bài viết mới

An Cư Kiết Hạ an lạc an nhiên Audio Phật Giáo Bài Viết Báo Chí Đặc San Kỷ Yếu Books Books Cover bố thí cúng dường chánh niệm Chia sẻ hình Phật đẹp Chia sẻ link download Kinh Sách Chia sẻ link download MP3 Phật Giáo chùa việt chúng A-La-Hán Chuyên mục Chư Bồ Tát công đức Danh Lam Thắng Cảnh di tích phật giáo dội trong sương mù duy nhien duy nhiên Duy Thức Học Đại Tạng Việt Nam đạophật Điển Tích đoán điềm Ebook English PDF giác ngộ giácngộ Giải Trí Giảng Giải Kinh Giáo Lý của Phật qua những câu chuyện nhỏ. Hành Hương hạnhphúc Hình Ảnh hoatdongtuthien học làm người Hộ Niệm Vãng Sanh Hồng danh Chư Phật Khoa Học - Đời Sống Kim Cang Thừa Kim Cương Thừa kinh Kinh Pali Kinh Sanskrit/Hán Tạng Lịch Sử Lối Về Sen Nở Lời Hay Ý Đẹp Lời Phật Dạy Luận Luật luật nhân quả Máy Tính mật tông Minh Vương Bộ Nghi Lễ Nghiên Cứu Phật Học nghiệp nguyen duy nhien nguyenduynhien nguyễn duy nhiên nguyễnduynhiên Nhạc thiền NHÂN SỸ PHẬT GIÁO những bài viết pdf Nối Kết Pháp Âm Việt Pháp Luận phápthoại Phat Giao Ca phật Phật Bồ Tát Phật Đản Phật Giáo phật giáo việt nam Phật Học Phật Học Cơ Bản Phật Học Ứng Dụng phật học và tuổi trẻ Phật Ngọc Phim PG Phim Phật Giáo phong thủy âm trạch phong thủy biệt thự khu công nghiệp khu đại công trình phong thủy canh tý phong thủy cấm kỵ hóa giải phong thủy chung cư nhà nhỏ phong thủy công trình phụ nhà vệ sinh cầu thang ban công ngoại quan nhà tắm phong thủy đình chùa miếu mạo nhà thờ tổ từ đường phong thủy hình thế minh họa phong thủy kê đệm kích hoạt cải vận Phong thủy kinh doanh buôn bán phong thủy màu sắc phong thủy mệnh số đời người tinh duyên hôn nhân con cái công danh phong thủy nghi lễ thờ cúng phong thủy ngoại cảnh phong thủy nhà bếp phong thủy nội thất treo tranh đặt tên phong thủy ô tô xe hơi mua bán vật dụng kê đệm phong thủy phòng khách phong thủy phòng ngủ phong thủy số phong thủy thời trang mua sắm phong thuy văn phòng phongthuy phongthuyviet sách sách lịch sử pdf sách phật học pdf sách văn học pdf sinh thuc sinh thức sinhthuc sinhthức sống trong thực tại Tánh Không Tham Luận/Tiểu Luận Thành Đạo Thế Giới Muôn Màu thiền Thiền Đại Thừa Thiền Nguyên Thủy Thiền Tổ Sư Thiền Tông Thiền và Thở thiênnhiên Thư Pháp thực tại hiện tiền tiện ích Tin Học Tịnh Độ TỔ CHỨC PHẬT GIÁO Trang Thơ Trang Văn triết lí sống tru Truyện Phật Giáo tuhọc tự tại tư vấn phong thủy tư vấn tâm linh TỰ VIỆN từái vandapphatphapTCQ văn hóa video Video hoạt hình Phật Giáo Vu Lan Xã Hội Xuân

Hỏi: Kính thưa Thầy! Nhân quả là cái gì? xin Thầy hoan hỷ chỉ dạy cho chúng con được biết.
Câu hỏi của Diệu Quang

Đáp: Nhân quả là chữ Hán, nhân: có nghĩa là hạt; quả: có nghĩa là trái, gồm chung hai chữ nhân quả lại nghĩa đen của nó là hạt và trái. Hạt giống nào sẽ cho trái nấy, không thể cho trái khác được. Ví dụ: hạt cam khi gieo lên thành cây sẽ cho trái cam; hạt chanh sẽ cho trái chanh, không thể nào hạt cam mà cho trái chanh được, cũng như hạt chanh không thể nào cho trái cam được, v.v.. Còn nghĩa bóng là hành động thiện hay ác, nếu hành động thiện thì được phước báo an vui, còn hành động ác thì phải thọ lấy sự đau khổ, tức là hành động nào sẽ gặt lấy hậu quả của hành động nấy.

Ví dụ: Như hành động trộm cắp thì phải gặt lấy hậu quả của hành động trộm cắp là bị bắt ở tù, hoặc bị người mất của bắt được đánh đập, có khi họ giết chết.

Hậu quả của sự tham lam trộm cắp, không những ở trong kiếp hiện tại nghèo nàn, đói khổ mà còn kéo dài trong các kiếp vị lai nữa. Cho nên, nhân quả tham lam đem lại cho đời người một sự nghèo đói bất hạnh vô cùng, là con người chúng ta phải tránh gieo nhân quả trộm cắp, cướp giựt của người khác, do không tham lam trộm cướp của người khác thì đời sống của chúng ta sẽ được no cơm ấm áo, nếu càng gieo nhân quả tham lam trộm cắp thì đời sống của chúng ta sẽ đói khổ vô cùng và trong muôn kiếp.

Kẻ làm ác giết hại chúng sanh, ăn thịt chúng sanh thì hậu quả sẽ bị tai ương, bệnh tật, khổ đau, hoạn nạn hoặc bị sự giết hại của kẻ khác, bằng cách này hoặc bằng cách khác v.v..

Hành động thiện thì hưởng được phước báo như: Cơm ăn áo mặc đầy đủ, cuộc sống gặp nhiều may mắn, trong nhà hòa thuận vui tươi, con cái hiếu hạnh biết vâng lời dạy bảo của cha mẹ, còn hành động ác thì thọ khổ như: bệnh tật, tai nạn, trong nhà thường rầy rà, bất hòa chẳng an, con cái cãi lời cha mẹ, đi chơi bỏ học hành, trộm cắp tiền của cha mẹ, thường làm gia đình khổ, người khác khổ.

Luật nhân quả rất công bằng và công lý không ai lo lót, hối lộ tiền bạc mà hết khổ được, dù có quyền thế tiền bạc đến đâu luật nhân quả vẫn công bằng không tư vị.

Vì thế, người gieo nhân ác không thể cầu khẩn chư Phật, chư Bồ Tát và Ngọc Hoàng Thượng Đế cùng các bậc Thánh Vạn Năng cũng không cứu giúp cho mình được. Nên vấn đề cầu an, cầu siêu, cầu xin ban phước lành chẳng bao giờ có được, chỉ là một trò lừa bịp lường gạt người khác, chẳng có ích lợi gì mà còn hao tài tốn của vô lối chẳng ích lợi gì cho ai cả.

Trưởng Lão Thích Thông Lạc
Và đây là bộ sách của Thầy Thích Thông Lạc mà tác giả Blog đã sưu tập (tạm thời), bạn có thể tải về: Click tại đây

Một người đàn ông chém một người khác đến chết ngay giữa thanh thiên bạch nhật trên đường phố London. Ở Mianmi, một người rứt thịt trên mặt một người khác mà nhai trong khi người đó còn sống. Ở Paris, một người tự bắn tung sọ mình ngay trước mặt hàng chục cháu bé học sinh đang trợn tròn mắt.

Giờ có phải là lúc ca to lên hơn nữa những bài ca của đắng cay, thất bại và cơn giận không kiềm chế của chúng ta? Giờ có phải là lúc để buông xuôi? Cuối cùng thì triết lý hư vô đã đúng? Thế giới này là một nhầm lẫn vô nghĩa lý, một sự lầm lạc của ý thức, một sự phí phạm thời gian của tất cả mọi người?

Khi đối mặt với những tin tức như ở trên, có thể chúng ta thường cảm thấy thật bất lực, thật bứt rứt, như kiểu chúng ta đang sống trong một thế giới đã phát điên và vượt ngoài tầm kiểm soát. Tất cả như thể một cơn ác mộng, như thể một thế lực đen tối và ác độc nào đó đã chiếm lấy quyền điều khiển. Một số người bắt đầu nói về việc cận kề Tận Thế. Hẳn rằng có cảm giác đây là sự chấm hết của thế giới thần tiên mà chúng ta đã từng tin tưởng. Từ sự bất lực và thất vọng của chúng ta, cơn giận dữ có thể bùng phát, như một nỗ lực cuối cùng của cái ngã trong việc nắm quyền kiểm soát mọi thứ.

