào đời sống hành trì tu niệm. Và dù được hay không được hài lòng phương tiện hoằng hóa lợi sanh, Ngài chẳng thay đổi trầm tịch tu hành; nhưng đúng hơn hết, vẫn lấy việc hoằng pháp bằng thân giáo trong lối hành trì khiêm hạ tế nhị của Ngài nhiều hơn; cho nên Phật đã khen là mật hạnh, nghĩa là luôn hành trì tinh tấn mà không bao giờ để người khác biết; ngay cả chẳng chấp vào việc thầm lặng tinh tấn tu niệm.
            Thiết nghĩ hình ảnh của Ngài quả thật được ca ngợi và hành theo. Sự trở ngại tu đạo lớn nhất là phô trương, tự cho mình hơn người, xem người khác thấp kém, cho nên Tôn giả La Hầu La, dù không phải có những tài hạnh nổi bật khi hoằng pháp lợi sanh, nhưng chính sự thầm lặng khiêm hạ trầm tư của Ngài, lại là bài pháp khó học và đáng ca ngợi tán thán.
            Xã hội ngày nay hình thức sắc màu đa dạng, việc hoằng dương chánh pháp thầm lặng tiêu cực, lại chẳng phải là việc dễ độ sanh; vì đời sống khoa học văn minh, phương tiện học pháp đã khác rất nhiều, cho nên chư vị chứng quả, hay chân tu thạc đức, muốn độ sanh cũng đành xuất hiện mượn vào hình ảnh tiếng danh làm phương tiện. Dù thế người học Phật như chúng ta đôi khi lại hiểu lầm, nên chẳng hài lòng một ai. Người thầm lặng tịnh tu, ta cho là tiểu thừa, người phóng khoáng hướng ngoại trong tinh thần Đại Thừa Bồ Tát, ta cho quá đà sai pháp! Không biết người sai hay ta sai! Thôi thì tốt nhất, phải nói rằng ta sai! Chỉ có ta sai mới là đúng, vì xem ta đã tu thế nào rồi, mới quán xét người ta. Vậy còn cách là học hạnh Đại Thánh La Hầu La là đúng nhất.
            Cuối cùng bạn và tôi phải thấy, nếu đây là sự sắp đặt thứ tự mười vị Đại Thánh chấm dứt bằng Ngài La Hầu La là người nhỏ tuổi nhất. Nhỏ nhất để kết thúc tất cả phẩm hạnh hiện ra trong mười vị Thánh nhân, và cũng rất hợp lý kết thúc chọn mật hạnh như Ngài La Hầu La bao gồm hết tất cả chín hạnh. Do vì chỉ có mật hạnh mới thật đúng ý nghĩa và tinh thần hành đạo vô chấp vô ngã vậy.
            Thưa bạn đó là một vài hình ảnh sống thật và giải thoát của mười vị đại đệ tử tiêu biểu của Thế Tôn; tất nhiên câu chuyện kể về các Ngài chắc chắn không thể chính xác, vì lý do chỉ là truyền tụng trải qua nhiều thế kỷ, cũng như ảnh hưởng vào niềm tin, quan niệm của người thuật chuyện, và nhất là chẳng thể tránh được việc quá kính mộ quý Ngài, nên có thể thần thánh hóa vượt khỏi nhân cách bình dị của các Ngài. Thành ra vấn đề là hãy đón nhận những gì thực tế, những gì là bài học có thể hành xử được trong bối cảnh thời đại ngày nay. Việc nữa để hiểu mười vị đại đệ tử chỉ là tiêu biểu nổi bật, và tất cả đệ tử của Thế Tôn đều là những bậc tu hành mô phạm không sai khác, nhất là quả vị vô sanh (A La Hán) là điểm chứng đạo mà tất cả chư Thánh thể hiện xứng đáng nhất như lời Thế Tôn dạy bấy giờ.
            À! Chúng ta lại quên mất trong Tăng đoàn Thế Tôn, chư vị Thánh Ni, vẫn đạt được quả vị giải thoát vô sanh không khác Thánh Tăng vậy, đó là chư Thánh Ni: Ma Ha Ba Xà Ba Đề, Kế Ma, Liên Hoa Sắc v.v... Và tất nhiên chư vị Thánh Ni cũng có những hạnh tu tiêu biểu nổi bật như bên Tăng. Thật ra điều này bạn và tôi phải biết, tánh giác chỉ là một; khi chưa ngộ đạo còn mang lớp vỏ vô minh, dù nam hay nữ, nghèo hoặc giàu tất cả đều đau khổ; nhưng khi giác ngộ khơi dậy Phật tánh, thì bức tường hình tướng, kể cả bức tường kiên cố của ý thức chấp ngã cũng phải phá tiêu. Chỉ còn lại là sự chứng đắc thể tánh thanh tịnh tuyệt đối đi vào thế giới nhất như của chư Phật, và bấy giờ vượt khỏi sự hý luận thường tình. Cho nên một cách tương đối để hiểu về danh xưng hình ảnh của chư vị Tôn giả thời Phật, làm niềm tin gần gũi với những đệ tử Phật ngày nay đã cách Phật hơn hai ngàn năm trăm năm.
            Như vậy lượt qua tìm hiểu mười vị đại đệ tử Thánh Tăng chứng đạo thời Phật, giúp bạn và tôi thấy được giáo lý giải thoát của Đấng Thế Tôn càng thêm rực rỡ sinh động, qua hình ảnh hành hoạt đa dạng ly kỳ của mười đại tử Phật nói riêng, và tất cả đệ tử Phật nói chung cho đến thời nay. Lại nữa dù hình ảnh mười vị Thánh Tăng chứng quả với trong những hoàn cảnh nhân duyên khác nhau, nhưng không tách rời sự hài hòa sống chung trong biển pháp; đó là điểm đẹp nhất mà người học Phật chúng ta cần suy niệm học hỏi. Như vậy ta có thể đoán biết chư vị Thánh Tăng được như thế, thứ nhất là vì chư vị đều là bậc Vô Sanh (A La Hán), và thứ hai đã thể hiện sống lục hòa như lời Phật dạy.
            Vậy thì nhân đây tiếp theo mời bạn, chúng ta thử bàn về sáu pháp lục hòa xem sao.

           











Lục Hòa

            Lục hòa là sáu pháp hòa kính mà Thế Tôn luôn ân cần nhắc nhở cho hàng đệ tử Phật, nhất là đệ tử xuất gia. Sáu pháp Lục Hòa là: Thân hòa đồng trụ, Khẩu hòa vô tránh, Ý hòa đồng duyệt, Giới hòa đồng tu, Kiến hòa đồng giải và Lợi hòa đồng quân.
Thân hòa đồng trụ
            Hình ảnh Thế Tôn hiện hữu sống động, đi lại hoằng pháp bấy giờ, là một thời kỳ chánh pháp rực rỡ khiến cả Phạm Thiên Đế Thích ở những cảnh trời sung sướng khoái lạc, còn phải ao ước được gần gũi với Ngài. Những vị trời như vậy đã gieo duyên Phật pháp từ lâu, nhưng chưa chứng đạo, đành phải hưởng quả báo cõi thiên, nay nhờ chút duyên lành tìm lại gặp Thế Tôn quả là đại phước. Thế thì chư đệ tử trong hình tướng cõi người đang sống và thực hành gần Đấng Đại Giác phải sung sướng thế nào?
            Câu trả lời là Thánh quả A La Hán đã đến với chư vị như một tặng phẩm tất nhiên, sau khi được Thế Tôn chấp nhận cho vào hàng đệ tử. Niềm vui an lạc, an định, tịch tỉnh của quả vị A La Hán, thiết nghĩ không còn gì để nói! Và có muốn nói cũng chẳng biết sao, bởi chẳng lẽ bằng ý thức phiền não phân biệt mà có thể giải thích được niềm vui giải thoát? Thế chẳng lạ gì Phạm thiên cõi trời còn mơ ước là phải rồi.
            Thân hòa đồng trụ trong thời Thế Tôn, không nói cũng tất thành, bởi ai lại chẳng muốn nương theo hình bóng Thế Tôn mà sống, dù chính ngay chư vị đệ tử đã đắc quả vị A La Hán vẫn còn thích sống gần Ngài. Nhưng tại sao đã là điều tất nhiên mà Thế Tôn phải nhắc nhở, dạy bảo Thân Hòa Đồng Trụ?
            Vì đó là lực chúng, lực Tam Bảo tồn tại cho mai sau. Cái nhìn của Đấng Đại Giác không phải hoàn toàn chỉ cho thời bấy giờ; điều đó chỉ làm phát điểm cho thời tượng pháp, mạt pháp ngày sau.
            Nếu cứ mỗi một Tăng, Ni sống riêng rẽ, vậy ai có thể chứng minh giới luật của Phật đang còn hiện hữu, ít ra hiện hữu theo hình tướng bên ngoài. Cho nên Tăng Bảo thật đúng với ý nghĩa và danh từ, buộc phải từ bốn người trở lên. Phật lại dạy, ngày nào các đệ tử ta còn hội họp, còn ngồi chung nhau bàn về chánh pháp, ngày đó Phật pháp còn hiện hữu ở thế gian, điều này chính là Thân Hòa Đồng Trụ. Vì sống chung nhau mới có nhiều cơ hội ngồi chung nhau, lo Phật pháp với nhau.
            Ngày nay chúng ta những người xuất gia tại gia, những người đã và đang học Phật còn hiểu thêm, Thân Hòa Đồng Trụ vẫn có thể áp dụng cho những vị học Phật tu một mình dù tu sĩ hay cư sĩ. Tất nhiên tu sĩ, là điều bất đắc dĩ mới tu một mình; hoặc vì hạnh duyên, hạnh tu phương tiện có thể độ chúng bằng lối cách ly chúng; nhưng không thể khuyến khích người tu một mình, cho những vị hạ căn, những vị Phật pháp chỉ hiểu căn bản.
            Nếu có thể hiểu Thân Hòa Đồng Trụ, là thân tiếp xúc với trần cảnh vẫn an nhiên hài hòa mà trụ định trong chánh pháp, chẳng sanh vọng động, chẳng mất hạnh tu giải thoát, nghĩa là vẫn đủ oai nghi, tế hạnh của người học Phật, vậy vẫn được gọi thực hành Thân Hòa Đồng Trụ dù chỉ sống một mình. Đương nhiên đây không phải chuyện dễ cho người học Phật ngày nay. Nhưng ít ra cũng hiểu để chuẩn bị cho những hoàn cảnh mà người tu sĩ phải lâm vào.
            Trong giáo đoàn Thế Tôn, Thánh Tăng Ca Diếp nổi danh đầu đà đệ nhất, Ngài có thể an nhiên thân hòa đồng trụ, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, điều đó cho thấy Ngài đã giữ được thân trụ, tâm hòa trong mọi tình huống, do đó sinh hoạt thường cách ly Tăng chúng của Ngài vẫn được Thế Tôn ca ngợi.
            Trải hơn ngàn năm sau cho đến bây giờ, các vị tu sĩ nhập thất nơi rừng sâu, núi cao, hang động từ Tây tạng đến Trung Hoa cũng nói lên được ý nghĩa thân cảnh hòa nhau như một. Các Ngài nhập thất, an thân một mình, nhưng tâm lại hòa nhập vào tâm chúng sanh không khác, tức là khởi đại bi tâm sống chịu đựng và hoan hỷ như hiện cảnh chúng sanh sống. Nghĩa là không khởi vọng khi tâm chúng sanh móng lên, và không động tâm khi tâm giác ngộ hiện khởi; sống như lời Phật dạy mà chẳng tiếp một bóng hình nào; và sống như bỏ lại thế gian mà không bao giờ quên thế gian đang phiền não. Những cảnh giới và tâm cảnh của chư vị như vậy, ta không thể cho là tiểu thừa, hay ly chúng được.
            Với người học Phật không phải là xuất gia, tuy hình tướng Pháp Lục Hòa không giống như tu sĩ, nhưng trên thâm nghĩa giải thoát, người tại gia có thể thực hiện được con đường Bồ Tát, là sống trong sự dung hòa với mọi người để thực hiện phần nào chánh pháp đã học.
Khẩu hòa vô tránh
            Từ thân sống với đại chúng, sống gần Thế Tôn nên chư vị Đại Thánh không thể lìa khỏi chánh ngôn pháp ngữ. Có lẽ chư Thánh không có thời gian hý luận, hay đúng hơn là không bao giờ có hý luận xảy ra với bậc La Hán. Ngôn ngữ các Ngài là ngôn ngữ xuất thế gian, chỉ nhất quán với ngôn từ giải thoát.
            Sinh hoạt đại chúng bấy giờ lại được che chở bằng bóng mát giải thoát của Như Lai, nên chỉ có thiền tọa, quán niệm tư duy, tư duy làm thế nào để đưa pháp giải thoát vào thế gian đang đau khổ. Nhưng bạn và tôi vẫn nghe, chuyện đệ tử Như Lai vẫn không tránh được bất đồng quan điểm, bất hòa vài chuyện không đáng xảy ra. Nghĩ ra, đây là việc đương nhiên trong một Tăng đoàn nhiều người sống cùng nhau một chỗ, và người sai kẻ đúng đó cũng là cách học, việc tu, chỉnh đốn Tăng đoàn hoàn hảo hơn.
            Việc tranh cãi bất hòa nhau, hầu hết sinh ra từ những người mới học, Thế Tôn hẳn từ bi đón nhận việc này; điều này cho thấy khẩu hòa chỉ có thể làm được bao giờ quả Thánh được xong; bằng chưa được, thì đây là điều tu nhẫn mà ai cũng phải nỗ lực hành trì. Cho nên Thế Tôn dạy, nên im lặng như chánh pháp, nói năng như chánh pháp. Lời dạy này, trong thập đại đệ tử của Phật, Ngài La Hầu La phải là người làm mô phạm cho tất cả học theo; tiếc rằng tuổi thọ của Ngài không được sống lâu trong chúng, nên mật hạnh thể hiện im lặng nói năng như chánh pháp của Ngài đã không được truyền tụng nhiều hơn.
            Ngược với Thánh Tăng, người học Phật ngày nay, khó thể im lặng như chánh pháp, nên đã xảy ra không ít việc nói năng ra ngoài chánh pháp. Nói năng ra ngoài chánh pháp là nói không đoàn kết, không hài hòa thông cảm tha thứ. Phật dạy khẩu hòa vô tránh, nhắm vào đời sống cộng đồng Tăng lữ, vì nơi đông người là nhân dễ gây tranh cãi; nhất là những vị chưa đạt quả Thánh, khó thể kiềm chế ngữ hòa chân thiện được. Ngày nay người học Phật thấy rõ việc này là chân lý; và đến cả thế gian không học Phật, cũng phải dè dặt lo sợ hậu quả phản ứng từ ngôn từ ác khẩu mà ra. Hay nói một cách thực tế rằng, bao giờ chưa thể đạt được giới định huệ, chưa liễu đạo chứng quả, tất khó thể tránh được ít nhiều ngôn từ xúc phạm đến người khác. Kết luận rằng, đời nào, nơi đâu con người cũng phải giữ gìn ngôn ngữ lời nói.
Ý hòa đồng duyệt
            Thân đã hòa cùng sống, khẩu không phiền tranh cãi, điều đó bắt buộc thể hiện sự hoan hỷ bằng cách nuôi dưỡng ý tưởng vui vẻ, vậy mới thật điều phục được ba nghiệp thân khẩu ý.
            Bạn và tôi tuyệt đối tin rằng, một vị toàn giác sống tuyệt đối hỷ lạc như Thế Tôn, thì những người sống chung nơi Ngài nhất định phải hoan hỷ. Có lẽ trong hàng đệ tử, người hoan hỷ nhất là Ngài A Nan thị giả cho Phật. Nhưng niềm hoan hỷ nào bằng niềm hoan hỷ chứng đắc Thánh quả; điểm này khiến không ít người ngoại đạo ngạc nhiên, tại sao cuộc sống của đức Phật và các vị đệ tử  của Ngài có thể hỷ lạc an vui được, khi đời sống thật buồn tẻ, ngày ngày thọ trai một bửa, ăn uống trong im lặng, sinh hoạt chẳng có gì vui quyến rũ!