Trong cơn tuyệt vọng chúng ta tìm kiếm những câu trả lời, những nguyên do, một ai đó hay một cái gì đó để đổ lỗi, một chỗ thoát cho tất cả sự hoang mang này, cái năng lượng sống thô sơ này. Chúng ta có đổ tội cho những kẻ sát nhân? Cha mẹ chúng? Xã hội nói chung? Bộ não con người? Thực phẩm chúng ta ăn vào? Những hóa chất? Sao chiếu mệnh? Chính phủ của chúng ta? Các tôn giáo? Chúng ta có xem những kẻ sát nhân là bệnh hoạn, méo mó, lạc lối, là những kẻ điên khùng ác độc? Chúng ta có phát động cuộc chiến với chúng như chúng đã khiêu chiến với chúng ta, cầu mong chúng và thân quyến của chúng chết nhiều hơn là chúng ta? Chúng ta có bước vào câu chuyện cũ rích về Thiện đấu với Ác, về chúng ta đấu với chúng nó? Chúng ta có củng cố bền vững thêm sự đồng nhất bản thân với cảm nhận về cái tôi riêng biệt do tâm trí tạo ra?

Chúng ta có nguyền rủa cả thiên hà vũ trụ này và ước gì mình đã không sinh ra? Chúng ta có cố làm cho bản thân tê liệt đi, làm phân tán bản thân khỏi hiện thực của thế giới này, với rượu cồn, với tình dục, với công việc, với những tiện nghi vật chất? Chúng ta có đơn giản là gạt đi nỗi hoảng sợ, tách rời bản thân mình khỏi những người khác và quay lưng lại trước tình cảnh của họ, lầm bầm than phiền mọi chuyện 'khó chịu' và 'kinh khủng' ra sao, nhưng chẳng làm gì để giúp mang tới sự thay đổi và chữa lành?

Chúng ta có quay sang các vị thầy tâm linh, những người làm chúng ta thấy thoải mái dễ chịu với bài nói về bản chất hão huyền của cuộc sống và tính phi thực của tất cả những gì ta chứng kiến? Chúng ta có phun ra những lời như 'chẳng có gì quan trọng', 'tất cả chỉ là một trò chơi hồn nhiên của thế giới vật chất', và 'dầu sao thì chẳng ai có bất cứ sự lựa chọn nào'? Chúng ta có gọi cái mà chúng ta trông thấy là một 'ảo tưởng' để tránh cho bản thân khỏi nỗi đau phải đối mặt với sự hỗn độn và dường như không thể kiểm soát này của thế giới hình tướng vô thường và tương đối? Chúng ta có vờ như những sự kiện trên thế giới chẳng có liên quan gì tới chúng ta, rằng mọi thứ đều tách biệt và chúng ta là những ốc đảo riêng mình? Chúng ta có đóng chặt hơn nữa trái tim đã bị chúng ta đóng chặt từ trước rồi, dựng lên những bức tường thậm chí còn cao hơn nữa và sống trong trạng thái phòng vệ của nỗi sợ hãi? Chúng ta có buông xuôi thế gian này và mơ về một cuộc sống toàn hảo sau cái chết?

Chúng ta có đi đến kết luận rằng vũ trụ này tốt đẹp hoặc xấu xa như thế nào, chỉ cố định một cách nhìn hoặc lạc quan hoặc bi quan? Chúng ta có dùng 'tính hiện thực' của tin thời sự như một cái cớ để buông xuôi, để tắt đi, để quên đi con người thực sự của chúng ta? Chúng ta có để cho 'bọn khủng bố' thắng bằng cách tự mình sống trong hoảng sợ, và đi khủng bố lại những kẻ khác mà chúng ta gắn cho cái mác 'kẻ ác'? Chúng ta có góp thêm vào vấn đề mà chúng ta thấy? Hay là chúng ta sử dụng sự xuất hiện của các vấn đề để nhìn sâu hơn vào bản thân chúng ta và cách chúng ta sống và đối xử với người khác? Chúng ta có thấy sự điên rồ như một lời mời gọi sự thông tỏ? Bạo lực như lời kêu gọi tình yêu thương? Nỗi đau như một lời gọi sự cảm thông? Sự hoảng sợ như lời kêu gọi nhớ lại và biểu hiện sâu sắc hơn, với lòng tin vững chắc hơn vào sự thông tuệ vô hạn, nó là chính chúng ta.

Chúng ta có bỏ qua sự giết chóc? Nhất định là không rồi. Chúng ta có cảm nhận nỗi đau của các nạn nhân và người thân của họ? Tất nhiên, là bởi vì chúng ta không tách rời. Liệu chúng ta có làm mọi điều có thể để ngăn chặn chuyện kiểu như thế này xảy ra lần nữa? Hẳn vậy. Chúng ta có làm việc vì công lý? Vâng, có chứ. Chúng ta có ngồi lùi lại và chỉ đơn giản là 'chấp nhận'? Nếu sự chấp nhận có nghĩa là thờ ơ và thụ động thì không. Nếu nó có nghĩa là đi đến một sự hòa điệu sâu sắc với Sự sống, biết rằng sự thay đổi và chữa lành thông tuệ luôn luôn trồi lên từ sự lao mình không sợ hãi vào sự bí ẩn của khoảnh khắc, thì có. Sự chấp nhận thực sự và sự thay đổi mang tính sáng tạo là đôi tình nhân.

Ở Trung Đông, một người Do Thái hiến tặng một quả thận cho một người bệnh Palestine, cứu sống được cô ấy. Ở Ấn Độ, một phụ nữ cho ăn và tắm rửa cho những người mắc bệnh hủi, bởi bà thấy rằng tất cả chúng ta đều là những hiện thân của cùng một ý thức và sống theo cách này làm bà thấy vui sướng, bất chấp người khác gọi bà bằng những cái tên gì. Ở San Francisco, một cậu con trai đồng tính nắm lấy tay người cha già của mình, và đột nhiên sự tha thứ xảy ra như thể điều kỳ diệu; một cách không ngờ tới, sự nặng nề và bạo lực và hờn trách cả một đời tan đi, cứ như nó chưa từng xảy ra.

'Tin thời sự' nào chúng ta đang dạy cho con cái chúng ta? Chúng ta có đang dạy chúng rằng chúng được sinh vào một thế giới cơ bản là đáng sợ, tồi tệ và bệnh hoạn, và rằng chúng phải sống trong sợ hãi và căm ghét? Chúng ta có dạy chúng rằng bạo lực là điều không thể tránh khỏi, và là cái có sẵn trong bản chất chúng? Hay là chúng ta dạy chúng rằng sự giết chóc và hành hạ mà chúng ta thấy trên bản tin thời sự mỗi ngày là xuất phát từ sự đắm chìm quên lãng về con người thực của chúng ta, một niềm tin sai trái và lầm lạc vào sự chia rẽ.

Chúng ta có đang dạy chúng từ bỏ giấc mơ của chúng bởi vì có những kẻ xấu ngoài kia có ý định chặn chúng lại? Chúng ta có đang dạy chúng từ bỏ tình yêu thương, và từ bỏ sự cảm thông, và từ bỏ sự thay đổi và từ bỏ nhân tính, và từ bỏ niềm vui sống, bởi vì có tất cả những 'tin thời sự' kia? Chúng ta có đang dạy chúng tập trung vào những gì sai trái của thế giới, víu chặt vào 'điều tiêu cực', cất lên những bài ca của thất bại và vỡ mộng? Chúng ta có đang che mắt chúng trước 'điều tiêu cực' bằng cách tập trung chỉ vào 'điều tích cực'? Hay là chúng ta đang dạy chúng thừa nhận bạo lực đang có trên thế giới, nỗi đau của nó, nhưng thấy rằng tất cả nỗi khổ đau này là một phần của bức tranh rộng lớn vô hạn, một bức tranh trong đó mọi thứ đều kết nối với nhau và mọi thứ đều tạo ra sự khác biệt và mọi thứ đều nằm trong một sự cân bằng và chẳng có gì là mãi mãi.

Đừng sử dụng 'tin thời sự' như một cái cớ để thôi không sống thật với lòng mình, dù chỉ trong một khoảnh khắc. Đừng tin dù chỉ trong một giây rằng có một thế lực được gọi là 'cái ác' trên thế giới sở hữu bất cứ một sức mạnh nào thắng được Sự sống. Nỗi sợ chẳng thể thắng, bởi nó nổi lên từ sự hiểu sai về bản chất của chúng ta. Chúng ta chỉ đang làm tổn thương chính chúng ta, đâm dao vào chính chúng ta và bắn tung sọ chính bản thân chúng ta, và tận thẳm sâu bên trong, chúng ta biết điều này, và vẫn luôn biết. Một con sóng không bao giờ có thể tách rời khỏi đại dương, hay tách rời khỏi bất cứ con sóng nào khác, và vượt khỏi sự khác biệt trong quan điểm và niềm tin của mỗi chúng ta, thì tất cả chúng ta đều là những động thái của MỘT SỰ SỐNG, nguồn Sức mạnh thực sự, trên cả 'sức mạnh' thế gian của súng ống và dao xẻ thịt dầm trong máu.

Hãy dạy con cái mình những hiện thực của thế gian, đúng thế, nhưng quan trọng hơn, hãy dạy chúng sự thực của trái tim chúng và trái tim của những người mà chúng gọi là 'những người khác'. Hãy để diễn biến hiện tại của bạo lực phục vụ một cách đắc lực để làm sâu sắc hơn niềm tin của chúng ta, niềm tin vào món quà phi thời gian và vững bền không gì lay chuyển nổi của HIỆN TẠI mà chúng ta vẫn luôn luôn biết, và khẳng định lại ý muốn kết thúc mọi bạo lực trong bản thân chúng ta, để sống như chúng ta biết rằng chúng ta có thể sống. Đừng để cho 'tin thời sự', hay ít nhất là những câu chuyện được chọn lọc đưa đến cho chúng ta với tư cách 'tin thời sự', làm phân tán chúng ta khỏi SỰ THẬT.

Justmevn dịch 

Đọc tin và nhìn thấy ba sợi dây thừng chăng ngang đường để neo thuyền, làm một thanh niên đi xe máy bị tai nạn, tử vong (Dân Trí, 15:15, 15.11.2014) – chắc hẳn, không một ai muốn tin vào điều vừa biết, thấy vì không thể trả lời được câu hỏi: Tại sao người ta có thể vô cảm đến mức lạnh lùng, chăng ngang những sợi dây như thế kia?

Có hàng trăm, nếu không muốn nói là hàng ngàn dẫn chứng, phản ánh rõ ràng, đầy đủ sự nhức nhối về thói vô cảm – căn bệnh trầm kha của xã hội đương đại ở nước ta nói riêng, trên cả thế giới nói chung.

Trong bài Diễn văn đọc tại nhà thờ lớn nhất thế giới đêm Giáng Sinh (24.12.2009) - nhà thờ St. Peter (St. Pièrre, còn có tên là nhà thờ Quo Vadis), Đức Giáo hoàng Bennedicto XVI nói về nhiều vấn đề, trong đó Ngài đặc biệt nhấn mạnh rằng sự tồi tệ hiện nay của thế giới phần lớn là do con người “chỉ chăm chăm nhìn vào quyền lợi cá nhân ích kỷ của mình; và, vì thế, “biến chúng ta thành tù nhân của quyền lợi và khát vọng của chính mình”...

Nghe, giật mình và chợt hiểu ra điều tưởng chừng như ai cũng biết: Hầu như tất cả mọi sai lầm, tệ nạn, nhức nhối trong xã hội ta thời nay đều bắt nguồn từ tính ích kỷ (self-seeking) quá đáng của mỗi chúng ta. Tính ích kỷ quá quắt đó được “thăng hoa”, được biểu hiện, được công khai hóa một cách lạnh lùng bằng sự vô cảm (anaethesia). Có thể nói, tính ích kỷ là “cha đẻ” và cũng là “bạn đồng hành” của sự vô cảm.

Tự bao giờ, chúng ta ‘vất bỏ’ sự quan tâm đến người khác, tinh thần mình vì mọi người ra sau lưng theo cách nhìn mà không chộ những sự vô cảm lạnh lùng? Những ngư dân ở thôn Phú Liên, xã Quỳnh Long, huyện Quỳnh Đôi, Nghệ An chỉ chăm chăm nhìn và thấy con thuyền của mình mà không cần hay biết, không hề quan tâm rằng 3 sợi dây thừng oan nghiệt đó đồng nghĩa với sự nguy hiểm chết chóc, một cái bẫy rập thật sự đối với đồng loại.

Đau đớn hơn, khi chăng 3 sợi dây thẳng, căng ấy, một người không thể làm và nhất định phải có nhiều người tham gia và, cũng chắc chắn rằng có không ít người nhìn thấy, nhưng tại sao, không một ai biết cái “kiến thức” tối thiểu về sự hiểm nguy, về an toàn giao thông, về cái lẽ tàn nhẫn nhất của tính ích kỷ tột cùng? Mọi câu trả lời đều bị sự thật cay đắng chối bỏ.

Đi tìm câu trả lời, chúng ta sẽ giật mình mà thảng thốt ‘phát hiện’ ra rằng, cái hành động tưởng chừng như vô lý kia, xảy ra – diễn ra nhiều lắm. Nhiều đến mức ta buộc phải nghĩ đó là ‘chuyện thường ngày’!

“Cháu bé chết tức tưởi trong hố gas không đậy nắp ở… trường mầm non” (NLĐ, 3.9.2013); “bé trai 9 tuổi chết vì ngã xuống hố gas” (Xã hội, 9.9.2014); “võ sư Bình Định chết vì hố gas không đậy nắp ở Hà Nội” (VnExpress, 25.7.2014)…

Ba ví dụ trên đây và ‘ba cái dây thừng’ có một điểm giống nhau: Rất nhiều người nhìn nhưng không một ai thấy sự vô cảm của chính mình hay của đồng loại. Hồ Chủ tịch đã từng có một ví von rất hay rằng, khuyết điểm của mỗi con người to như cái ba lô nhưng vì đeo ở sau lưng nên chẳng ai nhìn thấy.

Tự bao giờ, chúng ta ‘vất bỏ’ sự quan tâm đến người khác, tinh thần mình vì mọi người ra sau lưng theo cách nhìn mà không chộ những sự vô cảm lạnh lùng?

Nhà thơ Nga Konstantin Mikhailovich Simonov (1915-1979) – tác giả của bài thơ nổi tiếng Đợi anh về, có kể một câu chuyện: Khi ông sang thăm Nhật Bản trong những năm 50 của thế kỷ trước, một lần, sau buổi tối uống rượu sake với tộc người thiểu số duy nhất là người Ainu (2 vạn người) ở phía bắc đảo Hokkaido, ông lái xe trở về thành phố Salgado. Nửa đêm, bão tuyết, lạnh dưới độ không, từ xa, Simonov nhìn thấy một ánh đèn đỏ. Đến gần, nhận ra một người già cả cầm ngọn đèn đứng trong bão tuyết.

Đi tiếp một đoạn là chỗ đường bị đào lên để đặt cống. Qua phía bên kia, lại thấy một người nữa với cây đèn đỏ. Quá ngạc nhiên, ông xuống xe, lại gần và nói: “Giờ này, lạnh thế, sao bác vẫn còn đứng ở đây”? Người kia trả lời: “Tôi đã nghỉ hưu nhưng trợ cấp không đủ sống, phải làm thêm nghề gác đường. Nếu tôi vào ngủ, đèn lỡ tắt đi, những người như ông sẽ gặp nguy hiểm…”

Câu chuyện trên cho chúng ta biết vì sao sau trận sóng thần khủng khiếp ở Miyaghi năm 2011, ở đó không xảy ra nạn cướp bóc, hôi của. Nó cũng lý giải vì sao dịch vô cảm đang tràn lan ở nước ta, trầm trọng đến mức chẳng ai nhìn thấy những cái hố gas không đậy nắp và ba sợi dây thừng to sụ căng ngang sự ích kỷ trơ tráo giữa đường…

HÀ VĂN THỊNH
Theo Motthegioi

Huyền thoại Sisyphe

Các vị thần linh đã xử phạt Sisyphe phải không ngừng vần một tảng đá lên đỉnh một quả núi để từ đó tảng đá lại tự mình lăn xuống. Họ phần nào có lý khi cho rằng không có hình phạt nào khủng khiếp hơn cái công việc vô ích và vô vọng.