            Chúng ta dùng tiếng ngoại đạo ở đây, có nghĩa những đạo giáo hướng về bên ngoài chỉ lo cầu nguyện, ngược với đạo giải thoát hướng vào bên trong nỗ lực tu hành dung hòa cả ngoài lẫn trong. Chúng ta không có ý phân biệt thương ghét với người, chỉ nói khác biệt phương pháp hành trì tu đạo mà thôi; và rồi tương lai xa, tùy thuộc vào hành nghiệp của mỗi người, để rồi tất cả đồng nhất trở về giải thoát.
            Trở lại việc hỷ lạc phát sinh từ ý, đó là điều phải có của một người học Phật. Thật là nhân duyên thù thắng cho những chúng sanh sống thời chánh pháp được gần gũi Như Lai. Niềm hỷ lạc của Thế Tôn khiến ai lại chẳng ảnh hưởng vui mừng hoan hỷ. Trừ người nghiệp nặng trong quá khứ, do đó xa lạ hoảng sợ với chánh pháp, khó cảm xúc được nét hỷ lạc Như Lai.
            Học Phật ngày nay hay tương lai bao xa chẳng khác, phải sinh tâm hoan hỷ, phải sống với ý lạc niềm vui; niềm vui đó là niềm vui từ thân hòa đồng trú và khẩu hòa vô tranh. Nếu thân không cùng nhau hòa sống, nếu những lời khiếm nhã chẳng dứt trừ, thì niềm vui từ ý chẳng bao giờ có được, hay chỉ là những ý vui ác tâm làm nhân cho luân hồi đau khổ.
            Chư Thánh Bồ Tát đời nào cũng tạo cho mình ý hòa đồng duyệt; thậm chí sống nơi thâm sơn cùng cốc các Ngài cũng vui; vui hồi hướng muôn loài chúng sanh sẽ được sống hòa vui vẻ. Đọc chuyện Tế Điên Tăng bên Trung Hoa dù dựa theo truyện sử của một vị tăng hư thật thế nào không rõ, nhưng ít ra câu chuyện cũng cho người học Phật thấy, Tế Điên Hòa thượng là hình ảnh mang đầy sự hoan hỷ đến mọi người; tuy rằng thân Hòa Thượng không đồng trụ với chúng, và khẩu Hòa Thượng là những ngôn ngữ dị kỳ, nhưng niềm vui qua ý của Ngài phải là đại hoan hỷ, đại xả ly. Gặp ai Ngài cũng ý hòa cùng vui, gặp ai Ngài cũng lấy cái vui để đưa người về chánh pháp. Thế giới hôm nay, có Ngài Đạt Lai Lạt Ma người Tây Tạng đang sống lưu vong, Ngài chính là hình ảnh ý hòa đồng duyệt, luôn luôn hiện lên khuôn mặt Ngài.
            Như vậy trong đạo tràng, trong đại chúng, ý hòa đồng duyệt phải là quan trọng nhất, mới thể hiện được cùng vui cùng sống cùng học cùng tu.
 Giới hòa đồng tu
            Trong một Tăng đoàn hơn ngàn người sống chung nhau không tranh cãi, không bạo động, đó có phải là nhờ Giới Hòa Đồng Tu.
            Không phải chỉ có một hình ảnh Thế Tôn trang nghiêm thanh tịnh, mà chư vị Thánh Tăng đệ tử Ngài chẳng khác Như Lai. Đạo giải thoát có vậy mới thuyết phục được các vị vua háo chiến háo thắng thời bấy giờ.
            Vua phải dùng vũ khí, uy quyền, hình phạt... mới mong người tuân thủ nể sợ; nhưng nếu hà khắc cưỡng bức bóc lột người dân quá đáng, thì uy vũ gươm đao thế nào, cũng khó khiến người quy phục.
            Với Đấng Đại Giác, không có gì anh dũng anh hùng khi thắng được chính mình, thắng được tự tâm, đó chính là chiến công oanh liệt nhất. Vị vua cai trị được dân, khiến dân kính phục nể vì, là vị vua chánh trực anh minh, sống vì dân hơn vì mình, lo cho dân hơn lo cho triều nội. Làm vua được vậy đã thắng được tham vọng, tham lam xứng đáng được lưu danh muôn thuở; và điều đó cũng là điều Đức Phật dạy nên sống vị tha hơn vị kỷ.
            Các vị Thánh Tăng phải tự mình tu, tự mình luôn luôn nghiêm túc hành trì mới có thể hòa nhau an lạc được. Thế Tôn chỉ là người dẫn đường, chứ không thể là mắc xích kéo được những người trầm trệ giải đãi không phấn đấu vươn lên. Như vậy mỗi vị hành giả dù đã là Thánh Tăng, cũng phải tuân thủ giới luật, sống đúng quy luật Tăng đoàn, đúng theo đoàn thể giải thoát của Như Lai. Phải nói rằng sự hòa hợp là sự giữ giới vĩ đại, và sự vĩ đại của Tăng đoàn lại đến từ mỗi cá nhân. Ngay ở thế gian cũng vậy, sự đoàn kết của mọi người có được thành công, thành tựu là do đồng tình nhất trí, tán thành luật lệ, giữ gìn quy ước quốc gia. Một công trình tác phẩm vĩ đại lại càng có sự thống nhất ý chí, giữ theo quy tắc, và tất cả phải cùng nhau nhất trí chung lo, thì tác phẩm đó mới trở thành kỳ quan thế giới được.
            Nhưng bạn và tôi cũng phải biết, dù sống một mình độc lập, giới tu của người học Phật vẫn phải được tuân thủ tôn trọng mới có thể giữ được tính chất giải thoát, cho dù việc giữ giới như thế hoặc khó, hoặc dễ, hoặc bị người hiểu lầm hay chính hành giả nghi ngại. Hiểu lầm ngộ nhận, nghi ngờ, đúng giới hay không đúng giới, dù sao vẫn phải giữ được giới, đó mới là cách cụ thể hành trì tu niệm. Và tất nhiên sống độc lập một mình vẫn khó hơn cùng chung hòa hợp.
            Chư vị Thánh Tăng Bồ Tát khi nhập thất tránh xa phố thị, hạn chế tiếp xúc thế gian, nên giữ giới có thể không bị ngộ nhận; nhưng phàm Tăng ngay giữa hoàn cảnh chung đụng mọi người, lại sống cô lập một mình thì sự giữ giới nơi đây không đúng với tinh thần giới hòa đồng tu. Giới hòa đồng tu, chỉ thành tựu là sống trong một tập thể của người xuất gia. Đối với chư vị sống một mình thanh tịnh lánh xa phố thị, dù hình thức không hòa hợp tăng, cùng giới đồng tu, nhưng đã đề cập trên, chư vị là những vị hiểu được điều này, và nhất định đã chuẩn bị cho mình một đời sống đúng chánh pháp; hay nói đúng hơn hầu hết chư vị phải là Thánh Tăng mới có thể làm được.
Kiến hòa đồng giải
            Kiến thức của chư vị đắc quả A La Hán, là kiến thức vượt ngoài hiểu biết của thế gian; các Ngài cũng còn gọi là bậc vô học, nghĩa là không còn phải chạy theo vọng động pháp trần thế gian, bất kể là pháp gì. Không còn vọng động coi như không màng, không có gì để học. Tuy nhiên các Ngài vẫn có cái học, học trong vô học, học trong nguyện thành Đại Bồ Tát, bước lên con đường Phật quả. Nói một cách khác, các Ngài vẫn chưa thể xem mình đã xong, vì Phật quả chưa thành. Tất nhiên đối với kẻ đang học đang tu, thì quả vị A La Hán của các Ngài được xem hoàn mãn trên bước đường tu ở tại thế giới này, và cũng tất nhiên không thể thành Phật được trong khi giáo pháp giải thoát của Thế Tôn, và hình bóng của Ngài đang còn hiện hữu. Và chẳng những các Ngài A La Hán không được, mà chư vị Bồ Tát lớn cũng vậy. Nguyên vì một chu kỳ Phật chưa chấm dứt, phải đợi không còn một kinh pháp nào của Phật, kể cả danh từ Phật cũng không còn, chừng ấy một sự đản sanh khác của một Bồ Tát sẽ bắt đầu vòng quay mới, khởi lên đón mừng một vị Phật tương lai.
            Trở lại việc tu học của chư vị A La Hán, đối với thế gian sự học các Ngài xem như đã xong, tuy nhiên việc hành hoạt vẫn như một tu sĩ bình thường. Các Ngài phải chia xẻ những kiến giải, dù hiểu biết kiến giải bấy giờ đối với quý Ngài chẳng làm lay động, chẳng làm dính mắc, hoặc tăng hoặc giảm trong sự chứng đắc. Tuy vậy các Ngài vẫn giảng giải để giữ chánh pháp, và nhất là gây cho hàng sơ cơ chưa đạt quả A La Hán có nhân duyên học hỏi thực hành.
            Nhưng nếu ta hỏi, vậy chư vị A La Hán khi nghe Phật dạy thì các Ngài vẫn gọi là học chứ? Vâng chắc chắn là vậy, Bồ Tát lớn đối với Phật còn học huống gì chư vị A La Hán, nhưng sự thành tựu tại thế của chư vị vẫn đã viên mãn với quả vị A La Hán này. Và việc học hiểu chỉ tiếp tục theo lời nguyện trong tâm để được thành tựu ở thế giới tương lai, chẳng hạn thực hiện hạnh Bồ Tát tương lai, và sẽ được thọ ký thành Phật tương lai. Nhưng nếu chư vị A La Hán muốn hành Bồ Tát đạo giải thoát ngay hiện thế; điều đó vẫn được, không khó đối với quý Ngài, tuy nhiên chỉ chứng đạo thành Bồ Tát lớn, chứ không thể thành được quả Phật hiện tiền.
            Thế thì kiến thức của chư vị A La Hán vẫn phải được san sẻ, và ít ra tạo được nhân duyên cho lời lập nguyện thành Phật của chư vị; lại lấy đó tạo duyên học Phật cho người sơ cơ tu học.
            Ngày nay người học Phật như chúng ta, lại càng nên phát huy cùng nhau học hỏi kiến giải giáo lý của Như Lai hơn lúc nào hết. Với nền văn minh khoa học vật chất ngày càng rầm rộ không ngừng, việc chia xẻ học hỏi áp dụng giáo lý giải thoát, nhằm quân bình đời sống vật chất, tâm linh quả thật là cấp thiết. Dù vậy, điều có lợi cho việc kiến giải là giải để hành, chứ không giải để thỏa mãn; nếu giải để thỏa mãn chỉ tạo tánh tham sân, vậy thà không giải còn hơn, chứ đừng hý luận bàn thảo hóa thành tạo nghiệp.
            Người giải đúng nhất là người phải hành, vì ngôn từ phải được ứng dụng mới thật là chân ngôn, không thôi chỉ là ngôn từ sáo ngữ. Bạn và tôi vẫn luôn hy vọng tất cả người học Phật chúng ta ngày nay sẽ nỗ lực duy trì và phát huy giáo lý giải thoát, bằng sự tha thiết kiến hòa đồng giải, để giáo lý Như Lai vừa có thể giúp được chính mình, vừa đi vào đời sống nhân gian, để giúp được vô số người đang không duyên học Phật.
            Lợi hòa đồng quân
            Chư vị đệ tử của Như Lai sống trong thời chánh pháp, hầu hết là những bậc Ứng Cúng, đã đắc quả A La Hán, xứng đáng thọ nhận cúng dường của trời người đúng như danh hiệu Ứng Cúng. Dù biết như vậy các Ngài vẫn điềm nhiên tự tại, xem sự thọ nhận là thể hiện từ bi, tạo gây nhân duyên phước điền cho người cung dưỡng. Các Ngài vẫn bình đẳng thực hành khất thực gieo duyên từng nhà, chứ không chỉ ở một nơi thọ nhận cho người mang đến, ngoại trừ mùa an cư hay duyên sự khác.
            Thật ra các Ngài khi chứng quả A La Hán, sự thọ nhận phẩm thực, ăn uống chỉ vì muốn nán giữ uẩn thân hoằng pháp lợi sanh, chứ chẳng còn gì tha thiết, so với niềm an định lạc pháp chứng đạo Niết Bàn. Vậy việc lợi hòa đồng quân, phải là tuyệt đối nhắm dạy cho người học Phật ngày sau. Tuy nhiên vẫn có trường hợp răn dạy cho những vị sơ cơ mới vào đạo. Chẳng hạn một nơi không có Thế Tôn, nơi chư vị chưa đắc quả cùng sống với nhau, thì Lợi Hòa Đồng Quân, sẽ được lưu tâm thực hiện. Phải được chia xẻ nghĩ tưởng đến đồng đạo của mình. Và dù sao, trong thời chánh pháp sự thọ nhận chỉ bằng phương tiện khất thực đơn sơ, trong một dung lượng không gian của một bình bát, nên sự chứa giữ cũng chẳng thể qua một ngày. Nên phải hiểu rằng, điều Phật dạy, Lợi Hòa Đồng Quân là cho thế hệ sau này nhiều hơn, nhất là thời kỳ vắng bóng Thế Tôn quá xa.
            Nhưng ta lại nghĩ thêm, lợi phẩm không phải đơn giản ý nghĩa ẩm thực, tứ sự cúng dường, mà lợi còn là những hạnh phúc thấy đạo và sống đạo, cần phải chia sớt đồng đều đến tất cả; đó là đời sống giải thoát an lạc của một tu sĩ được ban rải đến khắp chúng sanh. Đó là việc hoằng pháp lợi sanh vậy; nhưng việc lợi sanh này chỉ có được bằng sự tu hành mà ra, chứ không phải là kiến thức sách vở.
            Ngày nay người học Phật thực hành Lợi Hòa Đồng Quân, tất nhiên trước tiên ít nhiều thể hiện bằng vật chất, sau phải đem cái lợi quan trọng nhất, là việc học Phật để chia xẻ san sớt cho người. Chỉ có Phật học mới là cái lợi nhất trong mọi cái lợi; vì thực tế người học Phật làm gì có vật chất hơn người khác được, nhưng dù có nhiều cũng chẳng thể chia xẻ cho người hết khổ.
            Thế gian chìm đắm say mê với vật chất, lại đem vật chất chồng chất lên, càng làm con người sinh tham hưởng thụ. Đời sống đã cho ta thấy người càng tham càng thêm đau khổ, chỉ có tham sống đời tâm linh hòa ái, biết sống vừa phải với vật chất hiện thời, đó mới an được tâm, mới vui với hạnh phúc như lời Phật dạy. Cho nên lợi ở đây cần phải lấy bằng tình thương, nhất là chân lý giải thoát của Như Lai, và nếu được cộng vào một ít vật chất mà người nghèo khổ đang cần, điều này càng đầy đủ ý nghĩa nghĩ tưởng thương nhớ đến tất cả chúng sanh. Tinh thần và việc làm như vậy là tối thiểu của người học đạo xuất thế, không phân biệt tại gia hay xuất gia.
            Đối với tu sĩ xuất gia, lợi hòa đồng quân, lại còn hiện rõ lên tâm không phân biệt, tâm bình đẳng, tâm vô ngã, vô chấp, thành tựu pháp Như Lai.
*
            Đó là sáu pháp Lục hòa Phật dạy cho người học Phật xuất gia, cũng như khéo nhắc chừng mực nào đó người tại gia cũng nên học hỏi và thực hành theo. Và chư Thánh, chư Tổ từ thời Phật đến nay và mãi ngàn sau vẫn không thay đổi chân lý Lục hòa muôn thuở.