Theo Homère, Sisyphe là người khôn ngoan nhất và thận trọng nhất trong số người trần. Tuy nhiên theo một truyền thuyết khác thì ông ta có thiên hướng theo nghề kẻ cướp. Tôi không thấy ở đây có gì mâu thuẫn cả. Các ý kiến tỏ ra khác nhau về những nguyên do khiến ông phải trở thành kẻ dã tràng dưới âm phủ. Trước tiên người ta đã trách ông về thái độ có phần quá trớn của ông đối với thần linh. Ông đã để lộ các bí mật của họ. Egine, con gái của Asope, bị thần Jupiter[1] bắt cóc. Cha nàng ngạc nhiên về sự mất tích này và đã than phiền với Sisyphe. Ông này, vì biết được chuyện bắt cóc, đã đề nghị với Asope là sẽ cho ông ta biết tung tích của con gái nếu ông ta cung cấp nước cho thành Corinthos của ông. Ông cần phúc lành của nước mà không sợ sự trừng phạt của thần linh. Xuống dưới âm phủ ông đã bị trừng phạt vì chuyện đó. Homère còn kể cho chúng ta nghe rằng Sisyphe là người đã xích chân Thần Chết lại. Pluto[2] không chịu nổi cái cảnh vương quốc của mình trở nên hoang vắng và im ắng. Ông phái gấp thần Chiến Tranh đi giải thoát Thần Chết khỏi tay kẻ chiến thắng.

Người ta còn kể rằng khi sắp chết Sisyphe đã bất cẩn muốn thử thách tình yêu của vợ mình. Ông ra lệnh cho vợ không mai táng ông mà vứt xác ông ra giữa nơi công cộng. Sisyphe thác xuống âm phủ. Và tại đây, cảm thấy tức tối vì một sự vâng lời quá trái ngược với tình yêu con người của vợ mình như vậy, Sisyphe đã xin được Pluto cho phép ông quay về dương thế để trừng phạt vợ mình. Nhưng khi ông lại được nhìn thấy bộ mặt của thế giới này, được nếm trải nước uống và hưởng ánh nắng mặt trời, được nếm trải những viên đá nóng và nước biển, thì ông không muốn quay trở về với thế giới địa ngục tối tăm nữa. Lệnh triệu hồi của thần linh cùng những cơn tức giận và cảnh cáo cũng chẳng lay chuyển được ông. Các vị thần linh đã phải ra lệnh bắt ông. Thần Mercure[3] xuống tận nơi tóm lấy cổ áo ông, tước mất mọi niềm vui của ông để buộc ông về âm phủ, nơi tảng đá trừng phạt ông đang đợi sẵn.

Người ta đã hiểu từ lâu rằng Sisyphe là một nhân vật phi lý. Ông tỏ ra phi lý bởi cả những nỗi đam mê lẫn nỗi nhục hình của ông. Thái độ coi thường thần linh của ông, lòng căm thù cái chết và niềm ham mê cuộc sống của ông đã khiến cho ông phải chịu cái nhục hình khó tả như vậy, cái nhục hình bắt con người ra sức làm mà chẳng làm xong được việc gì. Đó là cái giá mà ông phải trả cho những nỗi đam mê trần thế của ông. Người ta không nói gì cho chúng ta biết về cuộc sống của Sisyphe dưới âm phủ. Huyền thoại được làm ra là để cho trí tưởng tượng tạo cho chúng có sinh khí. Đối với ông, người ta chỉ tưởng tượng thấy toàn bộ nỗ lực của một cơ thể căng ra để nhấc cái tảng đá khổng lồ rồi vần nó lên cái dốc núi mà ông đã phải đi lên đi xuống đến hàng trăm lần; người ta chỉ tưởng tượng thấy một bộ mặt co rúm lại, một bên má áp chặt vào tảng đá, một bên vai dính đầy đất sét, một bàn chân chặn tảng đá, sự lấy lại sức của cánh tay, sự bám chắc đầy nhân tính của hai bàn tay dính đầy đất. Sau cái nỗ lực kéo dài được đo bằng khoảng không gian không có giới hạn và bằng khoảng thời gian không có độ sâu ấy, thì ông đã đạt được tới đích. Khi ấy Sisyphe lại đứng nhìn tảng đá lăn xuống chỉ trong chốc lát trở về với cái thế giới bên dưới để rồi từ đó ông sẽ lại phải vần nó lên đỉnh núi. Ông lại bước xuống chân núi dưới đồng bằng.

Chính trong thời gian được nghỉ ngơi khi quay trở xuống chân núi này là lúc làm cho tôi quan tâm đến Sisyphe. Một bộ mặt khó nhọc rất giống với đất đá mà chính nó cũng đã trở thành đá mất rồi! Tôi nhìn thấy con người ấy quay trở xuống với một bước đi nặng nề nhưng bình thản để đến với nỗi nhục hình mà ông sẽ không biết bao giờ kết thúc. Cái thời điểm này cũng giống như một thời điểm để hít thở và nó thuộc về ông cũng chắc chắn như nỗi bất hạnh của ông, cái thời điểm đó là thời điểm của ý thức. Tại mỗi thời điểm như vậy, khi mà ông rời đỉnh núi để dần dần lún sâu vào hang ổ của các vị thần linh, ông đã vượt cao hơn số phận của ông. Ông tỏ ra mạnh hơn tảng đá của ông.

Sở dĩ cái huyền thoại này mang tính bi kịch là vì nhân vật của nó là một người có ý thức, quả thực nỗi khó nhọc của ông sẽ là ở chỗ nào, khi mà cứ mỗi bước chân ông lại được nâng đỡ bởi niềm hi vọng thành công? Người công nhân ngày nay, suốt tháng ngày trong cuộc đời của mình, luôn phải làm việc với cùng một nhiệm vụ và cái số phận đó củng chẳng kém phần phi lý.
ALBERT CAMUS (1913-1960)
NGUYỄN VĂN DÂN dịch
Nguồn: triethoc.edu.vn


Hạnh phúc ai bán mà mua

“Il faut s’imaginer Sysyphe heureux”
(Phải tưởng tượng Sysyphe hạnh phúc)

1. Sysyphe là nhân vật thần thoại Hy lạp. Chàng phát hiện hành vi mờ ám và đồi bại của một ông thần chóp bu (Egine, con gái của Asope, bị thần Jupiter, tức thần Zeus bắt cóc) và bị trả thù. Hình phạt dành cho chàng (tại sao chống tiêu cực không được thưởng mà bị phạt?) là phải không ngừng hì hục vần một tảng đá lên đỉnh núi, rồi tảng đá lăn xuống, và lại hì hục! Thần linh có khác: họ có lý khi cho rằng không có hình phạt nào khủng khiếp hơn cái công việc vô ích và vô vọng. Họ có lý ở chỗ tạo ra được một cái cực phi lý! Khi kể lại thần thoại này bằng giọng văn cảm khái, văn hào Albert Camus viết: “Ta biết từ lâu rằng Sisyphe là một nhân vật phi lý. Chàng tỏ ra phi lý bởi cả những nỗi đam mê lẫn nhục hình của chàng.Thái độ coi thường thần linh của chàng, lòng căm thù cái chết (chàng đã từng bắt trói thần chết khiến Diêm vương suýt thất nghiệp!) và lòng ham mê cuộc sống của chàng đã khiến cho chàng phải chịu cái nhục hình khó tả như vậy, cái nhục hình bắt con người ra sức làm mà chẳng làm xong được việc gì. Đó là cái giá phải trả cho những nỗi đam mê trần thế của chàng”.

Nhưng câu chuyện không chỉ liên quan đến số phận riêng của một nhân vật thần thoại. Camus lập tức liên tưởng đến thân phận hiện thực của “người công nhân ngày nay, suốt tháng ngày trong cuộc đời của mình, luôn phải làm việc với cùng một nhiệm vụ, và cái số phận ấy cũng chẳng kém phần phi lý”. Những người Pháp đồng hương với Camus mô tả sống động dòng đời buồn chán, vô nghĩa ấy là “métro, boulot, dodo” (tàu điện, quần quật, lăn ra ngủ, rồi cứ thế lặp lại). Nhịp sống ấy , suy rộng ra, đúng cho mọi kiếp người ! Vậy, hạnh phúc ở đâu, hay, hỏi như Camus và như ..muôn thưở: cuộc đời có đáng sống không?

Trước câu hỏi ‘hiện sinh’ ấy, tác giả đáng yêu của chúng ta đề nghị ba giải pháp: tự tử, tín ngưỡng và nổi dậy phản kháng. Trước hết, tự tử để chết quách cho xong (Camus là tác giả của luận đề nổi tiếng: “tự tử là tối đại vấn đề của triết học!”), là thừa nhận rằng cái phi lý mạnh hơn con người. Không được! Tiếp theo, tín ngưỡng hứa hẹn mang lại ý nghĩa cho cuộc đời, nhưng bằng cách triển hạn niềm ‘an ủi’ ấy vào kiếp sau, không ai có thể kiểm chứng được. Nghĩa là, cái phi lý chỉ được treo lại, được ‘bỏ trong dấu ngoặc’. Sau cùng, chỉ còn giải pháp thứ ba: nổi dậy phản kháng. Con người không thể chấp nhận, mà phải kiên quyết chống lại, không cho phép cái phi lý thống trị kiếp người. Nhưng, sự phản kháng này chỉ có thể bắt đầu khi nào? Camus viết: “Chính trong thời gian chàng được nghỉ ngơi khi quay xuống chân núi là lúc khiến tôi quan tâm (…) Tôi nhìn thấy chàng quay xuống núi với bước đi nặng nề nhưng bình thản để đến với khổ hình không biết bao giờ kết thúc. Thời điểm này là lúc hít thở. Nó thuộc về chàng cũng chắc chắn như nỗi bất hạnh của chàng: thời điểm của ý thức. Tại mỗi thời điểm như vậy, chàng vượt cao hơn số phận; chàng mạnh hơn tảng đá của đời chàng”. Sisyphe trở thành một huyền thoại: con người đạt được hạnh phúc vào chính lúc nổi dậy phản kháng sự phi lý, biết rằng nỗ lực của mình là vô vọng, nhưng có thể vượt qua nó bằng sự kiêu hãnh và khinh miệt. Tuy không thể xóa bỏ sự phi lý như xóa bỏ những khó khăn, bất hợp lý vặt vãnh, tuy biết rằng nhiệm vụ rất gian nan, nhưng khi dám đương đầu và thách thức với số phận, cuộc chiến đấu ấy “đủ sưởi ấm và làm viên mãn trái tim người”: “cần phải tưởng tượng rằng Sysyphe hạnh phúc!”.

2. Trở lên là một trong những thái độ mà con người có thể lựa chọn trước câu hỏi về khổ đau và hạnh phúc. “Phải tưởng tượng Sysyphe hạnh phúc!” là câu nói sâu thẳm của Camus, vì ông biết đặt hạnh phúc vào trong khuôn khổ hữu hạn của thân phận con người. Mọi nỗ lực định tính, tức đi tìm một định nghĩa nhằm xác định nội dung cho hạnh phúc, buồn thay, đều là công dã tràng, không khác mấy việc làm của Sysyphe! Không phải do con người kém thông minh (từ ngàn đời nay, có biết bao nhiêu nhà tư tưởng!), mà do đặc tính kỳ lạ của bản thân sự việc. Hạnh phúc, cũng như nhiều khái niệm hệ trọng khác đối với con người, chẳng hạn: chân, thiện, mỹ…, xét đến cùng, đều trượt khỏi bàn tay con người. Hãy lấy một ví dụ. Ta có thể định nghĩa hay đề ra năm tiêu chuẩn của chân lý: nó phải nhất quán, hiển nhiên, được đồng thuận rộng rãi, hữu ích và là mục đích tối hậu của mọi sự tìm tòi. Nhưng câu hỏi còn lại vẫn là: nó có phải là…chân lý không ? Tấm vé số nào cũng đáp ứng năm điều kiện ấy cả, nhưng không phải ai cũng có thể trúng số! Ông triết gia hoài nghi Sextus Empiricus (200-250) thấy điều ấy từ lâu: “Trong hang tối mò có nhiều người đi tìm vàng. Người nào cũng tìm được một thỏi, tin là vàng, nhưng không ai dám chắc, dù đang nắm trong tay! Cũng thế, hàng đàn những triết gia sinh ra đời như trong hang tối để đi tìm chân lý. Khôn ngoan là: ngay người nào đã nắm được chân lý trong tay, cũng nên nghi ngờ rằng có chắc thế không”. Cái gì là chân, thiện, mỹ, hạnh phúc.. thì phải tự thân nó là như thế chứ không phải do mình tin là như thế! Cái trượt ra khỏi bàn tay con người ấy thường được gọi là tính trội (supervenient) của sự việc và nằm ngoài tầm với của con người.

Đã có biết bao nỗ lực đáng kính nhằm định nghĩa hạnh phúc. Nào là phân biệt hạnh phúc chủ quan như là trạng thái hài lòng, hoặc khách quan như sự may mắn vì hội đủ các điều kiện cần thiết cho hành động. Những điều kiện ấy có thể là ngoại tại như sự giàu sang, danh vọng. Cũng có thể là sự hoàn thiện nội tâm, tăng an lạc, giảm khổ đau, thậm chí có thể đồng nhất hạnh phúc với sự hiến dâng đầy hy sinh cho một lý tưởng bằng con đường khổ hạnh hoặc ‘tử đạo’. Có người đặt tiêu chuẩn rất cao cho hạnh phúc đích thực như sự chí thiện (Khổng), giác ngộ (Phật) hay, như nơi Plato, hợp nhất chân, thiện mỹ, sánh ngang với thần linh. Có người lại bi quan như Schopenhauer: “Mọi sự thỏa mãn lầm tưởng là hạnh phúc thật ra đều là tiêu cực chứ không bao giờ là tích cực”. Giải pháp dung hòa nhưng không kém sâu sắc là quan niệm của Immanuel Kant: “hạnh phúc là khẩu hiệu đầu môi của mọi người, nhưng nó không bao giờ có mặt thật sự trong thế gian. Điều duy nhất con người có thể đạt được là sự xứng đáng để được hưởng hạnh phúc”. Hạnh phúc, theo nghĩa đó, được chuyển thành một lý tưởng để vươn tới như một chân trời bất tận, như một lẽ công bằng sẽ bù đắp cho những kẻ thiện tâm nhưng luôn gánh chịu bất hạnh, oan khiên nơi trần thế, chứ không phải hoa trái chín mọng luôn sẵn sàng mời đón con người. Hơn ai hết, Kant thấu hiểu sự hữu hạn của kiếp người, tuy nhiên, thưa ông, cũng chính vì sự hữu hạn trần tục ấy, họ cũng cần được hưởng ngay chút ít hoa trái trần gian cụ thể như Sysyphe vẫn có giây phút nghỉ ngơi, hít thở bên cạnh tảng đá của đời mình. Thế là bắt đầu có những ‘thống kê’ định lượng về hạnh phúc!

3. Khi hai quốc gia khác nhau lại đứng đầu trong hai bảng ‘thống kê’ về hạnh phúc trong cùng một thời điểm, ai cũng thấy ngay rằng một trong hai hoặc cả hai bảng là không ổn. Điều lạ lùng là hầu như dư luận thụ động tiếp nhận, rồi thông tin rình rang nếu thấy có lợi cho tên tuổi quốc gia mình, hơn là phân tích và phê phán nghiêm chỉnh. Trong Bản đồ thế giới về Hạnh phúc, mười nước đứng đầu chủ yếu là các nước Âu châu (chẳng hạn năm 2006, Đan mạch đứng đầu, tiếp theo là Thụy sĩ vá Áo). Ngược lại, trongChỉ số hạnh phúc hành tinh (HPI), tốp đầu là các nước nghèo, chậm phát triển (năm 2006, đứng đầu là đảo quốc Vanuatu, Việt nam đứng thứ 12), rồi năm 2009, đứng đầu là Costa Rica, và Việt nam được nâng lên hạng 5).Trong bảng thứ nhất (2006), Mỹ đứng hạng 23, Anh đứng hạng 41; trong bảng sau, cả hai bị đánh tụt xuống hạng 150 và 108!

Nhiều nhà bình luận nhận ra nguyên nhân chủ yếu của sự mâu thuẫn là ở các cách tiếp cận khác nhau và, từ đó, ở phương pháp thu thập và tổng hợp thông tin. Cách tiếp cận nào cũng bao hàm tính xu hướng và ít nhiều định kiến. Một bên xem trọng sự tiến bộ trong khoa học, công nghệ, chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Bên kia, nhân danh bảo vệ môi sinh, tất yếu có xu hướng giáng cấp các nước có mức tiêu thụ cao, và, vô tình hay cố ý, kiềm hãm sự phát triển và gây thêm ngộ nhận và ảo tưởng cho các nước nghèo. Về phương pháp, thật là khó và liệu có hợp lý không khi kết hợp hai yếu tố dị loại (yếu tố khách quan dễ định lượng như tuổi thọ và yếu tố chủ quan như cảm nghĩ cá nhân về sự hài lòng) thành một thước đo duy nhất như trong bảng chỉ số HPI. Điều này cho thấy: việc sắp hạng hạnh phúc là rất tương đối và không thật sự đáng tin cậy, đó là chưa nói đến tính trội đã đề cập ở trên. Một nhà bình luận nhận xét: hạnh phúc trong các bảng sắp hạng này là “hạnh phúc” của người sắp hạng hơn là của dân chúng các nước được sắp hạng!