Khổ và nguyên nhân khổ
           
            Thưa bạn chuyện học Phật của chúng ta cũng tạm được một đoạn đường, từ căn bản hiểu về nhân quả luân hồi, đến vài ý tưởng học Phật trong ba thời Chánh pháp, Tượng pháp và thời nay. Riêng trong phần nói chuyện về giáo lý của Như Lai, có giới thiệu đến bạn 37 phẩm trợ đạo, là 37 pháp học được chia thành bảy nhóm: Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bôà Đề Phần và Bát Chánh Đạo, tất cả nhóm này chỉ là hệ thống sắp xếp lại từ một pháp gọi là Đạo đế trong Tứ Diệu Đế, mà người Phật tử thường nghe. Bài pháp Tứ Diệu Đế, là bài pháp nổi tiếng nhất trong giáo lý Như Lai, do vì là nền tảng trước khi đi sâu vào biển pháp. Tứ Diệu Đế lại được ghi nhận là bài pháp đầu tiên cho nhân loại khi Đấng Giác Ngộ vừa thành đạo không bao lâu, cho nên nói đến Tứ Diệu Đế Phật tử ai cũng biết. Nhưng theo thiển ý, dù Phật có nói thật nhiều bài pháp nào trước đó, thì pháp Tứ Diệu Đế cũng là bài dễ nhớ và quan trọng nhất. Bởi vì sao? Vì tự bài pháp đó nói lên nguyên nhân xuất hiện đạo Phật. Hay nói đúng hơn, bài pháp đó là bài pháp mà đức Phật trước khi thành đạo đã trăn trở vì nó, và đã được khám phá, cho nên nó phải là trung tâm, yếu điểm tất nhiên vậy.
            Nó là gì? Là khổ, nguyên nhân khổ, sự đạt đến tuyệt đối giải thoát khi chấm dứt khổ, và phương pháp để đạt được tuyệt đối an lạc giải thoát. Nói cho gọn là Khổ, Tập, Diệt, Đạo.
            Như vậy câu chuyện học Phật tự ban đầu đến giờ, bạn và tôi đã mặc nhiên hay cố ý bàn qua phần Đạo rồi; và ta hãy còn ba phần nữa. À đúng ra chỉ còn hai phần thôi, vì phần Diệt, tức là cảnh giới giải thoát an lạc Niết Bàn sau khi diệt được khổ đã vô tình bàn qua rồi! Bạn còn nhớ không, chúng ta đã có tìm hiểu về Niết Bàn là quả chứng của chư vị Thánh Tăng đắc đạo ngay thời còn Phật.
            Thưa với bạn lần nữa, chỉ là tạm hiểu thôi, chứ nào đâu mà biết. Niết Bàn mà còn bàn, còn biết tức là còn chấp đâu phải Niết Bàn! Sự thật chỉ căn cứ vào lời Phật dạy, rồi sám hối lạm bàn vậy thôi!
            Thế thì còn hai phần Khổ và Tập cũng nên lượt qua cho xong.
            Sở dĩ nói rằng lượt qua cho xong, vì chuyện học Phật đến đây cũng khá lắm chuyện, hơn nữa mọi người đều dư hiểu về khổ, nguyên nhân khổ; bởi chúng ta là nạn nhân đó mà! Có phải vậy không? Cho nên phải thưa những gì cần cụ thể chứ chẳng mới lạ gì hơn.
            Khổ: Chẳng cần định nghĩa dài dòng, hễ cái gì làm con người bất an không hài lòng từ thân đến tâm cái đó gọi là khổ. Vậy cuộc đời có ai thoát được cái vừa nói đâu! Chính Thái Tử Tất Đạt Đa đã thấy được điều này, và không lẽ chúng ta nói chính Ngài là người khổ nhất?
            Vì không khổ da diết, sầu bi thê thảm cho cuộc đời, thì làm gì Ngài phải quyết tâm thoát ly hoàng cung để lang thang tầm đạo! Nhưng đạo của Ngài tìm không phải để được sanh lên trời; nếu như vậy ta không thể định nghĩa khổ là một chân lý.
            Đạo của Ngài tìm mục tiêu chính là diệt khổ, thoát ly sinh tử đạt đến tuyệt đối an vui giải thoát; cho nên đó là điều mà chúng ta phải nói, Ngài là người khổ nhất quả thật cũng có lý! Và hy vọng nói như vậy không quá đáng.
            Nhưng rồi lại nghĩ, người thiếu ăn, lại sống trong đau bệnh, hay người đang tù đày chờ bị xử chết... cảnh đó mới khổ nhất, vậy sao gọi cảnh của một thái tử Tất Đạt Đa đang trong tự do hưởng thụ là khổ nhất?
            Thật ra chúng ta chỉ dựa theo hiện tượng hoàn cảnh truyền thuyết kể lại, và căn cứ vào giáo lý giải thoát của Ngài sau khi chứng đạo, mà suy đoán, chứ cũng chẳng biết tâm tư của Thái Tử lúc bấy giờ thế nào. Dù vậy một điều phải thấy Ngài đã sợ cái khổ muôn đời của con người, là sanh già bệnh chết cứ bất tận như vậy. Cái khổ bất tận kéo dài từ bao lâu Ngài không biết được; và đau đớn thay, khi Ngài biết rằng cái sanh tử bệnh chết đó nó là một chân lý, nếu không phương giải thoát nó sẽ mãi mãi đến với con người. Cho dù người đó đang ở tù hay ở hoàng cung chẳng khác, chính điều này đã làm Thái tử bấn loạn tâm tư không thể hưởng thụ được gì, ngoài việc mong thoát khỏi nỗi khổ ám ảnh muôn đời vậy. Thế thì ta phải biết một vị thông minh trác tuyệt nhất trần gian như Ngài khi ý thức khổ, mà chưa tìm ra nguyên nhân thoát khổ, thì phải là khổ chẳng thua ai; hơn nữa ai cũng biết cái khổ tinh thần vẫn làm điên người và giết chết người được.
            Thưa bạn chắc bạn đã đồng ý Ngài phải khổ lắm. Vậy thì không còn cách nào phủ nhận được, tuyệt đối đời là khổ. Nhưng giả như có người nói, thì mình đừng khổ được rồi, cứ để mọi việc trôi qua tự nhiên đi! Vâng, chẳng có sao, nếu ta có thể làm được vậy. Nhưng làm được vậy cũng đáng chúc mừng vì đã có tư tưởng gần giống như chư vị liễu đạo, tự tại với các pháp sinh diệt thế gian; chỉ sợ nói thế mà còn tham, sân, si thì làm sao thực hành tự tại được.
            Giờ bạn và tôi thành thật nêu rõ ra cái khổ thực tế mà Phật dạy thế nào.
            Căn bản có tám điều khổ: sanh, già, bệnh, chết, thương yêu ly biệt nhau; cầu muốn không được; thù ghét sống chung nhau; và năm thứ của thân thể suy thạnh.
            Tám việc khó chịu này không ai mà không kinh nghiệm, không ai mà không đau khổ vì nó. Nhưng người ta ít khi quan tâm, xem chừng nó là một định mệnh an bày; khổ đến thì cố tránh hay cắn môi than thở, khi qua rồi bù lại tìm vui hưởng thụ như để trả thù!. Người trí lo tìm giải thoát không như chúng ta, họ ý thức ngay từ lúc vui hưởng thế gian; biết các pháp vô thường sinh diệt, vui rồi sẽ hết, hết là khổ đau.
            Riêng ta chỉ vì ham vui không nhìn sự thật mà ta khác với người trí; người trí đề cập ở đây không phải trí thế gian, vì trí thế gian đã đau khổ từ lâu rồi!
            Sanh, già, bệnh, chết là khổ về thân, xác thân vật chất này; tất nhiên trong thân có tâm, nếu không làm gì biết khổ. Nhưng phân biệt là để nhận định cụ thể hình ảnh vấn đề đang chịu đau khổ của một chúng sanh hiện sống cục mịch ở thế gian này.     
            Cái khổ về sanh, nói lên cả hai đối tượng, người mẹ sanh, và đứa con được sanh hay bị sanh. Có lẽ phải nói rằng bị sanh, vì đời có chân hạnh phúc đâu mà nói là được sanh, dù đứa bé được sanh trong nhà phú hộ cũng vậy. Nhưng đối với chư Bôà Tát chư Thánh nhân xuất hiện ra đời bằng đại nguyện, thì đây ra ngoài trường hợp được và bị; hay có thể nói đối tượng ngược lại, người mẹ đang mang vị Thánh nhân phải được nhiều hơn là bị. Dầu gì bà cũng khổ về thân khi mang, nhưng sẽ vui với phước đức sau này, được duyên học đạo từ vị Thánh đó.
            Người ta nói mang nặng đẻ đau, hay nhất sinh thập tử, đó là nói lên nỗi đau của người mẹ khi sanh con; riêng đứa bé thì chỉ có nó mới biết. Đừng tưởng ta lớn, ta biết, ta cảm giác nhiều nên đau nhiều hơn, còn đứa bé mới sinh có biết gì mà đau! Chưa hẳn là đúng. Ta phải là đứa bé ta mới cảm thức được, cũng như sự đau qua rồi ta hay quên đi, cũng vậy đứa bé lúc đau phải là thật đau, nhưng rồi lớn lên tất phải quên chứ không phải cái đau không có, hay chuyện qua rồi ta tưởng chẳng có sao! Tỉ như nhìn người hấp hối đau đớn quằn quại trước khi lìa trần ta khó thể biết được cái đau đó, ngoại trừ nạn nhân trong cuộc; nhưng rồi khi người bệnh chết đi đầu thai trở lại; rồi đứng nhìn người khác sắp chết, lại đâu biết rằng nỗi đau đó chính mình đã từng trải qua, trải qua trong sự đau khổ kinh hoàng nhất. Đó là việc quên đi giống như nhìn đứa bé sinh ra vậy.
            Nói về nỗi khổ già, bệnh, chết chẳng khác gì và nếu ta chưa già, chưa bệnh, chưa chết, ta cũng không thể biết rõ được; dù vậy bệnh hoạn thì ta đã từng kinh qua, vì ai lại chẳng bệnh, và bệnh thật đúng bệnh là bệnh đau trước khi chết. Nhưng cũng không đúng lắm, bởi có người bị bệnh hoành hành trên giường năm này qua tháng nọ, chẳng chịu chết, cái bệnh này còn đau hơn là chết nữa!
            Già thì sao? Già thì tất cả đã không còn được hưởng thụ như còn trẻ, và nỗi khổ rõ nhất là hay nhìn lại quá khứ đau lòng thương tiếc! Rồi khổ càng tăng khi ý thức giờ đây thân thể chỉ là một thể xác khô cằn chậm lụt, ăn uống không ngon như xưa, ngủ không thể nhiều như trẻ; chỉ sống qua ngày chờ chết đến đón đi. Bạn và tôi không cần phải giải thích nhiều, cứ tìm người già yếu quan sát sẽ thấy rõ hơn.
            Nói về khổ chết! Giây phút chết mới biết rõ nhất, bây giờ bạn và tôi chỉ là phỏng đoán mà thôi; tuy cũng có thể nhìn người khác chết suy ra vẫn được nhưng phải chết mới là rõ. Kinh Phật nói cái khổ trước khi chết giống như con vật bị bỏ vào nước sôi, đó là nói sự đau đớn trước khi tắt hơi. Thôi thì càng kể càng khổ, rồi lại cộng thêm khổ chết mà chẳng biết về đâu, đây còn khổ hơn nữa!
            Tóm lược vài lời về khổ thân như vậy, bây giờ đến khổ tâm.
- Khổ vì thương yêu xa lìa nhau (Ái biệt ly khổ).
            Nếu chúng ta khổ về thân bao nhiêu thì khổ tâm lại chẳng kém chút nào, có khi còn khổ hơn nữa! Sự thật điều này là những cuộc tình, những oan trái, những tiếng thơm danh dự, những luân lý gia đình... một khi đi đến bấn loạn không thể giải quyết, thì người ta thường tuyệt mạng để cho xong. Thế mới biết khổ tâm thật khổ vô cùng.
            Thương yêu nhau nhưng không được gần nhau, đó là một thứ khổ tâm thường xảy ra với người trẻ, người đang lúc yêu đương. Rồi cũng không tuyệt đối như vậy, bởi thương yêu nào đâu có phân biệt, tình già tình trẻ! Sở dĩ tình trẻ bộc phát mạnh vì nhiệt huyết sinh lực, ý sống của họ nhiều nên cường độ như vậy, chứ người già chẳng khác gì. Nếu sức khoẻ người già còn đầy năng lực, thì nỗi niềm thương yêu của họ vẫn sống chẳng khác chi người trẻ. Như thế người trẻ đau buồn thế nào, thì người già đau buồn thế đó. Sự xa nhau giữa hai người thương yêu, ta không thể diễn tả được, ta chỉ biết qua hậu quả nói lên sức mạnh của nó. Sức mạnh tự giết chính mình, và có khi cả hai cùng nhau chịu chết. Người ta còn nói thà chết chứ không thể sống xa nhau. Ôi thật tội nghiệp! Nhưng làm sao biết chết rồi lại được chung nhau? Chết với sự đau buồn, với sự chưa giải quyết được thì tâm thức làm sao yên, và hành động tạo nghiệp tự sát đó gieo cho người thân còn lại đau thương hơn, tức phải chịu nhân quả khổ chứ làm sao an ổn được.
- Khổ vì mong muốn không được (Cầu bất đắc khổ).
            Không ai lại không mong cầu, không ai lại không ước vọng, dù người đó là một vị vô cầu. Vì muốn vô cầu nên cầu cho được vô cầu cũng là cầu! Cho nên đạo giải thoát dạy vô cầu nhưng biết mình vô cầu, do đó không kẹt chấp với người cầu và pháp cầu. Thế gian khó tránh việc này, cũng như khi bạn và tôi đang bàn chuyện học Phật đây, mỗi bên đều cầu sao cho cả hai cùng giải tỏa được khúc mắc, cùng làm sao cho chuyện học Phật chúng ta mọi người đều hiểu. Tuy nhiên đó chỉ là cầu, chứ việc đến hay không là do nhân do duyên mới được. Nghĩa là phải nói sao ít ra cũng hợp lý, phải bàn sao ít ra cũng chừng mực khả năng mình, và nhất là phải khiêm hạ với kiến thức nhỏ nhoi của mình đang có, như vậy họa chăng việc cầu của mình mới được phần nào. Nhưng rồi thưa bạn cũng chẳng hoàn toàn, bởi vì đời là tương đối cũng như giáo lý Như Lai là tuyệt đối giải thoát, nhưng khi diễn giảng cho người, nó cũng tùy theo đối tượng mà trở thành tương đối để phương tiện hợp lý hợp cơ.
            Thế có việc gì mà chìu ý mình được, khi mình chỉ là tương đối, dù bản thể của mình là tuyệt đối nhứt như, nhưng bản thể ấy được hiện sinh trong một tấm thân ngũ uẩn giả tạm, nên bản thể chỉ là một cách hiểu tương đối theo nghĩa của thế gian. Vậy thì có gì mà cầu được hoàn toàn đâu! Tiếc rằng chúng ta không chịu nhìn nhận vấn đề là do nhân duyên, là do sinh diệt, nên mong cầu không hợp lý rồi phải chịu đau khổ. Hãy nhìn đứa bé gái muốn được con búp bê, đứa bé trai muốn được con khủng long, cả hai thật muốn, mà ba má hai đứa nhất định không cho, nên hậu quả đau khổ hiện lên nét mặt của hai đứa thật là thảm. May mà con nít dễ quên, không thì chiến tranh lạnh với ba má nó làm khổ cả hai. Còn người lớn, ôi không biết làm sao nói cho hết sự mong cầu, mong ước, vì kiến thức nhận định quá nhiều, nên sự cầu mong tăng theo ý thức; và rồi nếu được thì vui, không thì đau khổ trầm trọng. Đau khổ còn nói ra được thì đở, ngược lại vì lý do gì không thể nói, đây có thể dẫn đến quyên sinh. Và rồi bạn à, tánh tham con người sẽ chẳng ngừng nghỉ nên dù cầu được điều chi, sẽ chẳng bao giờ thỏa mãn, vì tâm vô thường nên rồi lại cầu việc khác thế là khổ chẳng cách nào dứt được. Chỉ có cầu giải thoát, vì cầu giải thoát rồi, thì còn đâu nữa mà dính mắc, kể cả dính mắc giải thoát.
-Khổ vì không thích nhau, không ưa nhau lại phải sống chung nhau. (Oán tắng hội khổ).
            Khổ như thế này đã quá rõ ràng, bạn cứ nghĩ ngược lại xem, hễ thích nhau, thương nhau mà xa nhau, phải chịu khổ sở thế nào, thì không thích nhau, ghét nhau lại sống gần nhau cũng khó chịu bấn loạn như thế đó, đằng nào cũng chẳng vui mà sống được; nhưng chuyện đời lại hay xảy ra như vậy, và có lẽ xảy ra rất thường, xảy ra mãi mãi. Tại sao? Cũng tại tâm vô thường và nguồn gốc chính lại là tham ái mà ra. Khi chưa sống chung ai cũng thích, khi chung đụng rồi thì muốn xa nhau; trong lúc muốn xa nhau, tất nhiên tâm tư bấy giờ đặt vào một người khác, vì có ai lại để tâm ghét hết tất cả người, thành ra muốn xa người này để gần người kia. Nhưng đến khi gần được người kia lại tiếp tục thích người khác, vì tâm vô thường và tham ái không thể dừng một chỗ với ai. Thế là người mới đây tưởng rằng sẽ thích mãi, giờ đây đã trở thành người mình ghét nhất.
            Nhưng nếu mình tạm gọi là may mắn sống chung ăn ở với người mình thương cũng khá lâu, thì cũng chẳng bao lâu trong gia đình sẽ xuất hiện một người khác để mình không thích, để sống gần mình cho mình đau khổ chơi!
            Bạn thấy đời có ác không? Thưa không, đó là tất nhiên, vì cuộc đời là vô thường, và nhất là tâm của chúng ta vô thường nên chẳng bao giờ hài lòng với ai. Vậy lỗi là lỗi ở ta đừng gán cho người, ta không tu nên sanh mãi trong luân hồi của thương yêu thù ghét.
            Đến đây là phần cuối trong tám điều khổ, đó là sự xung đột của năm thứ chánh nhân làm nên thân tâm, gọi là ngũ ấm xí thạnh khổ. Thật ra phần này bao gồm cả thân và tâm chứ không phải riêng tâm như ban đầu thưa với bạn.
Khổ vì thân xác tinh thần hành hạ. (Ngũ ấm xí thạnh khổ)
            Ấm có nghĩa che đậy, năm thứ che đậy này là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là hình sắc thân thể, Thọ là cảm thọ, Tưởng là nghĩ tưởng, Hành là hành động việc làm, Thức là ý thức nhận định tư duy. Như vậy che đậy là che đi tánh giác, khiến không thấy được chân lý, không tin các pháp sinh diệt vô thường; và rõ ràng hơn, không thấy năm thứ sắc, thọ, tưởng, hành, thức, là nhân duyên giả hợp nên thân thể này, để tưởng thật có, từ đây sinh ra chấp thủ hóa thành đau khổ. Năm thứ xí thạnh nghĩa là biến động vô thường theo trần cảnh; như thân thể nóng lạnh vô thường, tâm ý vui buồn đột ngột. Nói chung là tâm sinh lý của con người phải khổ vì sự xung đột của năm ấm mà ra.
            Điều này chẳng khác gì bảy điều khổ ở trên đã bàn qua; nó khổ do có thân, rồi lại do tâm nhận định sai, mà sai là nguyên nhân cảm thọ, tưởng nghĩ, hành động, ý thức lao theo trần cảnh vô thường, lao theo các pháp sinh diệt.
            Thiết nghĩ, ngoài Phật pháp ra không còn cách nào để cứu chữa được, và dù chúng sanh đó có sống đến vô thỉ vô chung cũng không thoát khỏi đau khổ này.
            Thưa bạn, chúng ta có thể xem như tạm xong vấn đề Khổ trong phần Tứ Diệu Đế, chỉ còn phần cuối cùng là Tập đế vậy.
Tập đế: Nguyên nhân sự thật của đau khổ.
            Như chúng ta biết tập là chứa nhóm và đế là một chân lý, thì đây nói lên một chân lý chứa nhóm tích tụ thành khổ; nếu không có chân lý tích tụ chứa nhóm này thì Khổ chẳng thể có được. Như thế vấn đề tìm hiểu là chứa nhóm cái chi? Phật dạy, chính là phiền não. Phiền não từ những sai lầm do chúng ta tạo lấy, từ đó chịu đựng đau khổ hay diệt trừ cũng do từ ta mà ra.
            Nếu bạn và tôi bảo rằng, thương người, giúp người, cứu người, hay hy sinh cho người để người không còn khổ. Thưa chẳng bao giờ, và muôn kiếp cũng chẳng giúp được, ngoại trừ chỉ đỡ khổ trong nhất thời thôi, do vì nguyên nhân chính là tất cả vẫn chưa ra khỏi biển khổ. Chỉ bao giờ bạn cho họ biết do đâu mà phiền não, đó mới chính là cách thương yêu chân thật nhất.
            Nghĩ ra việc này mới thấy chẳng có ai thật sự thương ta. Có lẽ ta tưởng người thương ta nhất là cha mẹ hay chồng vợ, hay con cái, hoặc anh em, lại có thể là bạn bè thân nhứt chăng? Thưa hoàn toàn là không! Những người thân này, căn cứ theo giáo lý luân hồi nhà Phật toàn là ân oán, oan gia, đền trả, hay vay mượn mà thôi; và vì do ân oán, oan gia nặng nề trầm kha, kết thành quá nặng, nên dính chặt nhau trong tham ái, có như vậy mới sanh ra gần gũi để trả, để đền ân báo oán nhau.
            Chỉ có những bậc đại Thánh, mới thật sự là mượn thân cha mẹ, làm phương tiện xuất hiện vào nhân gian độ đời. Ngoài ra tất cả là ân oán, chẳng hạn cha mẹ sanh đứa con hiếu, đâu ngờ chính đó là kẻ đã gây oán, trở lại đền lỗi trả ân cho ta! Và đứa con bất hiếu thì rõ ràng ta đã mang ân nghĩa của nó, nay lại phải đền trả; như vậy vợ chồng, con cái, anh em, bạn bè là một chuỗi dây xích, mắc dính với nhau bằng những khoen của ái ân, thương ghét, thù hận mãi không thôi. Tất cả là sự thật như vậy, do đó nếu thật thương cha mẹ và tất cả người thân, tất không còn cách nào quý báu giá trị bằng chỉ rõ cho họ biết thế nào là phiền não là nguyên nhân khổ. Ngược lại nếu họ cũng chỉ cho ta biết phiền não ra sao, thế nào, thì đó chính là cái thương chân thật, đó là cách không còn vay trả nợ nần với nhau nữa, cho nên tỉnh thức mà nói chỉ có đức Phật là người thương ta nhất, thương cả hơn cha mẹ, vợ chồng... Và ta cũng phải bắt chước tình thương của Ngài để không còn phiền não nữa.
            Nào bây giờ bạn và tôi tìm hiểu sơ lược phiền não là thế nào.
            Phật dạy phiền não căn bản có mười thứ: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Thân kiến, Biên kiến, Kiến thủ, Giới cấm thủ và Tà kiến.
            Trước hết là Tham:
            Nói về tham, không còn lạ gì nữa, cả buổi trò chuyện học Phật đến giờ càng lúc càng hiểu rõ hơn. Người thế gian không học Phật còn dư biết; biết nó tác hại thế nào hậu quả ra sao; có khi thế gian còn chứng kiến nhiều hơn người học Phật, nhưng tiếc thay biết nhưng khó trừ. Và người học Phật là người thay mặt cho người thế gian thực tập cái việc lìa trừ tham ái. Nói như vậy cho thấy học Phật mà còn tham hóa ra còn tệ hơn người thế gian! Thế gian sinh tham vì chưa học Phật điều này không lạ, trong khi học Phật lại sinh tham điều này mới lạ vô cùng.