Một nỗ lực đáng ghi nhận và ca ngợi khác là sáng kiến độc đáo từ năm 1972 của nước Bhutan nhỏ bé ẩn mình bên Hy mã lạp sơn nhằm đo lường chất lượng sống và sự tiến bộ xã hội mang nghĩa tổng thể và tinh thần nhiều hơn là chỉ số đơn thuần kinh tế và có tính lừa mị quen thuộc của GDP (tổng sản phẩm quốc nội), đó là: tổng hạnh phúc quốc gia (GNH). Mang đậm bản sắc và truyền thống tâm linh Bhutan lúc ban đầu, nhưng quan niệm này ngày mang tính liên-văn hóa và được tán đồng rộng rãi qua nhiều hội nghị quốc tế với sự cam kết không ngừng gia tăng của nhiều nước khác nhau. Dựa trên bốn trụ cột thoạt nhìn có vẻ định tính và khó đo lường: sự phát triển bền vững, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, bảo tồn môi trường tự nhiên và sau cùng, có nền quản trị quốc gia tốt đẹp, GNH ngày càng được các chuyên gia chi tiết hóa và định lượng hóa, xoay quanh bảy lĩnh vực:

sự hài lòng kinh tế (tiết kiệm, nợ, sức mua)
sự hài lòng môi trường (ô nhiễm, tiếng ồn, giao thông)
sự hài lòng về chỗ làm việc (nghề nghiệp, động lực, đạo đức, xung đột)
sức khỏe thể chất (bệnh nặng, béo phì)
sức khỏe tâm thần (dùng thuốc an thần, trầm uất, lạc quan, bi quan thông qua thái độ tích cực hay tiêu cực…)
sự hài lòng xã hội (bao gồm gia đình và thân thuộc: tình dục, phân biệt đối xử, tỉ lệ ly hôn, kiện tụng trong thân tộc, kiện tụng ngoài xã hội, tỉ lệ tội phạm, sự an toàn, sự tương trợ…)
sự hài lòng chính trị (chất lương dân chủ cơ sở, tự do cá nhân, tranh chấp với nước ngoài..)
(nhiều báo cáo chi tiết về bảy lĩnh vực nêu trên trong trường hợp Bhutan đã được phổ biến trên mạng).

Bàn về “Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia” trong một bài viết, GS Chu Hảo nhận định: “(…) thành tựu kinh tế mà chúng ta đạt được, tuy chưa phải đã nhiều và vững chắc, đã đi kèm theo sự xuống cấp văn hóa nghiêm trọng. Xuống cấp văn hóa không phải chỉ đơn giản là nói về những tiêu cực trong lĩnh vực văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp, mà là sự xuống cấp văn hóa chung, mang tính nền tảng phát triển của xã hội, một sự suy thoái đạo đức, tinh thần… Sự xuống cấp ấy biểu hiện trước hết ở chỗ khủng hoảng niềm tin của nhân dân vào nền quản trị quốc gia và nền giáo dục quốc dân; ở sự dối trá và đảo lộn giá trị trong mọi quan hệ ở mọi lĩnh vực; ở tình trạng tham nhũng tràn lan và gia tăng bạo lực.

Xuống cấp văn hóa không phải là cái giá tất yếu phải trả cho sự phát triển kinh tế, mà có lẽ do chúng ta đã chọn một mô thức phát triển sai. Trong bối cảnh của thế giới hiện đại, mô thức nào là thích hợp cho mỗi quốc gia, vẫn là một câu hỏi khó. Nhưng không chạy theo tăng trưởng GDP bằng bất cứ giá nào, mà chú trọng phát triển “Tổng Hạnh Phúc Quốc Gia” dựa trên sự bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống và môi trường sinh thái như Bhutan đã làm, có lẽ là một kinh nghiệm tốt cho chúng ta”.

4. Trở lại với Sysyphe. Có lẽ như với từ “độc lập” trong một thời gian khổ, có thể nói như thế chăng về từ “hạnh phúc”: hạnh phúc ai bán mà mua, ai cho mà lấy, ai thừa mà xin. Sysyphe đã “tỏ ra mạnh hơn tảng đá của đời chàng”. Sao giống quá với người thợ lặn lão thành ở đảo Lý sơn mở trừng mắt để thấy mình mạnh hơn con cá mập hung dữ.

Phúc cho những ai mưu cầu hạnh phúc trong bão giông, và, phải “tưởng tượng rằng họ hạnh phúc!”.


Đời phi lý, vậy có đáng sống không?

Mở đầu Huyền Thoại Sisyphe, Camus nói ngay:

“Chỉ có một vấn đề triết lý thực sự nghiêm chỉnh, đó là tự tử. Xét xem đời đáng sống hay không đáng sống, là trả lời cho câu hỏi cơ bản của triết học.” (trang 17, Folio Essais, 1998). Và tác giả đã trả lời câu hỏi này bằng biện chứng phân tâm đối tượng.

Sisyphe là một nhân vật huyền thoại Hy Lạp, được Homère coi như kẻ minh mẫn nhất và cẩn trọng nhất trong bọn nhân sinh. Nhưng lại có những ý kiến khác rất tiêu cực về Sisyphe. Và đó là lý do khiến các vị thần thánh đã đầy đọa Sisyphe xuống địa ngục, bắt phải triền miên lấy hết sức bình sinh lăn một hòn đá lớn từ chân núi lên trên đỉnh núi, nhìn nó rơi xuống. Rồi lại từ từ xuống núi, và cố gắng lăn nó trở lên đỉnh…

Sisyphe là biểu tượng của người phi lý: Hình ảnh Sisyphe không xa với hình ảnh một người thợ, một người lao động tay chân hay trí óc: suốt ngày làm một công việc, suốt đời làm một công việc, hoàn tất rồi, lại quay trở lại bắt đầu một công trình khác cũng y như trước. Thân phận con người nào cũng có một chút Sisyphe ở trong: sáng vác ô đi, tối vác ô về. Ðiều đáng chú ý nhất là lúc Sisyphe xuống núi, ý thức được những cố gắng mình vừa hoàn thành, ý thức được tính phi lý của đời mình mà còn có can đảm bắt đầu lại: Lúc đó Sisyphe lớn lao hơn định mệnh và ngoan cường hơn đá tảng: Ðó là giá trị, đó là hạnh phúc của con người. Camus kết luận: “Sự tranh đấu để đạt tới những đỉnh đủ để lấp đầy trái tim con người. Phải mường tượng là Sisyphe sung sướng.” (trang 168)

Tất cả biện chứng trong huyền thoại Sisyphe quay quanh vấn đề: Ðời phi lý, vậy có đáng sống không? Và kết luận lô-gích nhất trong sự khám phá tính chất phi lý phổ quát của cuộc đời, đó là tự tử. Tại sao Sisyphe không tự tử để chấm dứt thân phận nghiệt ngã của mình? Camus từ chối lô-gích tự tử. Bởi cuộc đời dù phi lý, dù vô nghĩa, không có nghĩa là đời không đáng sống. Ngược lại, trong cái vô nghĩa ấy, con người tồn tại, Sisyphe chấp nhận tính vô nghĩa của cuộc đời và tìm thấy hạnh phúc trong thân phận phi lý.

Lương thiện là việc không cần cố gắng

 Cha mẹ sinh con chỉ mong con lớn lên thành người lương thiện, bản thân trưởng thành chỉ mong sao giữ vững được phẩm chất, thành người lương thiện. Vậy làm thế nào để đạt được nguyện ước giữa cuộc đời nhiều sóng gió nhiễu nhương? Nghe lời Phật dạy làm người, ắt có thêm suy ngẫm.

  Phật giáo cho rằng, lương thiện cũng là một loại trí tuệ, hơn nữa còn là trí tuệ đỉnh cao bởi để thiện thì cần có sự hiểu biết, phân biệt tốt xấu đúng sai và kiềm chế được bản thân, không bị hoàn cảnh xung quanh làm ảnh hưởng. Vì thế, làm người khó nhất không phải là giàu có, thành công, nổi danh mà khó nhất là lương thiện.
 
Phật dạy làm người lương thiện, nhất định phải nhớ 3 điểm này:
 

1. Không tranh cãi với người khác


Phat day lam nguoi Luong thien khong can co gang
 
Trong Đạo Đức kinh của Lão Tử có nói: "Thiện giả bất biện, biện giả bất thiện", người thiện thì không tranh cãi, người tranh cãi thì không còn lương thiện nữa. Người tốt sẽ không nói lời gian dối, người nói lời gian dối thì không phải người tốt. Khi có sự việc bất đồng, người lương thiện không tranh giành đúng sai, người lương thiện biết đưa ra quan điểm, biết nhẫn nhịn và bỏ qua. Nhẫn nhịn là cảnh giới cao nhất của tu dưỡng.
 