            Nói vậy cũng phải thông cảm, tham đây không chỉ do đời này; nó đã có từ thời gian luân hồi không tính được, và mãi tận đến bây giờ. Trừ khi ta ra khỏi luân hồi mới chấm dứt; tất nhiên muốn được ra khỏi luân hồi phải chấm dứt từ đây. Tuy nhiên phải xét toàn diện, tham không tuyệt đối chỉ về mặt tạo nhân nghiệp ác, vì còn có cái tham đáng học; tham đó là tham học đạo tu hành giải thoát. Chỉ sợ không hiểu và không tin rằng đời sống là một vòng tham ái khổng lồ, trong đó mỗi cá nhân chúng ta là một nhân tố sinh tham.
            Có lẽ không cần bàn luận nhiều nữa, bởi việc đã rõ ràng ai lại chẳng biết tham. Chúng ta hãy tiếp theo những phiền não khác.
Sân giận: Lại quá rõ ràng không kém gì tham; bạn và tôi cũng đã ít nhiều đề cập rồi. Nếu phải nói thêm chẳng ngoài đưa ra hậu quả của nó mà thôi; mà hậu quả của sân xưa nay đã quá chừng rõ ràng cụ thể; càng nhắc càng buồn, càng nhắc càng thấy mình thương mình nhiều hơn, vì quá si mê đến nỗi phải sân giận như vậy. Nói là thương mình có nghĩa là thương người, bởi biết thương mình để không sân giận, vậy cũng có nghĩa là không sân giận với người, tức là thương người.
            Người học Phật trước tiên phải thương mình, khi nhận ra mình luân hồi xưa nay trong đau khổ; khi đã được thoát khổ mới thấy rõ người khác còn khổ hơn mình, bấy giờ tình thương người mãnh liệt hơn cả thương mình nữa.
            Bạn nghĩ sao, chúng ta chẳng cần phải bàn thêm, vì sân đã quá rõ ràng, nó rõ ràng nhận thấy ngay từ trong gia đình đến ngoài xã hội, để cụ thể là hình ảnh đau thương quyên sinh, giết chóc. Cho nên bao lâu giữ được không sân giận, thì hạnh phúc thật sự sẽ kéo dài chừng ấy. Bạn và tôi rất mong thế giới người người luôn giữ được đời sống không sân giận để hòa bình sẽ mãi mãi dài lâu.
            Si: Si có nghĩa ngược lại với tỉnh thức với chánh niệm hiểu biết chánh pháp, chứ không phải ngu ngơ, khờ khạo; vì người học thức cao nếu làm việc sai luân thường đạo lý vẫn bị gọi là si. Nghĩa của si như vậy, hẳn chẳng phải là việc dễ dàng; ngay chính người học Phật cũng lắm khi còn si, hay có thể nói còn si hơn nữa kìa, vì sao? Vì đang học Phật mà chẳng hiểu Phật, có phải si hơn người thế gian không?
            Thế thì nhìn lại Tham và Sân, hai thứ nguy hiểm này lại chẳng phải từ si sinh ra? Thưa chính từ si sinh ra. Nhận định thêm nếu tham và sân từ si sinh ra, hóa ra si phải là nguồn gốc nguy hiểm hơn cả hai thứ trên! Cũng có lý đó bạn! Cho nên nhà Phật nói, thà sanh xuống địa ngục còn biết Phật pháp, chứ đừng sanh lên trời mà chẳng có chút duyên gì với pháp giải thoát.
            Thưa bạn, xin nhắc lại, câu nói người học Phật mà si còn tệ hơn thế gian, câu này không có mâu thuẩn với câu, thà sanh xuống địa ngục còn biết Phật pháp. Nguyên vì đáng buồn cho người học Phật chúng ta, đã thấy nẻo sáng mà không gắng tu để tạo nghiệp ác, chứ không phải không khuyến tấn người thế gian học Phật.
            Bao giờ bạn và tôi còn si là còn quay mãi trong luân hồi đau khổ, hay nói cụ thể bao lâu còn si mê không nhận định được chánh pháp, thì tham, sân vẫn vây bủa con người chúng ta.
            Mạn: Vấn đề này thường xảy ra với người có kiến thức; càng cao kiến thức càng tự cho mình giỏi, càng nhìn người khác thấp kém hơn. Sự nguy hiểm của nó cũng không phải là ít, nó có thể là nhân dẫn đến những hành nghiệp ác không chừng. Thử xét xem, một người học thức cao, làm việc được, tự thấy mình giỏi hơn người và cứ giữ tâm tánh ngã mạn này đến lúc tưởng rằng đó là một sự thật, dù sự thật chỉ có giỏi ở một địa phương nhỏ hẹp, nhưng vẫn đủ làm cho người đó sống trong tự đắc tự mãn. Đến khi gặp người giỏi hơn, bổng bị thua kém, thua trước sự chứng kiến mọi người, bấy giờ tưởng tượng xem người này phải đau khổ tức giận ra sao. Ở đây, lúc này đừng nói rằng khuyên giải người này được, vì sao? Vì như đã nói tính ngã mạn đã được nuôi dưỡng đầy ắp trong người này rồi, cho nên sẽ chẳng còn biết gì nữa; thế là một sự trả thù, hay có thể khá hơn, tự ái tự trọng mà quyên sinh tự kết liễu mình; nhưng tất cả đều là tạo nghiệp khổ đau cho đời sau. Nghĩ thêm, nếu đặt tánh ngã mạn tự cao khinh người vào vị trí của quốc vương, tổng thống lãnh tụ quốc gia, hậu quả sẽ thế nào? Điển hình là nhà độc tài Hitler của thập niên bốn mươi, năm mươi thế kỷ 20, ông đã theo tánh ngã mạn độc tài, độc tôn, khinh thường tinh thần quốc gia các nước khác, nên xua quân xâm chiếm một cách ngang tàng, cao mạn, để phải chịu hậu quả không chỉ mình ông, mà hàng triệu người phải chết.
            Tánh ngã mạn thật nguy hại không chỉ đời này còn đến đời sau; và không phải ngã mạn chỉ có ở người kiến thức mà tất cả bất cứ chúng sanh nào; vì hễ còn ngã thì còn mạn, vì mạn là sự nuôi dưỡng dung túng cái ngã quá cao mà ra. Chẳng hạn như ngay trẻ nhỏ vừa biết ý thức đã thích người khen, vì được người nói tốt về cái ngã của nó, và nếu nó giỏi hơn nữa thì ngã mạn tự cao của nó càng nhiều. Đứa bé mà còn vậy, người lớn phải ra sao?. Do điều này nhà Phật dạy đắc hay được cái gì mà cho mình đắc được, xem như không có gì cả. Ngược lại đắc được lại không cho mình đắc được mới thật là được đắc.
            Nghi ngơø: Điều này thật khá quan trọng nguy hại cho việc học Phật, làm chặn đứng con đường giải thoát, chỉ vì không thể dứt khoát được vị trí tư tưởng hành động của mình. Chỉ đề cập đến thế gian đã thấy người sống hay hoài nghi chẳng thể tiến thân không mang lại lợi ích cho ai. Như người làm công nếu tự nghi ngờ khả năng chính mình, việc tiến thân sẽ không thể phát huy được; người làm chủ còn quan trọng hơn nữa nếu nghi ngờ mình thì làm sao tin được người làm việc cho mình.
            Học Phật còn quan trọng hơn, phải lấy niềm tin làm nền tảng giải thoát, đương nhiên ta được quyền nghi ngờ hết tất cả những gì ta ý thức, nhưng phải nghi ngờ hợp lý, phải nghi trong sự phân minh nhận định sáng suốt theo chân lý một là một hai là hai, sáng là sáng tối là tối, chứ không thể nghi để thỏa mãn bảo người khác phải trả lời cho mình thỏa thích. Nghi như thế tới chết cũng chẳng giúp gì và sẽ mãi bị quả báo không gặp được chánh pháp vì mãi không tin. Như thế mà kinh Hoa Nghiêm dạy Tin là mẹ sanh ra công đức. Ta phải biết công đức là gì, công đức là nhân giải thoát đến từ công phu tu hành, phát xuất từ duyên khởi của niềm tin. Nếu không tin ta chẳng có công phu, và ngay cả tin mà chưa dứt khoát ta cũng chẳng có công phu, hoặc có chăng chỉ là gieo duyên, chết đi sống lại cho đến khi nào đạt được niềm tin dứt khoát.
            Ngày xưa khi Phật còn tại thế, cũng có lắm người đến thưa hỏi Phật rồi lại bỏ đi; họï bỏ đi một nhân duyên thù thắng mà phải mất đi không biết bao nhiêu kiếp, biết chừng nào gặp lại, đó là do nghi ngờ chánh pháp. Đại khái họ xin Phật phải giải bày cho biết, vũ trụ thế giới có hạn cuộc biên tế không, và Như Lai sẽ thế nào khi nhập diệt? v.v.. Những câu hỏi có nghĩa hay vô nghĩa này, đều không giúp gì cho việc thực tế giải quyết vấn đề an lạc an định trong dòng sống đau khổ sinh tử hiện thời. Có nghĩa không giúp gì cụ thể làm thế nào diệt được tham lam, sân giận, si ái, là nguyên nhân đau khổ cấp bách cần được giải tỏa.  Do đó Phật không trả lời và dù Phật có trả lời họ cũng chẳng biết, bởi vì với những thắc mắc nghi ngờ xuất phát từ tánh tham, làm sao hiểu nổi cảnh giới của vô tham, vô ngã, vô chấp.
            Ngày nay chúng ta đôi lúc cũng rơi vào nghi ngờ chánh pháp, điều đó chứng minh ta đã nghi ngờ trong quá khứ, hay vì vẫn còn xa lạ với chánh pháp hiện thời. Tuy nhiên ta vẫn còn tin được điều căn bản nhất là dòng sống ngút ngàn của chúng sanh sẽ mãi khổ đau không ngừng và khổ như vậy là tự mình tạo ra, đó là những phiền não. Còn việc đi sâu vào chánh pháp là tùy vào khả năng căn tánh của mỗi người, ta chớ cho rằng việc đó không có, việc đó sai hay là tà pháp. Sự phá giải nghi ngờ là sự tự lực tin theo chân lý Phật dạy, chứ không phải tin hay không tin, nghi hay không nghi bằng lời nói mà được. Như vậy ta phải biết nghi mà không đúng chân lý, là một phiền não làm chướng đạo trên đường giải thoát.
            Thân kiến: Sự quán sát nhìn nhận sai lầm về thân. Vấn đề này là một phiền não, mà thế gian thường hay vấp phải; tuy nhiên đôi khi người học Phật dù dư biết điều này, nhưng cũng dễ quên, lý do chưa thể hiện được việc thực hành lãnh hội về thân kiến. Nhìn nhận sai về thân là không tin thân này do đất, nước, gió, lửa được duyên thành qua năm ấm. Năm ấm chúng ta đã lược hiểu qua rồi. Việc không tin nên bám víu vào thân, phân biệt thân người thân ta, kết quả tạo nên bao nhiêu phiền não chấp ngã chấp pháp.
            Khi còn tuổi thơ, không tin thân này là giả, là chuyện đương nhiên, nhưng lớn lên rồi, chẳng duyên học Phật lại khác gì tuổi thơ! Tức bám víu dành giựt chìu chuộng những gì thân thể đòi hỏi mong muốn. Vẫn có nhiều người chưa học Phật cũng tin thân này là phù du giả tạm, nhưng cái tin đó chưa thể là đúng, bởi dù nó giả tạm nhưng vẫn có nguyên nhân tạo thành, vẫn theo nghiệp lưu chuyển sinh ra đau khổ hay an lạc, chứ không phải phù du giả tạm tự nhiên mà có hay tạo hóa sinh ra. Nhìn từ lịch sử loài người xưa nay, bao cuộc đau thương chiến tranh giết chóc, nguyên nhân chính chẳng ngoài nhìn nhận sai lạc tấm thân thô kệch này. Có phải vì bảo vệ và hưởng thụ một cách thái quá về thân, nên người ta phải khai thác triệt để cái gì có thể làm được. Từ thoạt đầu ý tưởng lo cho thân mình, rồi sinh ra lo cho bà con dòng họ đến cả đất nước; phải chi cái lo cho thân, được chuyển thành cái lo ý thức, nhận ra thân là nguồn tội lỗi, là vô thường vô ngã, như thế đã tránh được biết bao phiền não rồi.
            Tuy nhiên nhìn nhận đúng thân kiến, không có nghĩa khinh rẻ, hay có ý tưởng bi quan về thân thể. Do thân người là một công cụ duy nhất đưa đến quả vị giải thoát, mà tất cả muôn loài trong ba cõi khó thể có được. Ngày còn Phật tại thế, cũng có trường hợp một số Tỳ kheo vừa hiểu đạo cảm thấy thân thể là nguồn tội, liền có ý quyên sinh vì ghê tởm và nhàm chán, việc này đã bị quở trách, vì không hiểu được toàn diện vấn đề giải thoát của Như Lai.
            Tóm lại người học Phật nhận xét về thân chỉ là một hợp duyên, khởi đi từ vô thỉ kiếp do từ dòng thức vọng động mà ra, nên phải thọ nhận, và chuyển xoay mãi, cho nên nó phải vô thường, và hễ vô thường tức chẳng có gì thật ngã để bám víu sanh ra đau khổ.
            Biên kiến: Cũng là một thức ảnh sai lầm chấp về thân, hoặc chấp bên này hoặc chấp bên kia. Thứ nhất là thường kiến, thứ hai là đoạn kiến.
            Thường kiến: Xem thân thể là một hợp thể trường tồn, chỉ chết phần xác chứ phần hồn sẽ sống hoài không đổi, như hồn người chết có sanh trở lại cũng là người, hay không trở lại cũng là hồn người, chẳng có thay đổi chi cả. Nghĩ như vậy tức không có luân hồi, không có sáu cõi, và các loài chúng sanh vẫn mãi sống theo nghiệp của chúng đến ngàn thu, chẳng có cơ hội tiến lên cõi người. Ngược lại, người cũng vậy, dù có tạo nghiệp gì chẳng bao giờ bị đọa lạc vào chúng sanh khác.
            Bạn và tôi thử nghĩ như vậy có đúng không? Và chuyện các con vật sống như một đời sống con người, cũng như con người có khi sống như con vật, chuyện thật như vậy phải nghĩ thế nào? Không đợi phải luân hồi qua đời sau, ngay trong đời này, một người phàm khi được duyên gặp Thánh Tăng học đạo, nếu nỗ lực quyết tâm tu, người này nhất định sẽ đắc quả Thánh ngay tại đời này, và hiện tại tướng trạng của vị này tất phải nghiêm trang khác biệt hơn xưa rất nhiều. Ngược lại một người sống buông thả, với hành vi không còn nhân đạo, tức chẳng đợi đời sau, ngay đời này đã có hiện tượng khác biệt rồi. Hình ảnh con vật cũng thế, một con chó trong vai trò đưa dẫn người mù đi lại trong đời sống; nó sống trung thành cho đến người chủ mất đi, hay cho đến khả năng nó không còn giúp được nữa, con vật như vậy, ngay đời này sẽ được người thương mến chẳng khác một thành viên trong xã hội loài người.
            Như thế qua hình ảnh người vật như vậy, đời sau chẳng thể nói là người chết làm người vật chết làm vật được. Và việc nguy hiểm hơn, nếu không nhìn nhận thường kiến là một sai lầm, thì đời này sẽ còn tạo ra những hành động chẳng còn sợ gì nhân quả.
            Đoạn kiến: Xem thân thể vật chất, thần thức tâm linh là hư vô, là trống rỗng một khi bỏ mất thân này. Lối nhìn như vậy còn nguy hiểm hơn cả thường kiến, vì không tin một cái gì; hễ đã chết thì người hay vật, hay bất cứ cái gì cũng đều đoạn diệt biến mất. Thật là may, số người tin như kiểu đó chắc không chiếm hơn một phần mười dân số trên địa cầu, nếu không chắc là nguy hiểm, vì họ sẽ chẳng sợ nhân quả, chẳng sợ chết bị đọa địa ngục, hay chẳng cần được lên thiên đường chi cả.
            Không sợ nên tự do hành động theo dục vọng ham muốn, theo sở thích tự do của mình, hoặc cố tìm cách hưởng thụ cho thỏa thích những gì làm được. Thưa bạn, nói như vậy chứ thật ra không có bao nhiêu người dám buông thả tự do; hoặc có đi nữa, cũng phải dè dặt với nhân quả, dù họ chẳng kể nhân quả. Nhưng nhân quả dù sợ hay không sợ, vẫn là nhân quả. Nếu nhân quả ở thế gian là một cái gì cụ thể hiện hữu, thì một thần thức nghiệp lực của một người mất đi, tất phải tiếp tục quay theo vòng nhân quả đã tạo, theo việc làm của mình. Chẳng hạn một ác nghiệp gây ra đời này sẽ bị tù đày theo mức độ hành động của họ, và tất nhiên người tạo nhân ác như vậy, đời sau không thể trở thành bậc Thánh được; không thành bậc Thánh tức là có sự cảm ứng quả báo nhân quả đời sau. Vậy thì xã hội hiện thời ta thấy chênh lệch giữa người này người kia, đó là cụ thể của đời sau còn tiếp diễn. Kết lại Đoạn kiến là lối nhìn nông nổi tự gây phiền não cho mình, và tất nhiên tạo nghiệp luân hồi đau khổ.
            Kiến thủ: Đây là loại phiền não do chấp chặt ý kiến, hiểu biết kiến thức của mình. Đương nhiên ai cũng có tự do nhận xét, tự do độc lập bảo thủ ý kiến riêng mình, và hiểu như vậy nên mọi người tôn trọng ý kiến hiểu biết với nhau. Tuy nhiên sự thật phải công nhận, làm người chẳng ai không khuyết điểm lầm lỗi ít nhất là vài lần, điều đó nói lên nhận định hiểu biết của ta không phải lúc nào cũng đúng. Thế thì người cầu học cầu tiến, nên tham khảo ý kiến người khác và phải lắng nghe, không nên tự hào thông suốt một vấn đề gì, dù đó là đề tài chuyên môn của mình đi nữa. Bởi các pháp học không nhất định nằm trơ ra một chỗ; ngày hôm nay ta biết thế này, nhưng ngày mai đề tài có thể đổi mới đi, đó là do bước tiến của nhân loại, mà ta chỉ là một trong phần tử thật nhỏ nằm trong đời sống của nhân loại. Như chấp chặt không chịu cởi mở không chịu nhìn nhận, ta chỉ sanh ra phiền não, vì cố chấp bảo thủ điều dở của mình thôi.
            Điều nữa có những sự thật hiển nhiên, mà ta vẫn cố chấp không tin, trường hợp này còn tệ hơn nữa. Chấp vào hiểu biết của mình là do tưởng rằng mình biết, lỗi đó có thể còn nhẹ, nhưng chẳng thể chấp nhận một điều hiển nhiên như là chân lý, thì đây cho thấy kiến thủ của người này phải đến từ chấp ngã quá lớn. Bảo thủ điều không đúng, như thế chỉ gây thêm phiền não, do vì chân lý vẫn là chân lý không thể thay đổi được. Người học Phật nhất định không thể dính vào định kiến này; ngay cả là chân lý, người học Phật còn phải không chấp, huống gì phải chấp những điều không phải chân lý! Cho nên Kinh Kim Cang dạy rằng, chánh pháp còn phải bỏ, huống là phi pháp.
            Giới cấm thủ: Nói về sự giữ giới sai trái không đúng với chánh pháp. Ta thấy, việc này thường xảy ra ở các bộ lạc xưa, họ tin tưởng thần linh, nên hành xác tuân thủ theo niềm tin, như phải làm thế này thế nọ, đôi khi phải hy sinh đến cả giết người họ vẫn làm được. Không biết ngày nay có còn hay không? Nhưng nếu ngày nay người ta giết vật để cúng, ý nghĩa lại chẳng khác là hại mạng chúng sanh! Giới cấm thủ, đã phân biệt rõ ràng với chánh pháp, khi phải tuân thủ những điều luật hướng vọng bên ngoài, trong khi chính con người là chánh nhân tự làm đau khổ tự mang hạnh phúc cho mình. Phải chi xuất hiện một vị thần linh cho ta thấy, đem lại hạnh phúc cho người, thì ta phải tin giữ theo điều vị thần sai bảo, nhưng sự thật ngược lại chỉ có ta mới đem cho ta hạnh phúc.
            Bao cuộc đau thương giết chóc xảy ra từ chiến tranh thế giới thứ nhất, đến thứ hai, rõ ràng do con người chứ nào phải thần linh! Vậy ta phải cầu ai và giữ giới cho ai? Chỉ có quay về con người, cầu nơi con người bằng cách sống hợp với chân lý, không làm đau đớn mình, không tổn thương kẻ khác đó là cách giữ giới đúng với chân lý nhất.
            Tà kiến: Cũng là cách nói về sự sai lầm khi hướng vọng bên ngoài bỏ đi tánh giác bên trong, để tin những hình ảnh, những ngôn từ mê tín. Tà kiến là những mê tín, tin tưởng vào những điều trái với chân lý, trái với nhân quả. Mê tín như vậy chẳng đem lợi ích cho mình, lại đi ngược với đời sống hiện đại đang trong buổi văn minh khoa học. Người học Phật chúng ta không những nhìn chánh pháp một cách sáng suốt, mà còn khai triển đem chánh pháp xóa đi mê tín dị đoan, đó là cách vừa giúp người mà cũng giúp được mình.
            Thưa bạn, đó là mười phiền não căn bản, là nguyên nhân sinh ra khổ, được gọi là Tập Đế. Trong mười thứ này, năm thứ đầu Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi là những thứ khó trị hơn năm thứ sau, vì nó có mặt cùng lúc con người sanh ra; điều đó chứng minh khi vừa sanh ra chẳng ai dạy mà biết tham, sân, si, và rồi lớn lên tí nữa thì mạn, nghi xuất hiện cũng chẳng cần phải học hiểu ai. Năm thứ này còn gọi một danh từ là Độn sử, nghĩa là sự trói buộc trì trệ chậm lụt khó trừ. Riêng năm món sau: thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến, những thứ này do kiến thức va chạm với thế gian mới kẹt chấp, cho nên dễ trừ hơn còn gọi là Lợi sử, tức trói buộc nhẹ lỏng dễ tháo gỡ.
            Tuy vậy người học Phật phải dè dặt hết thảy, vì nếu chưa đoạn diệt năm thứ trước thì một hai món phiền não sau cũng dễ phạm mà không hay biết, như là kiến thủ vậy.
            Nói về phiền não chúng ta lại nghe về danh từ Tư hoặc và Kiến hoặc, đây cũng có nghĩa thẩm định mười phiền não căn bản qua việc dễ khó đoạn trừ. Như tham, sân, si, mạn, nghi là năm thứ phiền não khó trừ thì gọi là Tư hoặc, do vì nó đã đi với ta từ vô thỉ, nó là căn nguyên thuộc về sự nhiễm khởi từ năm căn, là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tiếp xúc với năm trần là hình sắc, âm thanh, hương vị, và sự xúc chạm, vậy trừ diệt được nó phải là một việc tinh tấn sáng suốt trong sự liễu đạo và hành đạo. Với Kiến hoặc, thuộc phiền não sai lầm về lý, như thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ và tà kiến, năm thứ phiền não này dễ diệt trừ hơn vì chỉ cần học hiểu Phật pháp, thân cận thiện trí thức tức có thể diệt được.
            Thưa bạn tạm thời chúng ta đã hiểu một cách giản lược về phiền não như vậy, đó là nguyên nhân sinh khổ; vậy xem như phần Tứ Diệu Đế bạn và tôi đã ổn định lược hiểu phần nào, giờ chúng ta lại tiếp theo đề tài khác.












Mười hai nhân duyên,
một vòng dây không đầu mối
           
            Chúng ta đã chuyện trò lạm bàn khá tạm một vài vấn đề giáo lý pháp tu giải thoát; giờ có một pháp học nữa cũng thật quan trọng. Thật ra nói pháp quan trọng là nói về sự hành, nếu chẳng hành, pháp có thế nào cũng thành vô nghĩa, hay được lắm là gieo duyên thôi. Tuy nhiên cũng phải biết học pháp giải thoát, là nhắc lại lời Thế Tôn dạy, để có thể khởi sáng thêm tâm, điều đó dù chưa hành, nhưng vẫn có công đức, nên bạn và tôi chẳng ngại đôi lời thô thiển, kiến thức sơ căn, sám hối cầu mong cùng nhau học hỏi.
            Thưa bạn, điều bạn và tôi tìm hiểu đây là pháp tu mười hai nhân duyên, pháp này quan trọng cho tất cả các hàng đệ tử của Phật, vì đó là một khám phá sinh tử, tìm ra được đầu mối của cuộc luân hồi bất tận mà ngày xưa Bồ Tát Tất Đạt Đa đã tìm ra để chứng đắc thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác trong thời kiếp Phật Thích Ca hiện nay.
            Mười hai nhân duyên này đối với một vị chuyên cần học Phật, nỗ lực gia công quán chiếu có thể chứng đắc quả vị Duyên Giác; và có thể chứng đắc cả trước hoặc sau thời Phật. Tuy nhiên không phải dễ hiểu dễ biết dễ thực hành, chính ngay thời Phật, pháp này đã có Phật giải bày nhưng không phải ai cũng chứng được. Đa số đệ tử Thế Tôn thời bấy giờ với quả vị A La Hán đã là quá cao nhưng chắc chắn chư vị phải tiếp tục quán chiếu pháp tu mười hai nhân duyên để chóng đạt quả Chánh Giác.
            Nhà Phật thường nói quả vị Thanh Văn là do tu chứng Tứ Đế, Duyên Giác nhờ Thập nhị nhân duyên và Bồ Tát do tu Lục độ vạn hạnh. Dù vậy trên bước đường đạt đến quả Phật tất cả quý Ngài trong ba hàng Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát chắc chắn phải tiếp tục dụng công hành trì Thập nhị nhân duyên sâu hơn mới có thể toàn giác. Đó là tính chất quan trọng của mười hai nhân duyên như vậy.
            Đối với người học Phật thời nay hầu hết là sơ cơ hành đạo, dù tu pháp môn gì cũng không thể không tìm hiểu mười hai nhân duyên; như đã thưa cả chư Bồ Tát còn tu, vậy chúng ta, nói là đang học Phật phải vui mừng học hỏi chứ. Thưa bạn đương nhiên ở đây bạn và tôi chỉ là tìm hiểu, chứ không thể nào dám gọi là thực hành quán chiếu thành tựu pháp tu này. Nhưng dù sao được tìm hiểu cũng là thắng duyên, và thắng duyên sẽ thành tựu trong tương lai.
            Nào bây giờ thử tìm hiểu, thế nào là cái vòng quay mười hai nhân duyên, là vòng mắc xích cột người từ vô thỉ đến nay.
            Mười hai nhân duyên gồm có: Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Aùi, Thủ, Hữu, Sanh, Lão tử.
            Vô minh: Là một đầu mối phát xuất từ bao giờ không ai biết, nhưng nó phải thật sự là có phát xuất và khởi động; sự khởi động của nó hiện lên như sóng biển, cứ lượn sóng này vào thì lượn sóng khác tiếp theo, nhưng thật ra sự khởi động của nó chưa từng ra khỏi đại dương. Nghĩa là có vô minh, nhưng cũng có trí huệ giải thoát. Và vô minh, trí huệ giải thoát là hai hiện tượng nhưng chỉ cùng một bản thể; bản thể nhứt như vô ngại. Cũng như biển động sóng khởi là vô minh, biển êm phẳng lờ là giải thoát, nhưng cả hai chỉ nằm trong đại dương là nhứt thể. Thế thì tìm hiểu vô minh là tìm hiểu quay lại con người chúng ta; và ngay lúc quay về tìm hiểu là bắt đầu phát khởi sự hiểu biết giải thoát. Nhưng chỉ mới phát được hiểu biết, chứ tất nhiên tuyệt đối chưa thể giải thoát được. Bởi có người vẫn tìm hiểu vô minh, nhưng chẳng tu giải thoát, thành ra chỉ là phát khởi, và vô minh vẫn còn nguyên vẹn.
            Phải thật tu thật chứng, vô minh mới chấm dứt, cho nên người phá được vô minh, người đó không còn bàn luận như chúng ta nữa, bởi vì trí huệ giải thoát của người đó đã thật có, và trí huệ đó bấy giờ lại không phải trí huệ như chúng ta hiểu là đối lại với vô minh. Còn đối chiếu còn phân chia không phải là tuyệt đối, cho nên không thể dùng ngôn ngữ thế gian để giải thích, và chúng ta có hiểu được rốt ráo, tức phải chứng đạo như các Ngài mới rõ được.
            Thế thì trước hết, một người học Phật, một hành giả công phu muốn giải thoát, phải thiết lập một sự hiểu biết tương đối trước khi đi đến tuyệt đối. Vậy tạm hiểu vô minh là sự đối lại với trí huệ giải thoát, và đối lại với trí huệ nghĩa là còn trong vòng luân hồi; còn trong vòng luân hồi là còn đầy đủ phiền não tham, sân, si. Nếu muốn dứt trừ vô minh tức phải dứt trừ phiền não, nhưng lại muốn dứt được phiền não, người này bắt buộc phải hiểu và tu theo giáo lý của Như Lai. Không hiểu giáo lý Như Lai, tức còn phiền não, vậy thì vô minh có nghĩa là không hiểu giáo lý của Như Lai.
            Chúng ta có định nghĩa vô minh là sự mê mờ, sự tối tăm, sự ngây dại khởi đi từ bao giờ nữa, thì đó cũng chỉ là sự không thấy chân lý giải thoát mà thôi. Chân lý giải thoát căn bản nhất mà kinh dạy đó là Tứ Diệu Đế, bài pháp đầu tiên Phật dạy cho nhân loại mà chúng ta đã có bàn qua.
            Vậy thì theo định nghĩa trên vô minh đã hình thành rồi một hình thể phàm nhân, tức đã kết mắc đầy đủ mười hai mắc xích nhân duyên, và ta đã là nạn nhân đang bàn thảo đây. Như thế ta mới biết và ý thức cần giải thoát. Và việc vô minh khởi đi từ bao giờ, đó là câu hỏi không thể giải quyết được vì hiện tại ta đang vô minh; nếu nói rằng từ vô thỉ thì cũng tiếp theo câu hỏi chừng nào nó mới dứt và rồi trả lời là vô chung! 
            Nhưng nó có vô thỉ hay vô chung, chẳng cần phải quan tâm, chỉ quan tâm hiện tại phải biết vô minh là luân hồi và dứt luân hồi là thực hành thành tựu đạo giải thoát vậy.
            Bây giờ hãy tạm suy diễn tìm hiểu theo từng mắc xích lúc mà vô minh dưới một dạng thể mê mờ, động niệm, khởi lìa thân xác ngũ uẩn đã hư hoại, rồi duyên tạo thế nào mười một mắc xích kia.
            Khi vô minh khởi đi, cũng tức là vọng niệm khởi sinh, nơi đây sinh ra Hành, tức sự khởi động bằng một lực, và lực này hẳn nhiên chìu theo cái mê muội không sáng suốt. Hành nhà Phật dạy là hành động, tức là nghiệp, là những tác nghiệp từ vô minh. Thật khó mà biết lúc ban sơ của vô minh, hành nghiệp khởi động thế nào? Nhưng cũng không ra ngoài vô minh, cho nên vẫn là Hành trong cái tính bất thiện và si mê.
            Nếu căn cứ vào thân nghiệp chưa giải thoát, tức nói về một con người chưa tu chưa đắc pháp vừa chết đi, điều này dễ giải thích hơn. Vậy thì Hành ở đây là cả một nghiệp lực từ nhân quả của nhiều đời trước còn vướng mắc, hoặc ngay trong kiếp sống vừa qua. Hành nghiệp này sẽ lưu lại những hành động vi tế đã tạo, và hiện lên, duyên thành Thức, đó là một tâm thức hay gọi là một tâm niệm phân biệt trong tham ái, hay trong ý tưởng cao thượng. Đến phần Thức đây là vấn đề bắt đầu trở lại của một dòng sống. Thức vừa lưu chuyển vừa tích tụ chủng tử làm nhân thiện ác tạo thành quả báo tương lai; cho nên bao nhiêu hành động tâm niệm bấy giờ được lưu giữ mà chúng ta nghe gọi là Tạng thức vậy. Như thế khi một thân mạng mất đi, thì chính thức này còn gọi là tâm thức hay thần thức chuyển di ra khỏi ngũ uẩn, và từ đây lại tiếp tục đầu thai, hay tái sanh tùy vào dòng sống thiện ác của nghiệp, và bấy giờ ta lại gọi nó là nghiệp thức dẫn dắt tái sanh vậy.
            Xin được trở lại theo tuần tự khi thức bắt đầu đi vào thai sau khi có sự giao hợp giữa cha mẹ với nhau; chính nơi đây một sinh linh bắt đầu khởi tác; và tất nhiên nếu thức không vào thai, thai không thể thành hình được. Nếu nghiệp thức đi vào thai có một quá khứ thiện, sự khởi tác tiếp theo sẽ được tốt đẹp cho đến khi ra thai, ngược lại sẽ bị chặn đứng nơi đây; hay khi thành hình sẽ có vấn đề, hoặc khi ra thai chẳng tránh được rắc rối. Tuy nhiên cũng còn cơ hội nhân duyên, nếu người mẹ tạo thiện phước, quả báo sẽ chuyển đổi đi.
            Thức đã vào thai, tức duyên với Danh Sắc, là thời kỳ tượng hình của một chúng sanh bắt đầu. Tuy nhiên vẫn chưa thể rõ ràng, mà chỉ bắt đầu tạo ra một tinh thần, và một hình thể tương đối. Tinh thần ở đây được hiểu là Danh, và Sắc là phần hình tướng bắt đầu khởi tạo từ tinh cha huyết mẹ. Đến giai đoạn tiếp theo, Danh Sắc duyên Lục Nhập, bấy giờ mới đầy đủ các căn, tức sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; nhưng vẫn còn trong bụng mẹ.
            Rồi Lục Nhaäp duyên với Xúc, đó là lúc rời khỏi thế giới tối ngòm từ trong lòng mẹ, để đón chào một thế giới khác, thế giới đau khổ hay sung sướng tùy vào quá khứ nhân quả, nghiệp thức của chúng sanh này. Nhưng phải nói một trăm phần trăm là khổ; bởi vì thân sinh ra từ luyến ái của cha mẹ, thì làm sao thanh tịnh; mà không thanh tịnh, tức phiền não, phiền não thì có lớn lên làm ông gì cũng khổ. Cả làm tu sĩ cũng khổ, khổ trước khi được giải thoát. Như vậy chỉ có các bậc Bồ Tát thị hiện nhập thai mới không khổ theo, vì do nguyện lực sanh trở lại, chứ không bị nghiệp lực như chúng ta.
            Thật tội cho đứa bé, tưởng thoát khỏi nơi chật chội hôi tanh, ra được ánh sáng trong lành tươi mát nào ngờ cả hai thế giới trong ngoài đều khổ.
            Cái khổ đầu tiên của Xúc, đó là xung đột bất ngờ với thế giới bên ngoài tương phản thế giới bên trong, nên sợ sệt và đau đớn, do đó hầu như đứa bé nào sinh ra cũng khóc chẳng có cười. Và đó tiếp theo gọi là Thoï, tức cảm thọ yêu thương, ghét, muốn với hoàn cảnh qua sinh lý và tâm lý từ thân và tâm để rồi sinh ra Ái.
            Chúng ta thấy Ái thật là ghê gớm, dù tiếp xúc, cảm thọ đời là khổ nhiều hơn vui, nhưng trong sự vui thương yêu của cảm thọ, Ái đã lẫy lừng tạo riêng thành mắc xích. Vậy mới thấy trong vòng luân hồi, bao giờ còn nghiệp ái, chúng sanh chẳng thể thoát khỏi khổ kiếp của thế gian.
            Khi Ái phát sinh không ngừng liền sanh Thuû, đó là tất nhiên, hễ thương yêu luyến ái chừng nào người ta càng lo giữ gìn, bảo thủ chừng nấy. Càng giữ gìn bảo thủ, càng lo sợ lìa xa, tất tạo thành nghiệp lực luân hồi đời sau, đó gọi là Hữu; và đã có đời sau tức phải có Sinhra. Đến đây một đời sống quá rõ ràng, rồi điểm cuối cuộc đời là Lão Tử vậy. Thế là mười hai mắc xích lại khởi đi trở lại ban đầu là ngây dại vô minh, tạo thành một vòng dây không đầu mối, chạy theo vòng tròn sinh tử đến bất tận.
            Thưa bạn hình ảnh và chi tiết như vậy chỉ là lược giản, mường tượng hiểu được phần nào thôi, chứ chẳng phải đơn giản trình bày đâu; hơn nữa tôi và bạn lại đang chuyện trò học hiểu, chứ đâu phải là học giả, nghiên cứu học Phật, nhất là những vị vừa học vừa tu, thì sự hiểu về vòng quay mười hai nhân duyên sinh tử chắc chắn sáng sủa mạch lạc lắm. Mong rằng bạn và tôi trên đường học Phật, hoặc sẽ tìm ra sách giải, hoặc hội kiến chư vị uyên bác vấn đề này, để chúng ta có nhân duyên rõ ràng hơn. Mong lắm thay!










Mầu nhiệm lời kinh xưa


            Thưa bạn, ngẫm nghĩ rồi cũng phải thưa, chuyện thật là huyền diệu sự lưu truyền gìn giữ kinh văn cho đến ngày nay. Ngày nay chúng ta biết được Phật pháp, tu được pháp Phật có phải là do kinh văn không? Thưa tuyệt đối là vậy. Biết được điều này ta thật vô cùng kính trọng, ghi ân chư vị Thánh Tăng đã có công hoằng truyền chánh pháp từ xưa cho đến nay. Kính xin được đảnh lễ quý Ngài.
            Rồi lại càng nhớ đến ân đức cao sâu của Ngài A Nan, đã truyền tụng lại bao lời chân ngôn của Phật, để chư Thánh chúng thế hệ sau Ngài tiếp tục kết tập duy trì, cho đến rõ nét cụ thể viết lên bằng văn ngôn thi kệ. Từ đó tiếp tục trãi qua bao thăng trầm thay đổi, biến cố chiến tranh, xung đột từ trong nội bộ Tăng đoàn, đến thế lực bên ngoài hủy hoại tàn phá, mà kinh văn vẫn tiếp tục lưu truyền tồn giữ vượt khỏi không gian thời gian cho đến ngày nay.          
            Ngày nay người học Phật chúng ta nếu để tâm suy nghĩ tư duy, hẳn phải xúc động thương kính vui mừng biết bao! Thương kính chư vị tiền nhân đã hy sinh, đã bỏ mình quên thân giữ gìn chánh pháp, và vui mừng khôn tả cho ta ngày nay thật quá đại duyên, không một khó khăn nào phải đánh đổi, khi muốn tìm đọc lời kinh xưa.
            Ngày nay chúng ta có biết bao phương tiện để đọc hiểu kinh Phật. So với ngày xưa thời tượng pháp, thời mà sau Phật tịch hơn năm trăm năm, thời này dù hãy còn nhiều Thánh Tăng; nhưng đối với giáo điển của Như Lai dù đã được kết tập thành văn cũng không phải dễ dàng được đọc, vì bản viết không được nhiều nên trở thành bảo vật, duy chỉ có Tăng sĩ mới được duyên tìm đọc. Nhưng có lẽ chỉ nghe mà thôi, chứ không thể tự cầm gọn trên tay mà nghiền ngẫm.
            Dù vậy kể cả nghe cũng phải chờ nhân duyên Tăng chúng tụ về đọc tụng, hay ít ra cũng trong mùa an cư. Vì những dịp đông Tăng chúng mới đủ duyên chọn người vừa có kiến thức cao, vừa có sức khỏe giọng âm tốt để đọc đúng theo văn ngữ chấm câu, và đủ lớn cho mọi người nghe hiểu. Như thế, nghe đọc cũng là một chuyện chưa phải là dễ, nói gì sở hữu để đọc. Nhưng chắc chắn sẽ không bao giờ sở hữu được dù vị đó có là trưởng lão trụ trì một ngôi chùa lớn; bởi lý do bảo vật pháp ngữ Như Lai được viết lại thật công phu và ít được phổ biến thời bấy giờ, cho nên chỉ có những bậc Tăng sĩ vừa liễu đạo lại sống nơi an toàn, chịu trách nhiệm gìn giữ nguyên bản hầu không bị sửa sai lệch lạc. Và như vậy muốn xin được mượn xem không phải là điều dễ.
            Trường hợp nữa như thời kỳ đất nước được cai trị do một vì vua là Phật tử cư sĩ thuần thành, thì bảo vật lại được trân quý gìn giữ dưới sự giám sát của triều đình, như vậy cơ hội muốn nghe lại càng khó hơn, nói gì là được mượn xem. Thật ra điều này không phải là điều buồn cho chúng sanh bấy giờ, mà có thể nói rằng đây là một điều mừng, vì nếu không như vậy pháp Phật đâu được gọi là Pháp Bảo!
            Chúng sanh không duyên tận mặt thấy pháp bảo, hoặc ít nghe được, đó là do tự chúng sanh đó chứ không do ai, vấn đề này bạn và tôi phải hiểu. Tất cả là tự nghiệp nhân quả của mình tạo ra; như nhân duyên tạo thiện ít, quả báo cũng tương ứng không thể khác hơn được. Dù vậy cũng chưa tuyệt đối cho rằng, hoàn cảnh những người ít duyên nghe kinh đọc tụng là không được thiện duyên lắm !
            Họ có thể không được duyên tới gần nhìn xem pháp bảo mà chỉ có nghe, nhưng với tâm niệm tha thiết cầu học, lại tự tủi phận sám hối, tự hiểu đời trước vụng tu; thế là lần tu học đời này quyết tâm tinh tấn. Do vậy họ chỉ cần nghe, nghe ít nhưng nhất tâm; nhờ đó đạt được định tâm dễ dàng, và không ít người trong họ đã hóa thành thanh tịnh sống như bậc Thánh.
             Như vậy ta thấy đời nay việc học Phật của chúng ta đã quá thuận duyên, đầy đủ mọi phương tiện; nhưng ngược lại tất cả chỉ biến thành kiến thức học hỏi như thế gian, vì chẳng thấy người đọc kinh, nghe kinh chứng được đạo! Dù có chăng nữa cũng chẳng dễ tìm được người đó để tu học bắt chước theo. Nguyên do thế nào vậy? Có lẽ vì kinh điển quá nhiều chăng? Nhiều quá rồi xem thường! Chẳng bao giờ bạn và tôi dám móng tâm như vậy; nhưng có thể đúng hơn là do ta chưa thật sự tin được sự nhiệm mầu của kinh.
            Chúng ta vừa kể, người chỉ nghe thôi đã đạt định, đó có phải là sự nhiệm mầu? Thật đúng như thế, vì Phật lực gia bị từ nơi kinh mà ra. Chẳng gì thắc mắc nghi ngờ khó hiểu, do kinh là chân ngôn Phật nói, nên từ chân ngôn Phật lưu xuất linh diệu không thể nghĩ bàn, và khi người tụng đọc, trì niệm, tất nhiên pháp ngữ chân lý của Như Lai phát khởi sống lên từ người đó.
            Sự gia bị của thiên thần hộ pháp khiến kinh có một thần lực, điều này mới có thể tồn tại cả đến mấy ngàn năm sau, có phải vậy không?
            Chính vì từ trong kinh là một chân lý, một linh diệu nhiệm mầu, nên người tu học căn cứ theo mới trở thành bậc Thánh được. Điều này giống như định lý công thức toán học phải logic, để đưa vào phương trình thực nghiệm, thì đồ án công trình liên quan với toán học mới được thành công. Cho nên phải tin kinh là một định lý tỏa ra một sự giải thoát, sự linh diệu không thể nghĩ bàn.
            Nhưng bạn và tôi vẫn có thể thắc mắc, tại sao ngay thời Phật kinh văn không được chép ra, mãi đến Phật tịch trải mấy trăm năm sau mới kết tập viết thành văn bản; để rồi khó tránh được dư luận nghi ngờ tất cả kinh Phật có thật là đúng hoàn toàn chân ngôn của Như Lai? Thưa bạn chúng ta có quyền thắc mắc, có quyền nêu ra mọi câu hỏi; tuy nhiên trước hết tạm tìm hiểu vấn đề thật hay không thật lời Như Lai nói, thì bạn và tôi phải xác định rằng, có hay không có người đắc pháp giải thoát từ kinh văn?
            Thưa, tuyệt đối hoàn toàn là có, và hình ảnh sống động đó một lần nữa xin được nhắc đến Đại sư Huệ Năng, một người bằng xương bằng thịt đã chứng đắc quả vị Bồ Tát để lại minh chứng cho đời nhục thân bất hoại trong tư thế thiền tọa từ hơn ngàn năm nay. Bồ Tát Huệ Năng đã thực sự tìm thấy chánh đạo trong kinh Kim Cang, và điều lạ lùng nhất là Ngài chỉ nghe mà thôi chứ chẳng phải là người đọc thẳng vào kinh, bởi vì sự thị hiện tuyệt vời của Ngài là không biết chữ!
            Có phải Bồ Tát Huệ Năng thị hiện hình ảnh như vậy để chúng sanh thời của Ngài cách Phật hơn ngàn năm, và thời chúng ta hôm nay cách Phật hơn hai ngàn năm trăm năm, tin rằng giáo điển Như Lai là một chân lý, một sự mầu nhiệm đúng như lời Đấng Toàn Giác khai thị.
            Bạn và tôi nghĩ sao, chúng ta có còn thắc mắc kinh xưa của Phật nữa không?
            Như thế ta không cần phải tra xét tìm kiếm lời Phật dạy chính xác trong đoạn nào của kinh, và lời của Bồ Tát có bao nhiêu đoạn, hoặc nghi ngờ hơn là lời của Phật chỉ có vài lời, còn tất cả chỉ là thế gian. Điều quan trọng nhất là ta hãy nên tin, kinh văn xuất hiện được đến ngày nay là do sự xuất hiện siêu việt của một vị Phật; nếu không có sự xuất hiện này, ta chẳng có đến một lời pháp ngữ, để đưa ta ra khỏi đau khổ luân hồi.
            Vấn đề trong kinh có nhiều hay ít lời Như Lai, cũng chỉ là giải thích rõ thêm lời Như Lai dạy, và lời Như Lai dạy có ngắn có dài, có khó hiểu hay dễ hiểu, cũng chỉ là phương tiện nói ra ý của Như Lai, và cuối cùng lời Như Lai, là nhằm khai thị chánh pháp, chứ hoàn toàn không đưa người vào mê tín.
            Và tại sao Như Lai khi còn báo thân tại thế, Ngài không dạy đệ tử ghi ra kinh văn để Ngài duyệt xét? Tất nhiên điều này hỏi để mà hỏi, và việc làm của Như Lai chỉ có Như Lai mới rõ, bạn và tôi có thắc mắc, hài lòng hay không, cũng chẳng hiểu được thế nào. Chúng ta nên biết chỉ so với đại đệ tử của Như Lai thôi ta đã mờ mịt tối mù rồi, huống gì hỏi Phật tại sao!
            Nhưng bạn và tôi có quyền đoán! Phật không dạy ghi lại kinh văn trong lúc Ngài còn hiện diện với đệ tử, có lẽ vì Ngài cho rằng đó chỉ là việc làm của thế gian, việc không phải sinh tử gấp rút, việc sẽ chạy theo ngôn từ văn chương, việc sẽ trở thành rắc rối hỏi đi hỏi lại, và nhất là việc sẽ dựa vào đó, bám vào đó, ỷ lại vào đó, để không còn dụng công nỗ lực uống từng lời của Như Lai, và sống với lời Như Lai, sau khi đã nghe Như Lai khai thị. Bởi vì sao? Bởi vì pháp Như Lai là thực hành, là chân lý chứ không phải có bấy nhiêu để viết, rồi chấp vào, rồi sinh ngã mạn tự cao. Quả như vậy mới đúng là Như Lai, đúng là Đấng Toàn Giác, Ngài đã từ bi phương tiện tuyệt vời thị hiện dạy cho chúng sanh như thế.
            Hơn nữa Như Lai còn có A Nan một vị Bồ Tát lớn thị hiện làm thị giả rõ biết được điều này, nên Ngài hoan hỷ để các pháp tự khởi lên theo nhân duyên của nó. Như thế mà khi Thế tôn tịch A Nan đã làm nhiệm vụ nhắc lại hầu hết tất cả bài Pháp của Phật bằng trí nhớ siêu việt của Ngài; nhưng cũng phải cả mấy trăm năm sau mới được ghi lên bản lá, vì trong thời gian này chánh pháp vẫn còn hiển hiện qua sự hiện diện rất nhiều Thánh Tăng. Đến khi bản văn được ghi, đó là lúc chư Thánh Tăng đã thấy thời kỳ sắp chuyển qua tượng pháp, và sẽ dần đến mạt pháp.
            Và khi kinh pháp được chính thức theo chư vị Thánh Tăng rời khỏi Thiên Trúc, ta có thể nói rằng kinh pháp bấy giờ là thần lực đưa các Ngài đi, vì chính kinh pháp là một Phật tích, một bảo vật thần kỳ diệu dụng như chính hình bóng Như Lai. Dù trên thực tế các Ngài đã liễu đạo, nhưng lời kinh vẫn là nơi các Ngài quy hướng về đấng Thế Tôn. Hình bóng Thế Tôn sẽ hiện ra trong kinh rõ hơn nơi tàng thức của chư vị, nhất là chư vị mới vào sơ quả. Chúng ta nên biết, đối với chư Thánh Tăng sống trong giai đoạn Phật vừa tịch chỉ vài trăm năm, thì hình ảnh Phật vẫn còn như sống cạnh các Ngài, rồi bên cạnh còn là những tháp thờ xá lợi Thế Tôn nữa, cho nên Kinh văn bấy giờ đối với quý Ngài chẳng khác xá lợi của Như Lai. Do đó các Ngài hẳn đã kính mộ thương tưởng không gì hơn. Tóm lại lời kinh được ghi lại hoàn toàn từ nơi chư vị Thánh Tăng, và trải thời gian lâu xa như vậy đó là một nhân duyên. Tất nhiên như đã nói, hãy nhìn lại sự việc tu chứng của người thực hành theo kinh văn mới là một điều đáng học của người học Phật.
            Trước khi bạn và tôi có thể tạm dừng đề tài này nơi đây, tôi lại một lần nữa không thể không nhắc đến Ngài Huyền Trang, một hình ảnh thị hiện tuyệt vời, liên hệ đến sự nhiệm mầu lời kinh xưa.
            Nhiệm mầu về kinh giải thoát của Như Lai và nhiệm mầu về Đại sư Huyền Trang có lẽ chỉ là một. Ngài không phải là một phàm nhân, Ngài không phải làm nhiệm vụ đi tìm kinh chỉ vì cho Trung Hoa nơi bản thổ của Ngài, vì ngày nay kinh Ngài mang về đã là của chung cho nhân loại. Ngài phải chính là Bồ Tát đã từng học với Phật, mới có thể thị hiện làm được việc này. Cho nên sự phi thường khiến làm nhiều người thắc mắc, làm sao Đại sư có thể vượt qua đoạn đường dài cả chục ngàn cây số, với bao nguy hiểm của rừng sâu núi thẳm, sa mạc hoang vu, sự kiện đó cho tới giờ đã hơn ngàn năm thế gian chưa hiểu được.
            Và lạ kỳ hơn, chính Ngài người đi tìm Phật tích từ Trung Hoa trở lại là người có công giúp các nhà khảo cổ cận đại, làm sống dậy thêm Thánh Tích Như Lai. Sự kiện là vì trải qua các thời kỳ chiến tranh, Thánh tích Phật giáo bị hủy diệt, người ta bấy giờ đã nhờ vào ký sự chiêm bái thỉnh kinh của Ngài để tìm lại di tích. Như thế Ngài có phải là một hình ảnh mầu nhiệm phát xuất từ việc thỉnh kinh! Chỉ có chân kinh nhiệm mầu mới phát sinh một Thánh Tăng Huyền Trang vĩ đại của Trung Hoa, và là một nhà chiêm bái học Phật thế giới. Nói cho cùng kinh Phật là một thần lực tuyệt vời, một chân lý cụ thể, đã và đang sinh ra bao Thánh Tăng từ xưa đến nay.
            Lại nữa một chuyện phi thường về sự huyền diệu của kinh, được kể qua cuộc đời dịch kinh của Đại sư Cưu Ma La Thập*. Khi qua Trung Hoa hoằng truyền giáo pháp Như Lai bằng việc dịch kinh hoằng đạo; trước khi thị tịch vì muốn xác nhận kinh Ngài dịch chính là chánh pháp Như Lai, Ngài nguyện rằng những kinh mà Ngài dịch xưa nay, nếu quả đúng kinh Phật, thì xin khi thiêu đốt nhục thân của Ngài lưỡi sẽ còn nguyên vẹn, nếu không phải chánh pháp lưỡi sẽ cháy rụi theo thân. Quả thật sau lễ trà tỳ lưỡi của Ngài còn sót lại, để cho hậu thế một niềm tin đúng như chánh pháp.
            Đây là một sự biểu thị huyền diệu của kinh mà tất cả chư vị Thánh Tăng đã được gia bị, và đó đã trả lời tất cả những gì Phật dạy được lưu lại qua sự nhiệm mầu diễn tả trên trang kinh.
______________
* Ngài sanh trưởng tại Dao Tần (Koutcha) xứ Tân Cương, bấy giờ vào thế kỷ thứ tư Tây lịch. Ngài là bậc danh Tăng đức độ, một trong những nhà dịch kinh lớn của Trung Hoa. ( xin xem thêm Phật học Từ Điển Đoàn Trung Còn).