Nhiều người cho rằng chúng ta càng nhân nhượng thì càng bị lấn át nhưng nếu lời mình nói là đúng, không cần cãi cũng hiển nhiên; nếu lời mình nói là sai, cãi thắng cũng có ích ợi gì. Người lương thiện chỉ dùng lời nói, hiểu biết của mình để chứng minh mình đúng, không tranh cãi với người khác. Cao hơn nữa là dùng hành động chứng minh, thông qua thực tiễn để làm rõ sự việc. 
 
Tranh cãi làm mất tu dưỡng, tạo khẩu nghiệp, trong lúc cãi vã có thể nảy sinh lòng sân hận, sự thù ghét, kết khẩu nghiệp, mất đi tính đúng đắn của lời nói. Người nói sai ta không hùa theo cái sai, người nói đúng ta phụ họa cái đúng. Đó mới là lẽ hiểu biết, thể hiện sự lương thiện trong con người.
 

2. Không dồn ép người khác

 
Phật dạy làm người quan trọng nhất là có “tâm”, tâm ấy không chỉ cho mình mà còn cho những người xung quanh. Người đã đi tới đường cùng, không nên dồn ép, người đã thấy được cái sai không nên vạch mặt, người đã nhận ra lỗi lầm không nên hạch sách. Cho người khác một con đường, một cơ hội là cách làm thiện lương nhất trên đời.
 
Đời người rồi ai cũng có cái khó của riêng mình, không cầu thoát khỏi bể khổ, chỉ mong giữa người với người có được sự cảm thông cần thiết. Lời nói hay chưa chắc đã đẹp, lời nói thẳng chưa chắc đã tốt, làm người quyết liệt tới cùng chưa hẳn là đúng đạo. 
 
Đạo xuất phát từ “tâm”, tâm phải hướng tới con người. Lời Phật dạy về chữ tâm - có tâm ắt hưởng phúc lành vì thế, đạo tốt nhất đẹp nhất cần lấy con người làm trung tâm, tốt cho người thì làm, không tốt cho người thì tránh. Cho nhau cơ hội thứ hai, cuộc đời không chỉ thiện hơn mà còn tình hơn, lương thiện và nhân văn, cảm thông và chí tình. 
 

3. Không tự hãm bản thân


Phat day lam nguoi luong thien
 
Lương thiện là một loại phúc khí mà con người sinh ra đã có trong mình, “nhân chi sơ tính bản thiện”. Bản chất con người là lương thiện, không cần cố gắng cũng lương thiện, vì thế đừng tự hãm sự thiện lương ấy của bản thân bằng những cầu danh, cầu lợi, cầu tiền, cầu tình. Xem thêm bài viết Triết lý "vô ngã" dẫn đường hạnh phúc của đạo Phật
 
Phật giáo hướng con người tới sự lương thiện, tức là giải thoát chúng sinh khỏi những ràng buộc khổ đau, trở về với bản ngã nguyên sơ, tốt đẹp buổi ban đầu. Học Phật không hẳn để làm người tốt hơn, học Phật là để tìm ra chính bản thân mình, tìm ra những giá trị chân – thiện – mĩ vốn có.
 
Thế nên Phật giáo mới chủ trương, trong mỗi người đều có Phật tính, tu Phật là để phát huy Phật tính đó một cách cao nhất. Trong mỗi người đều có thiện lương, tu dưỡng là để phát huy thiện lương một cách cao nhất. Đừng tự hãm bản thân trong vòng quay của tham, sân, si, của dục vọng và những toan tính, thiện bất cứ khi nào có thể, như bản năng, như điều bình thường nhất của cuộc sống.
 
Phật dạy làm người lương thiện là cách hóa giải những muộn phiền trong đời. Sống lương thiện là cách sống dễ nhất nhưng cũng là khó nhất, người lương thiện là người thiệt thòi nhất nhưng cũng hưởng nhiều phúc báo nhất. Vì thế, mỗi ngày hãy tự nhủ với mình, ta đi đường khó nhưng là đường đúng, ta sống lương thiện vì đó là bản chất của ta, không phải vì cố gắng. 

Vì sao Phật giáo không tin vào đấng sáng thế?

Phật giáo không tin vào đấng sáng thế và điều này đã được khẳng định khá rõ ràng vì Đức Phật tin rằng chỉ có chính con người mới kiểm soát cuộc sống của họ, tránh tâm lý phụ thuộc, buông xuôi.

Đối với thời điểm khủng hoảng hiện nay, con người sống với nhau đầy nghi hoặc và thiếu niềm tin vào nhau, đó là khi chúng ta quay lại với tín ngưỡng để mong được cứu rỗi. Có người tin vào một đấng thiêng liêng đặc biệt, và lời cầu nguyện của họ được đáp ứng. Nhưng những người theo Phật giáo lại khuyên răn hãy thôi xem Đức Phật là Thần linh cứu thế

Theo quan niệm nhà Phật thì là con người ai cũng như nhau, đều phải rèn luyện thân, tâm để có tấm lòng như Phật. Hơn nữa Phật cũng là người, chỉ là người đã tìm ra con đường giải thoát khỏi khổ nạn trước chúng ta mà thôi. Đặc biệt, theo lời Phật dạy thì không có ai là đấng sáng thế.

​​Xuyên qua nhiều thế kỷ, triết học Phật giáo đã trình bày các lập luận chi tiết bác bỏ học thuyết của một vị thần sáng thế. Nó sẽ được quan tâm để so sánh những việc này với những cách mà các triết gia phương Tây đã bác bỏ các thông tin chứng minh thần học về sự tồn tại của Đấng Sáng tạo.

Vì sao Phật giáo không tin vào đấng sáng thế


Quan điểm về Thượng Đế có cùng một nguồn gốc là sự sợ hãi. Đức Phật từng nói: "Vì sự sợ hãi bất an mà con người thần thánh hóa núi non, cây rừng, lăng miếu." (Pháp cú 188)
 
Đối mặt trước những thứ họ không thể làm gì như dịch bệnh, các hiện tượng thiên nhiên như sấm chớp, núi lửa luôn đe dọa mạng sống, con người chỉ còn biết nhờ dựa vào yếu tố tâm linh, chính con người đã tự tạo ra những tư tưởng thần thánh để tự an ủi bản thân trong hoàn cảnh khó khăn, có thể khơi dậy lòng can đảm khi họ lâm nguy. 

Đó là lý do Đức Phật dạy rằng ý niệm về Đấng thiêng liêng là do sự sợ hãi và thất vọng của con người mà có. Vì thế, chúng ta cần tìm cách buông bỏ những tham muốn để đón nhận mọi thứ một cách bình tĩnh thì sẽ sợ hãi sẽ tiêu tan. 

Ý niệm về đáng sáng thế không mang lại hạnh phúc thực sự cho con người, không phù hợp với giáo lý của Đức Phật vốn lấy con người làm đối tượng cao nhất trong việc giải quyết những nỗi khổ đau đang hiện hữu. 
 
Niềm tin về một đấng Sáng thế được đặt trong cùng thể loại như những quan điểm sai lầm về mặt đạo đức, đặt thân phận con người dưới sự an bài của đấng vô hình như là định mệnh tuyệt đối và không thể thay đổi.

Lý do thứ hai, trong khi các tôn giáo khác cố chứng tỏ rằng họ có Thượng Đế riêng nhưng Đức Phật không tin vào thần linh vì ở đó dường như không có một bằng chứng nào để xác tín cho ý tưởng ấy. Theo quan niệm của Phật giáo thì không nên phán xét, chỉ là đợi cho đến khi những chứng cứ đó được phơi bày.
 
Lý do thứ ba Phật giáo không tin vào đấng sáng thế không tin vào Thượng Đế, vì tin tưởng như thế không cần thiết. Có thể nhiều tôn giáo dựa vào hình ảnh đấng sáng thế để lý giải về nguồn gốc của vũ trụ. Một vài người tuyên bố rằng tin tưởng Thượng Đế là cần thiết để con người được cứu rỗi. Thực tế là có hàng triệu người không theo tôn giáo nào và có tư tưởng tự do, không đặt niềm tin nơi Thượng Đế mà vẫn có một cuộc sống hạnh phúc, có ý nghĩa và hữu ích.  

Đức Phật bằng trải nghiệm của chính mình mà nhìn thấy rằng mỗi chúng sanh đều có khả năng tịnh hóa tâm hồn, phát triển lòng từ bi và hoàn thiện sự hiểu biết. Ngài đã gạt bỏ sự chú ý về thiên đàng và nhắc nhở chúng ta nên tìm kiếm những giải pháp cho những vấn đề của chúng ta qua sự hiểu biết của chính mình. 
 
Phat giao khong tin vao dang sang the
 
 

Đức Phật đã nói gì về nguồn gốc của vũ trụ 

 
Mọi tôn giáo đều có những chuyện huyền bí để giải đáp cho nguồn gốc của vũ trụ thế nhưng trong thời đại vật lý, thiên văn học và địa chất học, những điều huyền bí như thế sẽ bị những cơ sở khoa học đẩy lui. Khoa học đã giải thích nguồn gốc của vũ trụ mà không theo ý niệm của Thượng Đế. 
 
Bên cạnh đó Đức Phật giải thích về nguồn gốc của vũ trụ khá tương đồng với quan điểm khoa học. Trong Kinh Trường A-Hàm, Đức Phật mô tả vũ trụ bị hoại diệt và rồi tái tiến hóa thành hình dạng hiện nay vô số triệu năm. Cuộc sống sơ khai hình thành từ những sinh vật có dạng đơn giảng đến dạng phức hợp trên mặt nước trải qua vô số triệu năm. Tất cả những tiến trình đó không có khởi đầu và kết thúc, và được vận hành theo những nguyên lý tự nhiên. 
 
Nền y học trước đây chưa phát triển, người ta không biết đâu là nguyên nhân gây ra bệnh và tin rằng Thần linh hay Thượng đế tạo ra bệnh tật để trừng phạt con người. Ngày nay chúng ta đã biết được lý do nào gây ra bệnh và khi đau bệnh chúng ta uống thuốc. 
 
lieu dang sang the la co thuc
 
 

Không tin vào đáng sáng thế thì Phật giáo tin tưởng điều gì?


Theo quan niệm Phật giáo thì chỉ tin vào con người. Mỗi con người là cao quý và quan trọng, rằng tất cả đều có một tiềm lực để thành một vị Phật - một con người toàn hảo. Đó là lý do con người sống ở cõi này để học cách vượt thoát được vô minh, những điều phi lý và thấy được mọi sự vật đúng như thật.
 
Vì tin tưởng vào một đấng Sáng thế Brahma mà hằng nghìn năm xã hội Ấn Độ đã duy trì sự phân chia bốn giai cấp, gây nên sự chia rẽ trầm trọng, mỗi giai cấp đều tùy thuộc vào ý chí của đấng Phạm thiên, cố định vị trí nơi thân của Phạm Thiên: giai cấp Bà La Môn (Brahman) được cho là con chính thống của Phạm thiên, sinh ra từ miệng Phạm thiên là chủng tánh tối thượng an hưởng cuộc đời sung sướng; giai cấp Sát Đế Lỵ.

- Giai cấp hoàng tộc (Kshastriya) sinh ra từ cánh tay Phạm thiên thay mặt cho Phạm thiên nắm giữ quyền hành thống trị 

- Giai cấp Vệ Xá (Vaisya) được cho là sinh ra từ bắp vế Phạm thiên, là giai cấp thương gia, nông phu và thợ thuyền phụ trách về kinh tế;

- Giai cấp Thủ Đà La (Sùdra) được cho là sinh ra từ gót chân của Phạm thiên được cho là hạng bần cùng hạ tiện, và chỉ làm nô lệ suốt đời cho các giai cấp trên.
  
Với sự tin tưởng hão huyền này đã gây nên sự cuồng tín, không khoan dung, nâng cao tự ngã; thông thường hay gây ra sự căm thù và những bạo lực khi người khác không có cùng niềm tin và quan điểm với mình.
 
Phật giáo được xem như là “chủ nghĩa vô thần” đối với những người có tư tưởng độc lập hay những nhà Hữu thần, chỉ vì Phật giáo không tin tưởng vào một đấng sáng tạo, toàn năng và vĩnh cửu, đúng hơn đó là sự sáng tạo từ ý tưởng con người. 
 
Mặc dù Phật giáo được xem như là một tôn giáo, tuy nhiên lý thuyết, triết học và sự thực hành của nó vượt ra ngoài phạm vi tôn giáo; Phật giáo đặt con người làm mục tiêu thể nghiệm sự khổ đau và sự giải thoát khổ đau ngay trong đời sống thay vì khái niệm hão huyền về một đấng Sáng thế toàn năng và vĩnh cửu.

Sáu cõi luân hồi và các cảnh giới Thánh hiền thanh tịnh đủ để chứng minh rằng quan điểm của Phật giáo không phải là sự hủy diệt hoàn toàn sau khi chết, mà là sự thay đổi không ngừng. Mỗi chúng sinh là một đấng sáng tạo muôn vẻ cho chính mình xuyên qua sự vô hạn của kiếp luân hồi.

Xem thêm: Hiểu về luân hồi không để đi tìm quá khứ mà để tìm ra lẽ thật của kiếp người
 
Theo Phat giao con nguoi tu kiem soat va tao ra tat ca
 

Nguồn gốc của con người


 
Theo đạo Phật con khỉ chỉ là một loài động vật cao cấp gần giống như con người. Nếu lấy con người làm tiêu chuẩn thì con khỉ chỉ là con khỉ mà thôi, chứ không thể tiến hoá làm con người được, chỉ có nghiệp lực của con khỉ, khi con khỉ chết nó sẽ tiếp tục luân hồi tái sanh làm người.
 
Đừng hiểu rằng con người chết là sẽ tiếp tục sanh làm con người nữa, hiểu như vậy là không đúng luật nhân quả.  loài người là khỉ vượn. Đó là cái hiểu sai của các nhà khoa học.
 
Muốn gây tạo giống con người thì phải có môi trường thích hợp với con người. Chính các duyên của con người, chứ chưa có các duyên của con người thì không thể nào gây tạo giống con người được, cho nên thuyết tiến hóa từ con vật thành con người thì mơ hồ, trừu tượng không chính xác. Bởi phần sắc uẩn của con người đầy đủ hơn loài động vật, nhất là sự cấu tạo bộ óc của con người về tế bào não phần sử dụng về tinh thần tưởng uẩn và thức uẩn thì loài khỉ vượn không thể có được.
 
Loài khỉ vượn không có trí tuệ thông minh như con người, nó thường sống theo bản năng tự nhiên thường bắt chước loài người hơn là sáng tạo phát minh như con người. 
 
Vì cấu trúc cơ cấu cơ thể của loài người, tuy có giống như loài khỉ vượn, nhưng hoàn toàn không giống hẳn, có những chỗ còn sai khác, vì thế con người không thể dùng sức mạnh để bảo vệ sự sống như loài mãnh thú, cũng không thể trốn chạy chuyền nhảy nhanh nhẹ như loài khỉ vượn hươu nai được.
 
Loài người bảo vệ sự sống bằng trí tuệ thông minh của mình, nên thường phát minh và sáng tạo đều do bộ óc, đó là điều cần thiết của loài người mà các loài động vật khác không thể có được, cho nên loài khỉ vượn là thủy tổ của loài người là mơ hồ trừu tượng.
 
Luật nhân quả đã xác định mọi tiêu chuẩn của mọi loài chúng sanh, nếu chúng sanh sống và tạo những tiêu chuẩn đó thì sẽ sanh làm loài vật đó, chứ không phải tiêu chuẩn đó mà làm loài vật khác được, có nghĩa là loài động vật đó sống thiện ở cấp độ thiện đó sẽ sanh làm loài chúng sanh đó, còn ngược lại sống ác ở cấp độ ác đó thì sẽ sanh làm loại chúng sanh đó.

Làm chủ sanh, già, bệnh, chết là làm chủ nhân quả. Làm chủ nhân quả là làm chủ mọi sự đau khổ và chấm dứt tái sanh luân hồi. Chấm dứt tái sanh luân hồi tức là giải thoát ra khỏi thân nghiệp.

Như lời Phật dạy:
 
"Không ai có thể cứu giúp được ta ngoại trừ chính ta.
Không ai có thể và không ai có thể làm được.
Chính ta phải bước vào con đường này.
Chư Phật chỉ là người dẫn đường."
 
(Kinh Pháp Cú 165)

Author Name

{picture#YOUR_PROFILE_PICTURE_URL} YOUR_PROFILE_DESCRIPTION {facebook#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {twitter#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {google#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {pinterest#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {youtube#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL} {instagram#YOUR_SOCIAL_PROFILE_URL}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.