Thiền và Niệm Phật

            Thưa bạn! Lại một đề tài thu hút và tế nhị ! Đó là
Thiền và niệm Phật. Xưa nay đề tài này có tính cách lý giải sôi nổi, đến độ người chưa hiểu rõ Phật pháp cũng có ý kiến phê bình qua lại, và người càng có kiến thức Phật học lại hăng say hơn. Tôi nghĩ có lẽ tất cả chỉ là hiểu lầm!
            Mà hiểu lầm cũng phải, bởi vì chỉ lấy kiến thức mà xét chứ chưa đạt được trí huệ để am tường thấu đáo. Tiếc rằng trí huệ chỉ đạt được là do tu hành, cho nên chưa tu mà đã xét đoán thì càng bàn càng sai thôi.
            Đương nhiên bạn và tôi hiện đang học đang tu, việc có ý kiến về Thiền và Niệm Phật chỉ là mong nói lên tìm được dung hòa mà tu, chứ chẳng phải xét suy luận bàn gì cả! Mong rằng chúng ta xin được thực hành hài hoà trong niềm tin chánh pháp.
            Bây giờ thử hỏi, việc hiểu lầm Thiền với Niệm Phật ra sao, thế nào?
            Theo một số khá đông người, cho rằng hai pháp môn này gần như chống trái nhau; do một bên tự lực và một bên tha lực. Thiền là tự lực, tự thân tu hành, không có tư tưởng cầu cạnh việc gì. Riêng niệm Phật thì đặt nặng việc cầu tha lực Phật A Di Đà, và việc ra công dụng sức niệm Phật thế nào cũng chỉ mong vào Phật tiếp dẫn.
            Hai quan niệm này gần như được nhiều người đồng ý. Không biết bạn sẽ chấp nhận hài lòng theo quan niệm nào?
            Nói đến đây lại nhớ đề tài đã bàn qua là Có và Không. Chủ đề đó cho thấy, chẳng nên khẳng định, hay phủ định, cũng chẳng nên dính mắc bất cứ việc chi, kể cả pháp tu giải thoát.
            Như vậy, nếu thuận theo quan niệm thiền chỉ là tự lực, nghĩ ra cũng đúng nhưng cũng không hoàn toàn; và niệm Phật chỉ có cầu tha lực phó thác chư Phật tiếp dẫn, cũng vừa đúng vừa sai.
            Chúng ta thử tìm hiểu đúng sai thế nào!
            Trước hết xét về Thiền. Thiền là một pháp tu chuyên tự lực điều này là đúng, đúng luôn việc chẳng có tư tưởng cầu cạnh ai.
             Vâng! Vì Phật đã dạy phải tự thân làm nơi nương tựa, không nên nương tựa vào bất cứ ai. Lại nữa Phật dạy Như Lai chỉ là người hướng đạo dẫn đường, đi hay không là quyền của ta quyết định. Vậy Thiền quả là tự lực hoàn toàn, vì toàn thân tâm hành giả từ lúc gia công hành trì, đều trong tiến trình ý thức diệt trừ vọng tưởng đạt được an tâm thanh tịnh. Thế thì vấn đề rõ ràng tự lực như thế đúng theo chánh pháp, phá đi mê tín ngộ nhận gán cho đạo Phật chỉ là nghi thức cúng bái cầu nguyện.
            Tuy nhiên nếu cho rằng Thiền hoàn toàn không nhờ gia bị của chư Phật thì quả là sai; bởi vì không có sự gia bị của chư Phật, thiền sẽ dễ lạc vào tà pháp, nghĩa là hành thiền không Kinh điển, không tu giới. Phải hiểu rằng chỉ có trì giới, chỉ nương vào kinh mới thật đúng với Thiền giải thoát, mới không sanh phiền não vi tế, ngã mạn tự cao.
            Như hiện nay Thiền rất phổ thông, không nhất thiết chỉ dành cho đạo Phật; và nếu không cẩn thận, thiền chẳng thể đúng với pháp hành của Như Lai; tức chẳng giữ giới chẳng dựa theo kinh làm tiêu chuẩn.
            Ngay như Lục Tổ Huệ Năng, duyên đắc đạo của Ngài trở thành Tổ thiền tông là do ban đầu đã nhờ nghe kinh Kim Cang, nếu không làm sao thành Tổ! Và đã nhờ kinh tất gọi là nhờ tha lực; như thế không một pháp tu nào trong đạo giải thoát mà không nhờ tha lực. Chưa nói Thiền đường nơi chuyên tu thiền vẫn còn tôn trí hình tượng Như Lai thế làm sao gọi là hoàn toàn tự lực! Chúng ta nên nghĩ rằng, bao giờ còn hình ảnh Như Lai, dù chỉ còn là ý niệm thì vẫn gọi là còn nhờ tha lực của Như Lai.
            Thiết nghĩ đối với người hiểu đạo, chẳng có tổn hại khúc mắc gì, khi gọi là tha lực hay không tha lực, chỉ có vấn đề là người hành pháp có còn tâm tham chấp ngã mạn hay không.
            Sở dĩ Thiền gọi là tự lực là nói không bị vướng mắc bất cứ hình ảnh nào, và có thể tu bất cứ nơi đâu không qua hình thức. Nghĩa là tự mình quyết định vươn lên, quyết định hành trì mà không phải lệ thuộc thế này thế nọ. Thành ra ta thấy chỉ có những người hạ căn lo xa như chúng ta mới hý luận, tranh cãi về tự lực hay tha lực, chứ xưa nay các thiền sư và đại sư đắc đạo chẳng bao giờ quan tâm đến chuyện này.
            Riêng nói, Thiền chẳng có cầu cạnh việc gì, đó là ý nói đã hiểu lời Phật dạy tất phải lo tu, đừng nên cố chấp ôm giữ mãi lời Ngài, giống như mượn thuyền qua được sông mà vẫn còn trì kéo chiếc thuyền không bỏ.
            Lại thử tìm hiểu quan niệm chỉ nhờ tha lực của pháp tu niệm Phật ra sao?
            Quan sát niệm Phật, rõ ràng đã thấy pháp tu này hẳn nương vào tha lực; vì hành giả chỉ chuyên niệm trong mọi động tác, và hình như bất cứ sinh hoạt nào cũng có thể niệm được.
            Tất nhiên người niệm Phật phải cầu vãng sanh về đất Phật, cầu như vậy là hoàn toàn nhờ vào tha lực; tuy nhiên đất Phật cũng là đất tâm, là chính trong tâm hành giả mà ra. Vì ai niệm Phật đây? Có phải hành giả không? Nếu phải, tức chính hành giả đã tạo nơi sinh ở đất Phật rồi. Thế thì hành giả phải niệm Phật bằng dụng công tha thiết mới tạo được đất Phật trong tâm.
            Nhưng nơi đất Phật, nơi những bậc Bồ Tát, những bậc vô nhiễm, không tham, không sân, không si sinh sống; nếu hành giả đi ngược lại với chư vị Bồ Tát, thì làm sao có thể sinh về được, dù hành giả có gào thét bao nhiêu tiếng niệm Phật cũng vậy. Nói rõ hơn hành giả phải niệm Phật với tâm không tham, không sân, không si, mới có thể sinh ra đất Phật nơi tâm, và khi đất Phật nơi tâm đã sinh, hành giả đã sinh được Tịnh Độ tại thế, trước khi vãng sanh Cực Lạc.
            Niệm Phật được như vậy có còn gọi là tuyệt đối nhờ tha lực của Phật Di Đà không? Tất nhiên là không. Người niệm Phật như thế đã dụng công tự lực đến năm mươi phần trăm. Dụng công niệm được vậy là tự lực chứ còn gì! Như thế pháp tu Niệm Phật đã có tự lực rất nhiều trong đó, chứ nào phải là phó thác cho đức Phật A Di Đà.
            Cõi Phật A Di Đà được thiết lập bằng tâm thanh tịnh vô tham, vô sân, vô si; đương nhiên người sanh vào nước đó ít ra phải được năm mươi hoặc bảy mươi phần trăm không tham, sân, si, chứ có đâu dễ dàng chỉ là niệm Phật trên môi là được. Dù Phật A Di Đà thương xót chúng sanh qua bốn mươi tám lời nguyện, nhưng nếu tâm chúng ta còn tham, sân, si ái, Ngài vẫn phải bó tay, bởi chính nghiệp lực của tham, sân, si kéo trì người đó ở lại chứ đâu phải Ngài không từ bi.
            Nếu Ngài thị hiện trước mặt một người sắp chết, mà người đó vẫn còn tánh tham đắm thế gian, thì hình ảnh Ngài cũng chẳng làm cho họ thấy được.
            Tóm lại hiểu lầm niệm Phật toàn nhờ vào tha lực, phó thác Phật A Di Đà, điều này là sai, cũng như cho rằng tu Thiền chỉ có nhờ vào tự thân, tự lực cũng không đúng.
            Cả hai pháp tu đều nhờ tự lực của ta và tha lực của chư Phật.
            Vũ trụ mênh mông rộng lớn không thể nghĩ bàn, với một chúng sanh chưa đắc đạo, tất phải chao đảo theo chu kỳ của những kiếp sống sinh diệt không ngừng, và trong kiếp sống đó, đâu phải chỉ có cảnh hữu hình chúng ta. Bằng thiên nhãn, huệ nhãn và Phật nhãn, chư Phật, chư Bồ Tát đã chứng kiến biết bao thế giới vô hình, trong đó sướng có khổ có, đang vây bủa khắp vũ trụ không gian này. Cho nên lòng từ bi của quý Ngài, đã thể hiện che chở bằng mọi phương tiện cho chúng sanh, như thế ta mới còn tồn tại kiếp sống hi hữu làm người này; nếu không ta có thể là ma, là quỷ, là súc sanh, mang đủ dạng hình đau khổ, và đau khổ nhất là khó thể biết được đạo giải thoát.
            Như thế thật là đại nhân duyên, vô cùng hữu phước cho những ai tin được đạo giải thoát để được lực gia hộ của quý Ngài. Tất nhiên chư Phật, Bồ Tát không có phân biệt chúng sanh này chúng sanh khác, nhưng mỗi khi mất kiếp người rồi, sự cứu khổ đạt được cảnh người rất khó.
            Thiết nghĩ tu bất cứ pháp môn nào của Phật cũng đều sớm muộn được giải thoát, nhưng phải lấy giới, lấy từ bi trí huệ làm nền tảng mới không khỏi lạc đường sa đọa.
            Người tu Thiền là người lợi căn, chẳng những giúp được mình chóng đạt an lạc an định trong đời này, lại còn giúp được một số người trí thức, nhất là trí thức Tây Phương còn xa lạ với đạo giải thoát. Giúp họ thấy rằng pháp tu thiền chẳng những là phương pháp khoa học dưỡng thân, chữa bệnh, mà còn điều phục theo dõi được tâm là nơi trung ương gây ra phiền não trong đời sống.
            Người tu Thiền khéo léo khi hướng dẫn người Tây Phương không cần phải nhắc đến giáo lý Như Lai, đợi khi nào họ thực tập được kết quả chừng đó tự động họ sẽ tìm hiểu.
            Có thể bạn và tôi nghĩ, hướng dẫn người Tây Phương vào đạo giải thoát không một pháp tu nào qua được Thiền. Do vì xã hội Tây Phương sung mãn hưng thịnh vật chất, người ta thường nghiêng về duy vật; mặc dầu vẫn nghĩ đến tâm linh nhưng nếp sống văn hóa khó thể cãi lại được. Trong khi thiền định còn là phương pháp thực hành cụ thể như các môn học dưỡng sinh, thể thao khoa học, cho nên chẳng khó khăn gì giới thiệu với người Tây phương.
            Phần nữa cuộc sống quá thiên về vật chất, thường hay khích động, nên khi được dạy ngồi thiền dừng lại tâm dao động, khiến họ tìm được cảm giác an bình, từ đó sinh thích thú.
            Như vậy Thiền có thể nói là khởi đầu dẫn người Tây Phương vào đạo giải thoát, rồi tiếp theo là do đương sự tạo duyên nghiên tầm học hỏi kinh điển trước khi thực hành xa hơn bằng các pháp môn hợp căn cơ của họ.
            Với pháp tu niệm Phật đối với người Tây Phương, thật tình mà nói dễ bị ngộ nhận, vì họ xem như chỉ là cầu nguyện không thực tế; như thế chúng ta nên dè dặt giới thiệu. Bao giờ đương sự trải qua thời gian tìm hiểu kinh điển khá lâu, nhất là các kinh theo tư tưởng Đại Thừa, chừng ấy mới đề cập hướng dẫn họ; nhưng nếu cảm thấy họ không duyên, thì thôi chẳng có sao cả, sớm muộn tất cả cũng sẽ quay về con đường giác ngộ giải thoát mà thôi.
            Tóm lại Niệm Phật hay Thiền Định chỉ là những phương pháp thực tập khác nhau, dạy người học Phật hiểu biết đời sống vô thường có sinh tất có diệt, và việc cấp bách là phải được an tâm trong đời sống vô thường trước khi xả bỏ giả thân trở về tánh giác. Và cuối cùng người còn tâm quá chấp, quá phân biệt pháp tu, tất đã thực hành sai lời Phật dạy, như thế dù tu thiền hay niệm Phật cũng chẳng đạt được kết quả mong muốn.










Tứ y

            Thưa bạn! Trước khi chúng ta có thể tạm ngưng cuộc chuyện trò nơi đây, và để kết thúc vài chuyện học Phật, thiết nghĩ cũng cần nêu ra vấn đề trọng tâm là việc nhìn lại những gì mình đã học.
            Vấn đề trọng yếu như vậy là trong giáo lý giải thoát còn đưa ra một pháp tu, nhắc nhỡ tế nhị người học Phật có sự nhận định cảm tri, khi phải đối diện vấn đề học và hành trong khi tu niệm, đó là Pháp tứ y; và pháp tu này đến đây sẽ là đề tài kết thúc buổi chuyện bàn cũng là vừa phải.
            Vậy mời bạn và tôi, chúng ta hãy tìm hiểu đề tài này trước khi tạm chia tay dừng chuyện.
            Tứ y: là bốn điều nương theo để ứng dụng tránh việc hiểu lầm sai lời Phật dạy. Bốn điều là: thứ nhất, nương theo pháp để học tuyệt đối không dính mắc nơi người. Thứ hai, nương theo nghĩa lý tuyệt đối không dính mắc nơi ngôn ngữ. Thứ ba, nương theo trí không theo thức phân biệt. Và thứ tư, nương theo kinh liễu nghĩa tức kinh theo tinh thần giải thoát rốt ráo, không theo kinh điển còn dính mắc nhị biên đối đãi.
            Trước hết xin thưa bạn, Đấng Đại Giác thật là Đấng từ bi, Ngài đã thấy rõ việc sẽ xảy ra thế nào cho tương lai, nhằm thức tỉnh tánh phàm phu hay ngộ nhận thiên vị, là điều chướng ngại học Phật cho nên mới ra đời pháp Tứ y.
Y pháp bất y nhân     
            Khi La Hầu La được xuất gia theo Phật, Phật chẳng lấy tình thương theo thế gian như là một người cha để dạy con mình; kể cả chẳng lấy tình thầy trò bậc trưởng thượng, bậc thầy của nhân thiên để hướng dẫn La Hầu La học đạo. Không phải Ngài e ngại người đời hiểu lầm, Tăng đoàn dị nghị, rằng Thế Tôn còn thiên vị còn sâu nặng chuyện thế gian. Tuyệt đối là không, vì Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, bậc siêu việt tất cả, mà từ vua quan đến dân giả đều nghe biết, thậm chí các tôn giáo khác phải công nhận. Thế thì Ngài đâu có gì bận tâm khởi niệm các pháp sinh diệt thế gian. Từ khi còn là Bồ Tát Ngài đã có lập trường cương quyết, đeo đuổi chân lý giải thoát vượt qua bất cứ điều gì, huống gì ngày nay Ngài là vua trong muôn loài thì còn gì lo sợ.
            Vậy chỉ có một điều là Ngài dùng cách khai thị cho mọi người thấy, giáo lý Ngài tìm ra là một chân lý bất di bất dịch, để ai thực hành liễu tri, sẽ làm chủ chân lý này mà chẳng kể hoàn cảnh địa vị người thực hành ra sao, do đó Ngài giao La Hầu La cho Tôn giả Xá Lợi Phất.
            La Hầu La khi được học pháp giải thoát nơi tôn giả Xá Lợi Phất, vẫn có thể nương tựa đúng chánh pháp, đó là một cách hiểu thực tế Y Pháp bất y nhân. Đây là một hình ảnh đẹp, và đây nói lên giáo pháp giải thoát không phân biệt bất cứ một con người nào, miễn con người đó hiểu và hành theo giáo lý.
            Ngày nay chúng ta học Phật, không được thắng duyên nên khó tìm được Thánh tăng để vừa học được kinh pháp, vừa chứng kiến thân hành của vị bổn sư dạy đạo, ôi thật là một điều rất tiếc cho ta. Tuy vậy ta hãy nhìn lại giáo lý giải thoát, để làm tâm điểm vượt qua hàng rào chướng ngại theo tư duy định kiến hẹp hòi, mong tìm được pháp học nơi tâm.
             Y Pháp bất y nhân, còn cho ta cái nhìn tổng thể, tất cả chúng sanh đã và đang học Phật đều là con của Như Lai, tức đang làm sống dậy tánh giác bên trong, và tánh giác đó chỉ là một, chỉ có khác nó được chứa đựng trong nhiều hình thức của con người này sắc tộc kia.
            Nhưng bạn và tôi vẫn còn là phàm phu vẫn đang từng bước học Phật, vẫn chưa thể nhìn hết thảy pháp qua cái nhìn nhất thể tất cả duy tâm tạo. Vì không nhìn được nhất thể khó tránh phân biệt, khó sinh được tâm bình đẳng với mọi người.
            Học đạo giải thoát, ta phải tìm cho được một bậc chân nhân thật học thật tu. Ít ra người hướng đạo cho ta phải tối thiểu hình tướng oai nghi dung mạo tươi sáng, nếu không được, thì kiến thức Phật học phải là uyên thâm; đó là mong ước của người học Phật ngày nay.
            Nhưng giả sử, chẳng tìm được thì sao? Không lẽ giận buồn, không học không tu! Không tu vậy ai lỗ! Rốt cuộc ta cũng phải học! Bạn định cho là tự học phải không? Học một mình có lợi chứ, vì không ai gây ta phiền não, nhưng sẽ trở thành bất lợi đó! Vì trốn phiền não cho nên không hiểu rõ phiền não; và nếu bị phải đối phó với phiền não coi chừng phiền não lớn hơn.
            Tuy nhiên phiền não nguy hiểm nhất, không phải cái ta chạy trốn; mà chính là tự cao ngã mạn bên trong. Ta có thể móng tâm cho rằng tự học, chẳng cần tìm ai làm Thầy cho đáng. Ta thiết lập tự ngã hơn người quá cao, và cuối cùng đang sống trong vọng niệm, vọng thức, chẳng thấy được tất cả là nhứt thể, là nhân duyên hòa hợp. Kết quả như vậy đã rõ ràng không cần phải nói ra.
            Phật dạy y pháp bất y nhân, không phải đơn giản chỉ theo pháp bỏ người, hoặc là nhìn người theo tự ngã lầm tưởng là phương tiện tầm thường. Nếu người là phương tiện tầm thường theo cách nghĩ như vậy, thì pháp cũng vậy mà thôi. Tất cả chỉ là phương tiện.
            Không người dạy đạo ta chẳng có cơ hội biết pháp học pháp; và dù có pháp nhưng không người hướng dẫn, chưa chắc ta hiểu được phương tiện tu. Một quyển kinh quyển luận giải thoát để trong hộc tủ, hay cả trên bàn thờ, nó vẫn là một cuốn sách tầm thường không hơn không kém, nếu không có một vị Thầy chỉ dạy, hay một người nói lên giá trị của nó. Ngược lại cũng vậy, một vị tu sĩ chân thiện, trên tay không một cuốn kinh, miệng không nói một bài pháp, nhưng sự đi lại hành động của Thầy, sẽ lần hồi đưa bạn và tôi vào nơi kinh pháp, nơi tâm kinh tự chứng của mình.
            Bạn và tôi còn hiểu thêm, sự xuất hiện của Thế Tôn, là do chúng sanh phiền não, là do có đối tượng, có con người, vậy con người là chính nhân, và pháp chỉ là phương tiện mà thôi.
            Tất nhiên ta vẫn biết giá trị kinh pháp và ý nghĩa giải thoát phải đồng nhất tối thiểu với người tu Phật.
            Thế thì y pháp bất y nhân đương nhiên là nương tựa căn cứ theo giáo pháp giải thoát của Như Lai, chứ không phải đòi hỏi người giảng pháp phải sống y như pháp. Tuy nhiên nếu ta vượt qua sự phân biệt, thấy người hướng dẫn chỉ là người giúp ta hiểu rõ chân lý, chứ họ đâu phải là chân lý, điều này đã quá tốt, ta sẽ bỏ đi được phiền não, đi thẳng mục tiêu hướng đi tìm cầu giải thoát của mình.
            Nếu ta lại hiểu thêm, người đó cũng là một pháp để cho ta nhận định rõ hơn về đối tượng nhân duyên giải thoát; vì cũng chính nghịch đảo này mà Phật mới nói ra chánh pháp phá tan vô minh, và vô minh lại hiện lên nơi người đang dạy ta hay ta đang học. Như thế Y pháp bất y nhân, sẽ được hiểu hai mặt, người không hành, là do người chứ không do pháp; và một mặt người không hành cũng là pháp, để người học thấy rõ giáo pháp Như Lai phải được hành chứ chẳng phải nói.
            Y nghĩa bất y ngữ:
Bạn và tôi dư biết ngôn ngữ chỉ là công cụ phương tiện chuyển tải tâm tư, tư tưởng, mà cứu cánh mục đích làm sao để mưu sinh tồn tại đưa con người ngồi gần lại nhau. Rồi từ đó, ngôn ngữ được hiện đại hóa phù hợp theo trào lưu tư tưởng của mỗi thời đại. Tỉ dụ thực tế ngôn ngữ Trung Hoa ngày xưa từ chữ viết đến âm vận phức tạp, nhưng sau đã được thống nhất, giản lược, để người ta có thể mau hiểu, có thể viết gọn, và nhất là phổ cập quần chúng rộng rãi hơn. Như trên thế giới dù có đến mấy ngàn ngôn ngữ tiếng nói khác nhau, nhưng mục tiêu chỉ là làm sao diễn tả tâm tư đời sống của con người. Cho nên nguyên thủy, nguyên bản của con người là tâm, là ý, và do vậy bất cứ người nào cũng có thể học được ít nhất một ngôn ngữ khác, nếu thật tâm thật ý muốn học.
            Việc học Phật chẳng khác một chút nào; học Phật là học tâm, học ý; vậy bạn có học Phật qua hành động, ngôn từ, hay hình ảnh nào đi nữa, cũng chỉ học điều phục cái tâm không còn phiền não.
            Ngày xưa đức Phật còn tại thế có lẽ Ngài dùng tâm để nói nhiều hơn là dùng ngôn từ, và vì tâm Phật thanh tịnh tuyệt đối, nên người nghe cảm nhận hiểu ngay. Nói bằng tâm, là nói bằng việc làm và hành động chứ không phải văn tự ngôn ngữ; tuy nhiên có những chúng sanh buộc phải dùng ngôn từ. Chẳng hạn các nhà trí thức, các vị học giả với tâm phân biệt, tâm hướng ngoại cố chấp; bấy giờ Phật phải dùng ngôn từ thuận theo sự ham biết của họ. Tất nhiên ngôn từ này, không thể làm cho giai cấp cùng đinh là hàng người hạ tiện khốn khổ nhất có thể hiểu được. Rồi đến ngay các đệ tử xuất gia của Như Lai, thì ngôn từ của Thế Tôn lại có phần khác hơn nữa. Cuối cùng ngay trong hàng Thánh chúng giữa Thanh Văn và Bồ Tát, tức là hàng còn chấp pháp và hàng đã vượt lên khỏi ý niệm ngã pháp, Như Lai lại dùng ngôn từ văn ngữ khác hơn.
            Lấy thực tế trong bối cảnh hiện đại ngày nay, sẽ thấy vấn đề rõ hơn về ý nghĩa giải thoát không phải vin theo văn ngữ. Đó là kinh Phật hiện giờ đã được lưu thông dịch ra nhiều ngôn ngữ; nếu không phải thế, thì lời Phật dạy được ghi lại bằng Phạn ngữ ngày xưa, sẽ không thể chuyển thành văn ngữ Trung Hoa, Tây Tạng, Nhật Bản, Tích Lan, Miến Điện, Đại Hàn, Việt Nam v.v... Và hơn thế nữa là dù được dịch ra thế nào cũng chẳng có người chứng đắc!
            Nhưng rồi thưa bạn cũng là phương tiện, cũng chỉ nói lên Y nghĩa bất y ngữ. Ngữ là ngôn ngữ Như Lai phải xử dụng trong hoàn cảnh và ngữ cảnh, tâm cảnh của từng hạng người; nhưng Nghĩa lại chỉ có một, là làm sao đưa tất cả ra ngoài ba cõi đạt đến giải thoát hoàn toàn. Đương nhiên ra ngoài ba cõi lâu hay mau, là do trình độ của người học Phật, đức Phật chỉ có phương tiện chuyển tâm thành ngữ.
             Từ ý này ta lại suy ra, Tâm là quan trọng để chuyển thành lời; Phật thanh tịnh tâm nên Ngài hiện ra sinh hoạt oai nghi tự tại để diễn ý cho chúng sanh, còn người chưa chứng đạo phải dùng đủ thứ ngôn từ, mà người ta chưa chắc đã hiểu. Đôi khi càng dùng nhiều văn tự, càng bị kẹt quá đà, đi xa thực tại; nhưng cũng khổ, vì không vay mượn ngôn từ tỏ bày cho rõ, cho nhiều, làm sao người ta hiểu được! Đó mới thấy tại ta thiếu dụng công tu hành, thiếu công phu thiền định, nên không thể dùng tâm nói được, đành phải mượn dùng ngôn từ văn ngữ vậy.
            Thời nay người học Phật như chúng ta nhất định phải dùng tâm cầu học, và còn thanh tịnh nữa mới hiểu được nghĩa, mới quên được lời; nếu không ta chẳng hiểu được nghĩa, lại vin vào văn tự, sinh ra phân biệt, trở thành học Phật bằng tính hiếu kỳ nghi ngờ chánh pháp.
            Trí giả Huệ Năng khi xưa cầu tìm chánh pháp, đón nhận dễ dàng thâm ý nghĩa lý của Tổ sư Hoằng Nhẫn, mà quên đi ngôn từ khinh khi thử thách ban đầu của Ngũ Tổ, đó là nhờ tâm cầu đạo thanh tịnh; nếu đổi lại phàm phu chúng ta, bằng tâm ô nhiễm làm sao nhận ra được tâm ý của Hoằng Nhẫn tổ sư.
            Ngày nay chúng ta nghe pháp đọc kinh, đã không đạt được nghĩa, lại còn muốn lược bớt câu văn; đâu ngờ câu văn trùng lập là để chuyển tải thâm lý nhiệm mầu mà kết quả chỉ thấy được bằng tâm đọc tụng thanh tịnh kiên nhẫn mới mong đắc tâm thấy pháp. 
            Đại sư Huyền Trang, vị Thánh tăng lưu danh thỉnh kinh phiên dịch Phật điển, đã tôn trọng kinh pháp, trung thành với nguyên bản mà không dám lược giản, đó cũng là mong giữ gìn thâm nghĩa sâu xa trong đó; chúng ta há đã hơn Ngài sao? Tóm lại Y nghĩa bất y ngữ cảnh tỉnh người học Phật rằng nghĩa lý thâm sâu giải thoát của Như Lai chỉ mượn bằng hình ảnh pháp trần qua bóng dáng ngôn ngữ, chứ không phải văn từ thế gian có thể chứa đựng được. Người học Phật hiểu ý này nên tránh chấp vào văn tự, tránh hý luận văn chương mà phí đi một đời học Phật.
Y trí bất y thức:
            Trí thức của thế gian được đánh giá bằng kiến thức hiểu biết trường lớp, học vị, cũng như khả năng ngoại hạng, phi thường được gọi là thần đồng hay thiên tài dị nhân xuất chúng. Kiến thức được đào tạo học hành còn có thể được bình phẩm nhận xét, nhưng kiến thức tự nhiên như thần đồng, thì thật là một chuyện vượt ra ngoài kiến thức thế gian. Tuy vậy kiến thức tự nhiên không học hay học rất ít mà biết, chẳng ngoài cái biết đối đãi thông thường thế gian, như là kiến thức văn chương hay khoa học.
            Tất nhiên nơi đây bạn và tôi sẽ nhận định vấn đề này theo giáo lý giải thoát của Như Lai. Với cả hai loại kiến thức vừa nêu chỉ là vấn đề hiểu biết theo nhân nghiệp chúng sanh hiện tại và quá khứ. Nhân nghiệp hiện tại, là việc học trong đời này tạo ra kiến thức hiểu biết, và nhân nghiệp quá khứ là việc học trong tiền kiếp sanh ra đời này được thông minh xuất chúng. Nhưng kiến thức thế gian chung cuộc vẫn không hài lòng với cuộc sống mong ước của nhân sinh, là hòa bình toàn diện, mang lại hạnh phúc yên vui.
            Tất nhiên trả lời vấn đề này đã quá rõ ràng, mà bạn và tôi đã chuyện bàn qua cũng khá nhiều từ bắt đầu vào chuyện đến nay. Vấn đề chỉ là do con người chưa tìm được nguyên lý nhân sinh là khổ, và khổ là nhân tham, sân, si ái mà ra; đành phải nói rằng kiến thức thế gian sẽ chẳng giải quyết được gì ngoài cơm áo, cũng như tiện nghi hưởng thụ vật chất, nhưng chẳng thể giải quyết được chiến tranh, bạo động đã và đang tiếp diễn.
            Thưa bạn chúng ta đã chuyện bàn đến đây, đã hiểu được một đoạn đường Phật học, nên đâu còn gì chẳng nói thật, nên không có gì gọi là bi quan, hay yếm thế, để xác nhận rằng, kiến thức bao giờ cũng là kiến thức phân biệt mà thôi! Chỉ có kiến thức Phật học, rồi thực hành tu học giới định, mới phát huy được kiến thức không phân biệt gọi là trí huệ vượt khỏi thế gian.
            Như vậy kinh dạy Y trí bất y thức, rõ ràng cho người học Phật thấy, không thể dùng kiến thức phân biệt của thế gian mà tìm vào được chánh pháp. Nhưng kiến thức thế gian vẫn là phương tiện hữu hiệu giúp người học Phật sưu tầm giáo điển trước khi kết duyên tu hành đạt trí vô phân biệt. Chẳng hạn chư đệ tử của Phật, những vị công tôn vương tử đều là những người có trí thức cao thời bấy giờ, cũng như những vị luận gia nổi tiếng, các vị này sau khi xuất gia, đã tiếp thu giáo lý Như Lai, và sớm đạt thành Thánh quả dễ hơn chư đệ tử khác. Tuy nhiên vẫn không tránh được trường hợp ngược lại, bị kiến thức thế gian ngăn chặn con đường giải thoát. Và đây chính là vấn đề mà bạn và tôi đang tìm hiểu.
            Sở dĩ ta không thể dùng thức để tìm hiểu giáo lý nhà Phật, hay để tư duy thực hành, điều đó đã quá rõ ràng vì thức là hiểu biết phân biệt. Nó là một trong ngũ ấm Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức hình thành tạo nên thân thể này; sự hình thành đó kết mắc nối duyên với nhau, cho nên sự hiểu biết phân biệt của kiến thức con người hoàn toàn ảnh hưởng xuất phát không ra ngoài cảm thọ y báo và chánh báo của chúng. Bạn và tôi chắc hẳn còn nhớ, Chánh báo là con người, Y báo là hoàn cảnh sống của con người. Như vậy bằng tư duy bằng hiểu biết, theo cảm thọ để lưu xuất sự hiểu biết chẳng ngoài tánh nghiệp của một phàm nhân, đã và đang chịu quả báo vui buồn đau khổ ở thế gian. Trong khi đó pháp học giải thoát mệnh danh là lội ngược dòng đời, không chìu theo dục vọng ham muốn thế gian, vậy thì làm sao dùng cái thức ô nhiễm phân biệt kia để hiểu được Phật đạo!
            Người ta có thể là một tiến sĩ văn chương, cả đến tiến sĩ khoa học chẳng hạn, nhưng người ta vẫn không thể nào hiểu được Phật học nếu chưa bao giờ lưu tâm để ý. Phật học là một môn học dù không khó, nhưng cũng không phải dễ, nếu không muốn nói là khó vô cùng, vì nếu học cho đến tiến sĩ Phật học mà không hành cũng vẫn chưa gọi là hiểu bởi kết quả vẫn là luân hồi. Như vậy thì làm sao người không biết đạo Phật, có thể hiểu được giáo lý Như Lai; thế là kiến thức tiến sĩ văn chương hay khoa học, đó chỉ là dành cho thế gian, chứ đối với pháp giải thoát có gì để nói! Và ngược lại, nếu để tâm học hỏi suy niệm thì kiến thức kia lại là phương tiện trợ duyên đắc lực nhất, để đạt được trí huệ giải thoát.
            Phật dạy phải nương theo trí, trí đây cũng là kiến thức hiểu biết, nhưng nó khác kiến thức thế gian là không thuận theo tánh tham sân si, tánh còn phân biệt tưởng rằng ngã và pháp là có thật. Trí đó là nhìn các pháp trong một sự hiểu biết do duyên sinh duyên khởi, chứ không thật có; và con người này là một vòng mắc xích quay mãi tít mù theo mười hai nhân duyên, mà bạn và tôi đã chuyện bàn qua. Trí đó đúng là trí mà Ngài Xá Lợi Phất tình cờ được nghe lần đầu tiên trong đời của Ngài khi gặp Tôn Giả A Thị Thuyết và rồi chợt nhận ra xưa nay sự uyên bác học thức của Ngài chỉ là đối đãi phân biệt theo tánh nghiệp si mê của thế gian mà thôi. Do đó hiểu được rồi Ngài đã trở thành bậc đại Thánh trí huệ bậc nhất của Như Lai.
            Thưa bạn đó là lý do không nên dùng thức phân biệt, hay cũng gọi là tâm phân biệt mà tìm hiểu giáo lý giải thoát. Nếu ta dùng tâm ô nhiễm phân biệt, thì giáo lý giải thoát cũng được ta hiểu theo tâm lượng hẹp hòi của ta, như thế làm sao ta có thể khiến người hiểu được mình! Cuối cùng việc học Phật mà dùng thức biết phân biệt như vậy, chẳng khác gì học hỏi theo tánh nghiệp tham sân si, và chẳng bao giờ nhận thấy các pháp như thật.
            Nhưng bạn và tôi lại biết, khi đạt được thật trí vô phân biệt, bấy giờ cả đến cái trí không phân biệt cũng không còn, vì nếu còn nếu có, vẫn là vô thường là hữu lậu, không thể tuyệt đối giải thoát được. Đó là trình độ của chư Bồ Tát lớn, đã đi gần đến quả Phật. Nhìn lại chúng ta, chỉ xin mong rằng bỏ bớt tâm phân biệt để bớt đi phiền não, rồi mong dần tiến đến thật trí vô phân biệt vậy.
            Y liễu nghĩa kinh, bất y bất liễu nghĩa Kinh.
            Kinh liễu nghĩa là kinh diễn đúng điều Như Lai nói, kinh vạch ra sự giải thoát tuyệt đối, kinh nói lên sự thật trên sự thật, và kinh nói vượt lên lời kinh nói, tức là kinh vô năng thuyết không thể nghĩ bàn, rốt ráo tuyệt đối đưa người đạt đến chứng quả giải thoát.
            Cần hiểu như thế chúng ta mới hiểu chân kinh giải thoát của Như Lai phải được xiển dương, phải đươc trì tụng. Và hiểu như thế ta sẽ không bị rơi vào việc trì tụng kinh Như Lai để thành chẳng hiểu Như Lai tức không đạt được giải thoát. Tuy nhiên đại khái bạn và tôi cũng phải tìm hiểu thế nào về kinh không liễu nghĩa.
            Kinh không liễu nghĩa tất cũng là kinh, cũng là lời Phật dạy, chứ không phải là tà kinh, tà pháp, nhưng trên tinh thần giải thoát cứu độ chúng sanh, kinh không liễu nghĩa chỉ là phước báo hữu lậu gieo duyên nhân thiên còn trong ba cõi mà thôi. Dù vậy trên đường học Phật, căn bản trước tiên phải học hiểu nhân quả, phải trồng duyên làm thiện gieo phước, rồi sau đó từng bước thể nhập đi vào kinh liễu nghĩa. Nếu không như vậy, đừng nói là người học Phật tại gia, mà chính người xuất gia, mang tiếng là hành trì tụng kinh liễu nghĩa, nhưng trên thực tế vẫn rơi vào quả báo nhân thiên, vẫn chưa thể hành trì đúng như kinh liễu nghĩa.
            Thật ra đã là lời Như Lai, Đấng Đại Giác nói ra, kinh nào cũng là liễu nghĩa, vì một người đã liễu nghĩa nhân quả, sinh tử là khổ, Niết Bàn là an vui, tất nhiên họ sẽ đạt đến giải thoát trong tương lai. Nhưng một điều, học kinh là để đạt đến giải thoát, ngoài mục đích giải thoát, không còn nói kinh liễu nghĩa hay không liễu nghĩa gì cả, bởi nói cũng bằng thừa. Vì ngay cái liễu nghĩa cũng là giả danh, giả thuyết, chỉ tạm phân biệt cái ngược lại mà thôi. Thế thì ta phải hiểu tất cả kinh Phật, đều khiến người phát được tâm bồ đề là tâm làm Phật, tâm cứu độ chúng sanh; nếu không như vậy đó là kinh bất liễu nghĩa, kinh chỉ hướng dẫn cho mình mà không hướng đến tha nhân, mà ta đặt cho là kinh tiểu thừa, tức chiếc xe nhỏ chỉ chở được một người, không thể chở nhiều người, như chiếc xe lớn gọi là đại thừa vậy. Nhưng gọi là xe lớn mà không chở người, thì cũng chẳng khác xe nhỏ, thành ra gọi đại thừa cũng là sáo ngữ.
            Xe thật đúng nghĩa của xe, là xe có thể đón nhận chở được tất cả chúng sanh, chở luôn cả hai hạng người tu Đại thừa và Tiểu thừa; là xe Nhất thừa xe không còn phân biệt bao hết tất cả chúng sanh cho đến hàng Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, xe đó mới là xe Phật, xe mà chẳng phải xe mới là xe.
            Học Phật ngày nay như chúng ta, đã cách xa hơn hai ngàn năm từ thời đức Phật, nên sự ngộ nhận thắc mắc về kinh điển, cũng không gì đáng trách, nhưng may mắn và thắng duyên là vẫn còn rất nhiều người chứng đạo kể từ khi kinh điển được lưu truyền ứng dụng từ thời tượng pháp đến nay. Điều này minh chứng cho thấy, kinh Phật vẫn là chân pháp, mà thế gian không thể trước tác chế đặt ra được; tuy nhiên lời Phật được ghi lại sau khi Ngài tịch hơn vài trăm năm, do đó không thể tránh được việc diễn ý họa lời; tuy nhiên ta vẫn thấy ý kinh nội dung chỉ là nhất quán. Vẫn phải giữ giới tu định, trừ diệt tham, sân, si, mạn, nghi là năm độn sử kết tập từ vô thỉ kiếp đến nay, đó là nền tảng không thể sai khác. Vậy thì trước sau từ lúc còn Phật, cho đến ngày nay nội dung Phật dạy chẳng có gì sai; như thế điều diễn tả trong kinh cũng chỉ là những lời chư Thánh đại Tăng đã sám hối mà nêu rõ nghĩa lý Phật dạy, điều đó cũng là thâm ý Phật mà ra. Rõ ràng cụ thể nhất là xưa nay bất cứ chư Thánh Tăng nào khi chứng đạo, rồi tuyên thuyết chánh pháp, đều vẫn nương vào lời dạy của Thế Tôn, chứ các Ngài chưa bao giờ bảo mình hiểu chánh Pháp ngoài lời Thế Tôn dạy. Cho nên nhà Phật thường nghe câu: Y kinh diễn nghĩa tam thế Phật oan, ly kinh nhứt tự tức đồng ma thuyết. Có nghĩa, bám víu sát nghĩa kinh điển mà giảng điều này là nói oan cho ba đời chư Phật, nhưng lại lìa kinh dù một chữ thì chẳng khác gì lời ma nói.
            Vì sao? Vì như bạn và tôi hiểu, cũng đã bàn qua; Phật diễn pháp giải thoát tùy theo hoàn cảnh, căn tánh của chúng sanh, như trong năm hạng cầu học: Nhân, Thiên, Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát; Phật phải diễn nói phương tiện khác nhau; và dù trăm sông cũng chảy xuôi ra biển, nhưng không thể lấy pháp Bồ Tát, Duyên Giác mà dạy cho hàng sơ cơ vừa thọ trì năm giới. Cũng như không thể thuyết giảng Trì giới là huyễn không, cho người mới bước chân vào nhân thừa tu phước.
            Như thế pháp là tùy người khởi, duyên là tùy theo căn tánh của mỗi người, chứ không thể cố chấp đặt định, bắt tất cả mọi trình độ căn tánh phải y như người liễu đạo. Thế thì nói theo lời Phật nói, mà không hiểu Phật nói trong nhân duyên nào, hoàn cảnh chi, như vậy có phải nói oan cho Phật không! Nhất là thời nay thời nguyên tử, thế kỷ 21, nếu bắt buộc cố định vào lời Phật mà chấp hành, thì quả càng oan cho ba đời chư Phật nữa.
            Riêng việc ly kinh nhứt tự tức đồng ma thuyết, đây quả tuyệt đối là vậy, bởi vì tôi và bạn có biết gì mà nói, mà thuyết, nếu thế gian này không có Phật! Không có Phật thì đúng là ma nói chứ còn gì! Cho nên không thể lìa khỏi chân lý giải thoát của Như Lai; nếu không chúng ta lại quên mất, tất cả ngôn ngữ kiến thức thế gian đều là vọng niệm phân biệt có gì chân thật. Thế thì mặc dù câu nói đầu, không nên y bám vào kinh, sẽ oan cho Phật nhưng câu sau cảnh tỉnh cho ta, chớ dùng kiến thức phàm phu mà lìa trí vô phân biệt là tánh giác, tức chân kinh của Như Lai, điều này lại càng sai chánh pháp. Cho nên nhất định không được lìa kinh dù là một chữ; một chữ đây là chữ tâm chữ trí, chữ Phật, chữ không chấp, không dính, không lìa xa tánh giác vậy.
            Tóm lại chúng ta đã hiểu thế nào là kinh liễu nghĩa, và không liễu nghĩa. Điều này căn bản giúp người vào đạo phân biệt được việc học Phật phải hướng đến giải thoát là cứu cánh, là liễu nghĩa của Như Lai, để rồi sẽ không còn phân biệt trong phân biệt.
            Thưa bạn, vậy chúng ta đã tạm xong phần tứ y, phần quan trọng có thể tóm lược, kết ý lại chuyện học Phật của chúng ta. Vì đây là vấn đề nhìn lại việc học và pháp học chính mình, cũng như đối tượng nhân duyên tiếp xúc. Như thế mọi sự tác động chung quanh với người học Phật, cần phải hiểu rằng tất cả là những pháp duyên mang nhiều hình thức, hoặc thuận hoặc nghịch, nhưng thế nào cũng đều giúp ta liễu tri được con đường chánh pháp hiện ta đã và đang đi. Như thế pháp Tứ Y là pháp mà người học Phật cần phải quán sát nhiều hơn để sinh ra năng lực phát sanh trí tuệ nơi tâm.










Đôi lời tạm biệt

            Thưa bạn vài chuyện học Phật đến đây tạm có thể kết thúc, đó cũng là một số món ăn tinh thần như ban đầu đã giới thiệu cùng bạn. Tất nhiên chỉ là một vài món căn bản, trước khi bạn và tôi tự tìm hiểu thêm, hay tự có thể tạo ra phương pháp, phương tiện để đời sống chúng ta được quân bình, được trong sáng hơn.
            Tôi thật không dám hẹn trước, khi nào chúng ta có duyên một lần nữa mạn đàm thêm vài chuyện cho vui. Thật ra chúng ta phải nghiêm chỉnh, nào đâu dám mượn việc học Phật mà chuyện trò, có chăng chỉ vì ham thích giáo lý Như Lai thôi!
            Ngày xưa người vui với đạo giải thoát, nhìn mọi người mọi cảnh đều tỏa ra hương thơm giải thoát, điều đó chứng tỏ định lực tu trì của người xưa đã thâm sâu; chúng ta ngày nay học Phật chưa thể hòa đồng cảnh tâm cùng một, cũng là do công phu nội lực không bằng. Bù lại chúng ta mượn vui qua ngôn ngữ qua mạn đàm trà đạo, chia xẻ ưu tư học Phật trong thế giới cực kỳ thịnh đạt vật chất ngày nay, đó vẫn là lực dụng thầm nhắc còn giữ được tâm thiết tha hướng cầu giải thoát.
            Ít ra chúng ta cũng thực hiện được phần nào, là đệ tử Phật phải thường xuyên nhắc nhở bàn bạc thảo luận về pháp giải thoát về việc tu học với nhau. Biết rằng chỉ là thảo luận chuyện bàn, nhưng đó vẫn là chất liệu chánh pháp được ươm dần trong tâm niệm chúng ta.
            Bạn và tôi hãy xem, sinh hoạt đời sống thế gian cứ mãi đà quay như chong chóng, thoáng qua đã chóng già, già rồi chuẩn bị chết, chết rồi nối tiếp một đời sau không chủ đích. Khi bạn và tôi gặp một người già tuổi trên bảy mươi hay đã tám mươi, nếu các vị này trông còn khoẻ mạnh thì chẳng nói chi, nhưng nếu thân thể lão suy, đi đứng không còn tự tại, thì hình ảnh gì hiện lên trong tâm bạn và tôi? Bấy giờ sự thật không thể chối cãi, không thể không buồn, đó là hình ảnh ngày chết hiện lên thật rõ. Điều đó là gì, nếu không phải là một vở kịch thế gian sắp sửa kéo màn, để chọn vai khác!
            Tưởng rằng học Phật là những luận kinh thậm thâm uyên áo trong thuyết Duyên Sinh, Tánh Không, Bát Nhã, nào ngờ thực tế là việc tử sinh. Việc hiện thân hư hoại thực tế trước mắt mọi người, mà ta xem thường chẳng học. Bạn và tôi dư biết Bồ Tát Tất Đạt Đa đã thấy gì trước khi phát tâm tìm đạo? Có phải là việc sinh lão bệnh tử chăng? Nếu chúng ta thấy một đứa bé mới sinh, điều đó nói lên một hình ảnh, một bóng hình già nua vừa mất! Nếu chúng ta cảm nhận thấy mình trưởng thành hiểu biết, điều đó có khác gì làm sống lại một cuộc luân hồi!
            Suy ra tất cả hiểu biết của ta hôm nay, chỉ là cuộc hành trình từ kiếp quá khứ diễn đi diễn lại. Ta có thể cho rằng văn minh ngày nay là hiện đại tân kỳ, mà thời cổ xưa không có được, điều đó vẫn đúng; vì có thể là khởi một hình ảnh mới trong chu kỳ tại hành tinh này; nhưng ta nào biết các hành tinh đang hiện hữu khắp nơi trong vũ trụ, lại nhìn văn minh chúng ta chỉ là một hình ảnh củ trong chu kỳ văn minh của họ. Và hơn nữa sự đi lại của thần thức trong những thế giới, chỉ là việc bình thường như du lịch thế gian mà thôi; như thế họ nào khác với ta vẫn trong luân hồi dục giới. Bao giờ văn minh con người chinh phục được tâm, chinh phục được ngã, chừng ấy mới vượt ra khỏi chu kỳ lập đi lập lại, và chừng ấy mới thật là nền văn minh mang đến an lành hạnh phúc bất diệt của Như Lai.
            Thật ra việc học Phật là một thực tế chẳng phải dài dòng, chẳng phải xa xôi tìm kiếm, vì tất cả những hình ảnh vật thể vô thường, con người sinh tử, hiện rõ mồn một trước mặt chúng ta; nhưng vì tình ái luân hồi của nhiều kiếp quá sâu, và thiện duyên tu đạo quá ít, nên đời nay nhìn vật nhìn người vẫn còn mến ưa chứ không nhàm chán.
            Ngày nay chuyện bàn, ý thức được như vậy, bạn và tôi phải hiểu rằng chúng ta đã có khá nhiều thiện duyên, phải nên mừng cho mình đang còn sống trong chánh pháp, đó là chánh pháp tự tâm. Chính pháp tự tâm mới là thật pháp, vì hướng đến giác ngộ thành đạo là do tâm, chứ không thể do bên ngoài tìm được. Tuy nhiên muốn giữ được tâm sống hoài với chánh pháp, ta phải tự tạo hoàn cảnh thuận theo tâm giác ngộ của mình.
            Bạn và tôi những người đang trên đường học Phật, phải biết lấy nhân duyên thù thắng này, phải luôn nhắc nhở nhau, để người này quỵ ngã có người kia nâng đỡ. Không có duyên với nhau ta không thể gặp nhau được; nhưng duyên gặp người học Phật còn khó gặp hơn nữa. Bạn đừng cho rằng điều đó là tự nhiên! Thưa, không như vậy đâu, nếu lúc này giờ đây bạn và tôi hài lòng thỏa mãn với những gì đã học, và ngừng lại chuyên cần tinh tấn, thì nhân giác ngộ sẽ thành trì trệ. Ngược lại nếu tiếp tục tìm hiểu thì nhân giác ngộ sẽ được khởi đi; như vậy sự việc xảy ra chung quanh sẽ thuận theo duyên tiếp diễn, cho đến thành nhân đầy đủ, đó là lúc thực hành tu đạo không mấy khó khăn.
            Người học Phật ngày nay như muốn giữ tâm Phật, thiết nghĩ không gì hơn qua việc trì niệm kinh văn thường xuyên. Ngày nào còn đọc tụng kinh văn, ngày đó bạn còn được sự gia trì của chư hộ pháp. Vì chẳng ngạc nhiên gì, do kinh văn là lời giải thoát của đấng Đại giác Thế Tôn, cho nên chư thiện thần nghe được lại không kính ngưỡng sao! Và chúng ta là người trì tụng chẳng lẽ thiện thần chẳng đoái hoài nhìn ngó. Tất nhiên ta vẫn hiểu, người trì tụng phải với lòng kính mộ, phải sống ít ra như một đệ tử của Thế Tôn, là không mê tín, không dị đoan không xu hướng thần quyền huyễn hoặc. Như vậy thiện thần mới nghe được lời kinh đọc ra từ tâm tha thiết học hiểu của ta, bằng không thiện thần chẳng nghe gì được.
            Nếu bạn nghĩ kinh là tâm, tâm kinh mới đúng lời Phật dạy, nên tụng hay không chẳng sao, miễn tâm thanh tịnh là được. Vâng thật đúng, nhưng liệu ta có sống được như tâm kinh, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, như là Bát Nhã Tâm Kinh chăng? Nhưng nếu ta có sống được như tâm kinh Bát Nhã đi nữa, thì việc trì tụng kinh lại càng tăng thêm công đức, đó là công đức biết mà không chấp, biết mà vẫn làm, để tạo hình ảnh phương tiện tác động giúp người khác thực hành trì tụng theo. Công đức này mới thật cao thâm; mới chung thủy với ý của Kinh Kim Cang, là được mà không cho mình được, như vậy tương lai mới đạt thành được!
            Thật ra chuyện bạn và tôi học Phật, có tiếp tục dài hơn nữa cũng chẳng nói gì khác hơn, là hy hữu giáo lý giải thoát vẫn còn ở thế gian, hy hữu bạn và tôi đã có duyên gặp được, và hy hữu hơn nếu gặp được mà tin và thực hành tu học. Đó là cốt yếu của vấn đề học Phật chúng ta. Như thế vấn đề còn lại và những chuyện mà tôi hẹn gặp lại bạn cũng chỉ nhắc nhau vững tâm bồ đề hơn thôi.
            Thôi thì trước khi dứt lời, tôi xin được chúc bạn, bao giờ bạn chưa rời khỏi thế gian này, bạn sẽ là hình ảnh thiện trí thức, sống theo lời Phật dạy và khi xả báo thân sẽ được sanh về đất Thánh, và từ đất Thánh bạn sẽ tùy nguyện trở lại hiện ra phương tiện cứu độ chúng sanh.
            Vài lời đến đây, xin được chấm dứt, nguyện mong tất cả chúng sanh trước sau tùy theo duyên nghiệp đều sanh về Tịnh Độ

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật         
Nam Mô A Di Đà Phật 
Thích Phổ Huân
22/11/2005     

chuyện bạn và tôi học phật 1

Nhãn:

Đăng nhận xét

[blogger]facebook][disqus]

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.